Mấy suy nghĩ về lý luận, phê bình văn học các dân tộc thiểu số

Lâm Tiến

Những tác giả viết lý luận phê bình về văn học của các dân tộc thiểu số có thể đếm trên đầu ngón tay. Vừa viết nghiên cứu lý luận, phê bình vừa sáng tác có Nông Quốc Chấn, Inrasara; vừa nghiên cứa vừa sáng tác có Triều Ân, Vi Hồng; vừa sáng tác vừa viết giới thiệu phê bình có Lò Ngân Sủn, Hoàng Quảng Uyên, Mai Liễu, Dương Thuấn; chuyên viết nghiên cứu lý luận, phê bình có Lâm Tiến...

Điều dễ dàng nhận thấy là các tác giả người Kinh là những người có tài năng, có trình độ lý luận cao, giỏi ngoại ngữ và am hiểu nhiều phương trời văn học nên việc phê bình đánh giá văn học các dân tộc thiểu số khách quan, khoa học, đưa ra được những nhận định có sức thuyết phục. Giáo sư Phong Lê đã lý giải những vấn đề cơ bản của sự phát triển văn học các dân tộc thiểu số với những lý luận và kinh nghiệm nước ngoài như: đặc trưng dân tộc và cá tính sáng tạo, tính thời đại và bản sắc dân tộc, vấn đề sử dụng ngôn ngữ trong sáng tác... Ông viết: "Mỗi nhà văn phải là một bậc thầy về ngôn ngữ dân tộc mình. Nhưng vai trò ngôn ngữ dẫu quan trọng đến đâu, vẫn chưa phải là yếu tố quyết định duy nhất, hàng đầu. Bởi lẽ trên thế giới hôm nay, nếu có ngôn ngữ chỉ được dùng riêng cho một dân tộc... thì lại có ngôn ngữ được dùng cho nhiều dân tộc, nhiều khu vực như tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Tây Ban Nha, tiếng Đức, tiếng Bồ Đào Nha... nhưng không vì vậy mà văn học của mỗi dân tộc, mỗi nước lại mất đi bản sắc riêng của mình và lẫn vào nhau" ("Nhà văn các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại" Nxb Văn hoá dân tộc 1988. tr220-221).

Tô Hoài đã phát hiện ra sự khác nhau giữa nhà văn người Kinh và nhà văn người dân tộc thiểu số cùng viết về đề tài dân tộc và miền núi. Ông viết: "Cho tới nay, tôi có viết một số tác phẩm về đề tài miền núi... Tôi cho rằng dẫu tôi đã cố gắng nhưng những tác phẩm ấy cũng chỉ đạt tới đôi nét chấm phá của một bức ký hoạ thông qua cảm xúc mới mẻ của mình... Văn học các dân tộc thiểu số có thật sự phong phú, lớn mạnh phải do chính các nhà văn dân tộc ấy xây dựng, góp phần vào nền văn học đa dân tộc của chúng ta". ("Tạp chí văn học" số 9 - 1994, tr3).

Sự đóng góp của các nhà lý luận, phê bình văn học người Kinh đối với văn học các dân tộc thiểu số giữ một vai trò rất quan trọng, rất cơ bản cho việc xây dựng và phát triển mảng văn học này. Mặc dù có bài viết còn có những hạn chế nhất định, do chưa hiểu đầy đủ về các dân tộc thiểu số nói chung và văn học các dân tộc thiểu số nói riêng.

Vì không có được tiếng tiêu chuẩn, ngôn ngữ chung, nên việc dạy tiếng - chữ ở các trường phổ thông cấp I gặp nhiều khó khăn và có nơi không thực hiện được (như việc dạy tiếng - chữ Tày vào những năm 60 của thế kỷ XX). Do đó việc phổ biến tiếng dân tộc trên các phương tiện thông tin đại chúng, trên các giấy tờ cơ quan Nhà nước cũng gặp phải khó khăn không kém. Lò Ngân Sủn rất khách quan khi viết: "Trong thực tế các nhà thơ, nhà văn sáng tác bằng tiếng dân tộc càng ngày càng ít đi, cũng như chữ dân tộc ngày càng mai một dần, chẳng còn mấy ai sử dụng đến nữa" ("Hoa văn thổ cẩm" tập 3. Nxb Văn hoá dân tộc 2002, tr67). Nhiều nhà văn dân tộc đã sớm nhận ra điều này. Họ thấy sáng tác bằng tiếng Việt, tư duy bằng tiếng Việt thuận lợi hơn, có điều kiện hơn để biểu đạt tốt nhất những điều mình định nói. Mã A Lềnh viết: "Thơ, tôi tư duy bằng ngôn ngữ Việt. Không viết được bằng tiếng dân tộc mình..." (Thư viết cho L.T ngày 2-7-1992). Inrasara không ngần ngại khi nói: "Giữa tiếng Chăm và tiếng Việt với người Chăm hôm nay - đâu là ngôn ngữ thứ hai? Không nên tự gạt lòng mình. Câu trả lời sẽ là tiếng Chăm" ("Văn hoá - xã hội Chăm" Nxb Văn học 2003, tr274). Nghĩ có vẻ ngược đời, khi nhiều nhà văn dân tộc thiểu số không coi tiếng mẹ đẻ là ngôn ngữ thứ nhất. Nhưng tỉnh táo nhìn lại một cách khoa học và theo quy luật phát triển tất yếu của xã hội Việt Nam thì cả 54 dân tộc anh em đều coi tiếng Việt là ngôn ngữ chung, là tiếng phổ thông. Trong thực tế, tiếng Việt là ngôn ngữ chuẩn mực và hiện đại, là công cụ văn hoá tích cực, thoả mãn mọi yêu cầu đặt ra của sự phát triển xã hội, phát triển đất nước trước đây cũng như trong thời kỳ đổi mới hiện nay. Do đó, tiếng Việt không những tạo điều kiện để các nhà văn đi sâu hơn, đầy đủ hơn vào tâm hồn, cốt cách dân tộc mà còn mở rộng việc giao lưu văn học giữa các dân tộc trong nước và nước ngoài. Với ý nghĩa đó thì tiếng Việt không phải là ngôi nhà tạm trú như có người ngộ nhận.

Inrasara là người viết lý luận, phê bình nghiêm túc, táo bạo, sắc sảo, đưa ra được những vấn đề mang tính lý luận và thực tiễn của quá trình sáng tạo. Ông quan tâm nhiều đến tiếng nói và chữ viết và vấn đề bản sắc dân tộc trong văn học. Inrasara cho việc dùng tiếng Việt là một tất yếu khách quan: "Tôi nghĩ có lẽ sang đầu thế kỷ XXI; người Chăm sẽ chỉ dùng tiếng Việt để diễn tả suy nghĩ của mình. Dù đau xót, nhưng có thể đấy là một thực tế phải chấp nhận" (Sđd, tr209). Inrasara không bao giờ hài lòng với truyền thống của cha ông, ông muốn đập, phá nó ra để lọc lấy cái tinh chất, tìm trong đó những chất liệu, phương tiện và kinh nghiệm nghệ thuật cần thiết cho mục đích sáng tạo của mình, để rồi tái tạo lại trong một tác phẩm mới hiện đại hơn. Ông quan niệm sáng tạo là phải mở rộng tầm nhìn, tầm hiểu biết đến không cùng. Ông thấm nhuần những tư tưởng văn học phương Tây, Ấn Độ, Trung Quốc, ông vận dụng đủ các biện pháp nghệ thuật của "lục bát, đường luật sonet, haiku, tự do..." để bật ra cái riêng ông. Chính vì vậy những tác phẩm của ông không bao giờ lặp lại mình và lặp lại người khác. Ông đặt ra yêu cầu cao cho  những tác phẩm sau phải mới, phải khác hơn những tác phẩm trước về nội dung tư tưởng cũng như hình thức nghệ thuật. Dường như ở đây Inrasara là người thể hiện tương đối rõ một quy luật riêng của nghệ thuật. Đôi khi cái khái quát, phổ biến, rộng lớn của nhiều dân tộc, của thế giới xưa và nay. Cả cái biển văn hoá phong phú rộng lớn đó có khi lại đọng lại trong một hình thức riêng rất độc đáo của một dân tộc nhỏ bé. Như trường hợp Aitmatốp, Gamzatốp chẳng hạn. Xét về bản chất người nghệ sĩ là một hiện tượng dân tộc, nên sáng tác của anh ta không thể thoát ly truyền thống văn hoá của dân tộc mình, nhưng sáng tác của anh ta chỉ có giá trị và ý nghĩa khi nó chứa đựng những tư tưởng và những hình tượng gần gũi với những vấn đề gây xúc động cho cả xã hội chúng ta, cho toàn nhân loại, cho những người đương thời của tất cả các dân tộc. Đó chính là con đường thể hiện bản sắc dân tộc rõ nhất, hiện đại nhất. Nó đòi hỏi nhà văn thật sự có "tài năng và sự dấn thân hết mình cho nghệ thuật" (Inrasara - Sđd, tr.272).

Nhìn chung lý luận phê bình văn học các dân tộc thiểu số lâu nay vẫn chưa làm rõ được việc sử dụng tiếng dân tộc hay tiếng Việt trong sáng tác, về bản sắc dân tộc trong văn học. Đó là những vấn đề đáng bàn. Nhưng cần dứt điểm. Không nên để kéo dài mãi từ những năm 50 của thế kỷ XX cho tới giờ (đến cuộc hội nghị "Văn học dân tộc thiểu số và miền núi" tổ chức tại Sa Pa, Lào Cai vào cuối tháng 4 năm 2004 vẫn có nhiều nhà văn đề cập tới). Sở dĩ có tình trạng như vậy là do bản thân lý luận phê bình văn học các dân tộc thiểu số còn nhiều hạn chế về mặt lý luận, trao đổi, thiếu một phương pháp luận khoa học cần thiết khi viết về vấn đề này. Cho nên người viết cứ viết theo cảm nhận riêng của mình, không cần biết những người đi trước đã đề cập tới vấn đề này như thế nào để mà tranh luận lại bằng lý lẽ và cả thực tiễn để đi tới thống nhất về mặt nhận thức. Thứ hai, thực tiễn phát triển của văn học các dân tộc thiểu số sau này trong những tác phẩm của Y Phương, Lò Ngân Sủn, Irasara, Cao Duy Sơn... mới thể hiện rõ những luận điểm về ngôn ngữ và bản sắc dân tộc trong văn học.

Có thể nói, cho tới nay, lý luận phê bình văn học của các dân tộc thiểu số mới chỉ đề cập những vấn đề trong nội bộ của nền văn học đó. Nó chưa có điều kiện và khả năng để hoà nhập vào nền lý luận phê bình của cả nước.

Với thực trạng phê bình văn học các dân tộc thiểu số như trên, văn học dác dân tộc thiểu số rất cần những nhà lý luận, phê bình văn học người kinh tham gia nhiều hơn nữa vào việc giới thiệu phê bình văn học các dân tộc thiểu số trên tinh thần thẳng thắn, đoàn kết, dân chủ và bình đẳng. Cần có những bài đánh giá khái quát về thơ, văn các dân tộc thiểu số hơn là những bài viết chỉ nặng về giới thiệu phê bình từng tác giả, tác phẩm.

Các cơ quan hữu trách (trong đó có Hội đồng lý luận, phê bình văn học nghệ thuật Trung ương, Viện văn học...) cần tạo mọi điều kiện để những người viết lý luận phê bình văn học các dân tộc thiểu số nâng cao về nhận thức và trình độ lý luận; được trao đổi, gặp gỡ với những nhà lý luận phê bình văn học trong cả nước thông qua các hội nghị, hội thảo về văn học.

Viện văn học cần có bộ phận nghiên cứu về văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại. Cần có những cuộc hội thảo chuyên sâu với tinh thần dân chủ, khoa học về vấn đề ngôn ngữ trong sáng tác về bản sắc dân tộc trong văn học, về những tác giả, tác phẩm đạt giải cao để từ đơ xác định rõ phương hướng phát triển của văn học và định hướng cho các nhà văn dân tộc thiểu số trong quá trình sáng tạo.


(Văn nghệ)

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác