"Máu ở nơi tim ứa mấy lần"



(Toquoc)- Một thế giới như ngưng đọng trong Nghiệm của Nguyễn Khoa Linh. Cõi thơ anh mở sâu vào bến giác sau những trải nghiệm thấm thía về kiếp sống. Đó là một hệ quả hơn là những diễn trạng, cái cuối cùng sau tất cả những sàng lọc vừa nghiêm túc vừa đau đớn của một cá thể đã nếm đủ những ngọt đắng của đời. Nhưng, hình như, đó vẫn chỉ là vẻ bề ngoài của Nguyễn Khoa Linh.

Một nỗi đau đang tự ru vỗ, an ủi mình trong lời thảng thốt của Nguyễn Khoa Linh. Những bài thơ hai câu như bừng ngộ, đượm mầu thiền chẳng giúp xóa đi trong ta ám ảnh về một kẻ lâm nạn giữa đời. Thơ Nguyễn Khoa Linh là ánh mắt khép lại trong góc hang sâu tối, che đi những vằn máu hoang loạn phía đời nhiều bất trắc. Và, trái tim chẳng thể ngủ yên trong những giấc mơ vá víu, nhọc nhằn. Đọc thơ Nguyễn Khoa Linh từ “âm bản”, từ những cất giấu phía sau con chữ, chúng ta nhận ra bản thể thi tánh của anh: Tưởng phong trần trải rồi thôi/ Xót ê còn giấu ở nơi chiếu nằm (Trải), Nhân duyên gác mái trời chiều/ Trong tha thiết thẹn bao điều nói suông (Suông). Những bài thơ hai câu của Nguyễn Khoa Linh là các ngữ đoạn, vẫy gọi những ý hội cả về hai hướng “tương đồng” và “đối nghịch” (R.Jakovson). Mà hướng “đối nghịch” lại mới là chân tướng của Nguyễn Khoa Linh. Anh viết về hạnh ngộ bằng nỗi đau ly tan, hoài mong cố quận trong nỗi sầu biền biệt của kẻ tha hương (Đời người hoa lá mong manh/ Tả tơi vẫn đoái đất lành nẻo quê), lời hứa bên tiệc say (Hứa), cái bắt tay mà lòng chưa hẳn ai đã có ai… Thơ Nguyễn Khoa Linh có niềm vui chắt ra từ nỗi buồn, có ban mai òa vỡ từ bóng tối, giấc mơ tịnh độ trĩu nặng những bờ mê, bến lú (Trễ), những niềm tin đâu đó trong ánh ngày rạng rỡ không xóa được mối hoài nghi về sự tráo trở, lật lọng, cái suông tình của nhân gian (Ở ăn vẫn thấy mặt nhau/ Đến khi rút ván qua cầu mới hay)… Nghiệm của Nguyễn Khoa Linh hiện hữu về phía ấy, hoài mong trong niềm bất lực.

Bạch Cư Dị trong Thư gửi Nguyên Chẩn đã viết: Thi dã, căn tình, miêu ngôn, hoa thanh, thực nghĩa (Với thơ, tình là gốc, ngôn ngữ là lá, âm thanh là hoa, nghĩa là quả). Lê Quý Đôn trong Vân đài loại ngữ lại cho rằng làm thơ có ba việc chính: tình, cảnh, sự. Người đời sau còn có cách triển khai khác: ý, tình, hình, nhạc, lời. Như thế, tình là cái gốc của thơ. Tình nảy sinh thành ý. Ý là sự ngưng đọng giây phút thăng hoa của những tình cảm sâu sắc về nhân sinh và vũ trụ. Tình và ý là bản chất uyên nguyên của tứ. Tứ là hình dáng hợp nhất, khởi thủy của ý và tình. Cấu tứ là cách thức tổ chức và biểu hiện ý tình trong thơ. Điểm nổi trội của thơ hai câu chính là tứ. Tứ làm nên sức sống của thơ, đặc biệt là thơ hai câu. Do sự dồn nén về mặt dung thể mà thơ hai câu cần phải có một tứ thơ hàm chứa trữ lượng - chất sống, chất thơ một cách tối đa. Nghĩa là một tứ thơ sáng, lóe lên từ sự mặc khải về nhân sinh và vũ trụ trong khoảnh khắc xuất thần của thi sĩ. Phải nói rằng, hai câu của Nguyễn Khoa Linh khá dồi dào về tứ. Có khi đấy là ý niệm về cha và quả chín (Cha mất quả vườn chưa kịp chín/ Mai này con biết hái dâng ai), mẹ và gồng gánh cõi còm (Mẹ), quê hương và nẻo đường phiêu dạt (Quê hương cách trở rồi xa ngái/ Ta khát hình quê, khát bóng quê), hương lửa vợ chồng và nắng chiều, trăng lạnh (Đã từng chồng vợ ái ân/ Một phần chiếu lạnh mấy phần xót xa), giải thoát và buộc ràng, hình tướng và chân tướng,… Nghiệm chính là cách gọi khác của ý tình, biểu đạt một trạng thái tinh thần kết tinh từ sự “sống đời” (cách diễn đạt dân gian về “hiện hữu tại thế” - một chủ đề của Triết học hiện sinh) của Nguyễn Khoa Linh. Tứ thơ được gói lại trong hai câu, khi là lục bát, lúc năm chữ, bảy chữ, có khi chẳng hẳn là một thể nào định trước, bởi anh dụng tâm ở tình, ở ý (chúng tôi cho rằng đây cũng là chỗ Nguyễn Khoa Linh khác Lê Đạt mà lại gần với Hai kư của Nhật). Dụng tâm vào ý, tình nên dường như Nguyễn Khoa Linh chưa dành nhiều sự tu sức cho lời thơ. Trên phương diện mĩ học, điều đó là giảm đi khá nhiều sức lôi cuốn của thơ Nguyễn Khoa Linh. Các vấn đề về vần, nhịp, thể cách, tiêu đề của từng thi phẩm, cấu trúc của tập thơ - bài thơ có tứ của bài thơ, tập thơ cũng cần phải có tứ của tập thơ, điều đó làm nên tính chỉnh thể của từng bài và của cả tập… chắc hẳn sẽ cần phải được suy ngẫm và bàn luận nhiều hơn nữa. Điều đó rất cần trên hành trình thi ca của Nguyễn Khoa Linh.

Thơ Nguyễn Khoa Linh đã dựng nên chân dung một kẻ lâm nạn, rụt rè bước ra từ nơi nương náu. Đã nguôi đi trong mắt những vết hằn loang sợ hãi, đã lành trên thịt da những cắt cứa của đời, nhưng trái tim còn ứa máu. Dẫu có đôi bài ta đọc thấy thật ngơ ngác, nhưng tấm lòng, trái tim lại rất đỗi thật thà. Điều đó, với thơ, có lẽ lại là điều cốt tử nhất.

Nguyễn Thanh Tâm

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác