Lý luận văn học Việt Nam 25 năm đổi mới (1986-2011)

(Toquoc)- Hành trình đổi mới lý luận văn học nước nhà (1986-2011) đã tròn 25 năm trải qua những chặng thăng trầm khác nhau. Đây là một quãng thời gian ngắn đối với lịch sử văn học nói chung nhưng lại là một quãng thời gian đủ để có thể làm nên những chuyển biến có tính chất “bước ngoặt” của lý luận văn học nói riêng trên con đường hiện đại hóa.

Đổi mới chính là điểm khởi đầu của một thời kỳ lớn - thời kỳ hội nhập với thế giới hiện đại trong thế kỷ XXI. Đổi mới lý luận chính là hiện đại hóa lý luận trên tinh thần nhận thức lại, phát triển, bổ sung và hoàn thiện nhiều vấn đề cho phù hợp với thời đại. Từ tầm nhìn hiện đại, các nhà nghiên cứu xác định rõ lý luận văn học là một chuyên ngành riêng biệt nằm trong khoa học văn học - là khoa học của nghệ thuật ngôn từ, điều này khiến bản thân lý luận ngày càng ý thức sâu sắc vai trò của mình đối với sự phát triển của văn hóa nói chung và đời sống văn học nói riêng. Từ đó, lý luận từng bước nỗ lực đổi mới tư duy học thuật, từng bước tiến đến khẳng định những thành tựu quan trọng. So với trước, lý luận văn học ở Việt Nam thời kỳ đổi mới có nhiều phương diện trưởng thành vượt bậc, đây chính là giai đoạn đặt nền tảng cho sự phát triển của lý luận văn học dân tộc trong những giai đoạn tiếp theo ở thế kỷ XXI.

 

Có thể nói đã có nhiều nhân tố nội, ngoại sinh tác động đến việc đổi mới văn học nói chung và lý luận văn học nói riêng, tuy nhiên năm nguyên nhân cơ bản sau đã tác động trực tiếp, mạnh mẽ nhất đến đổi mới lý luận văn học: 1/ Khát vọng hướng về đổi mới và tâm thế đồng thuận của toàn xã hội - Sự vận động cùng chiều với thế giới hiện đại; 2/ Sự phát triển của sáng tác văn học; 3/ Đổi mới đường lối văn hóa, văn nghệ của Đảng Cộng sản Việt Nam; 4/ Những ảnh hưởng của phong trào đổi mới trong văn nghệ của Liên Xô và Trung Quốc; 5/ Đội ngũ các nhà nghiên cứu với tư duy khoa học tiến bộ. Được thúc đẩy phát triển bởi những nguyên nhân cơ bản trên cho nên có thể khẳng định: Lý luận văn học Việt Nam đã và đang tiếp tục đổi mới theo đúng dòng chảy của văn học nhân loại và dân tộc một cách khách quan, phù hợp với quy luật phát triển của lịch sử, văn hóa - xã hội.

 

Sau giai đoạn chuyển động có tính chất quá độ, mang nhiều yếu tố dự báo (1975-1985), lý luận văn học ở Việt Nam bắt đầu đổi mới rõ hơn từ sau năm 1986. Theo dõi tiến trình (tạm thời chia thời gian có tính ước lệ) qua hai giai đoạn: 1/ Từ 1986 đến 1995; 2/ Từ 1996 đến nay, có thể khái quát diện mạo lý luận với một số nét tiêu biểu sau đây:

Đề cao tinh thần biện giải, mạnh mẽ phê phán các giáo điều lý luận xơ cứng, phiến diện

Nhìn một cách bao quát, lý luận văn học đổi mới đã đề cao tinh thần biện giải, mạnh mẽ phê phán các giáo điều lý luận xơ cứng, phiến diện. Tinh thần này được thể hiện sôi nổi nhất ở khoảng mười năm đầu của thời kỳ đổi mới (1986-1995), và tất nhiên có nhiều vấn đề được giới lý luận đề xuất ở thời gian này tiếp tục được làm sáng tỏ ở giai đoạn tiếp theo.

Tinh thần biện giải, xới lật đó là sự tự phê phán, tự phản tỉnh đối với những mô thức hóa của lý luận văn học, không còn thích ứng với yêu cầu phát triển của sáng tác văn học nghệ thuật, định giá lại một số giá trị bị coi là nhất thời thậm chí là giá trị ảo, những phương pháp tư duy, phương pháp nghiên cứu đã từng được coi là khoa học, là tối ưu giờ bộc lộ những bất cập, thậm chí chính nó là nguyên nhân gây nên sự trì trệ của nền văn học. Tinh thần này cũng đồng thời thể hiện ở việc khôi phục, trả lại giá trị đích thực cho những hiện tượng văn học đã bị đánh giá không đúng với những phẩm chất vốn có của nó. Trên tinh thần phê phán khách quan khoa học cái cũ, lý luận đưa ra những đề xuất khoa học mới.

Bắt đầu từ mốc khởi điểm năm 1986 (sau Đại hội lần thứ VI của Đảng), trên văn đàn từ miền Nam ra đến miền Bắc lần lượt diễn ra nhiều cuộc thảo luận, tranh biện sôi nổi về các vấn đề lý luận văn học. Có thể nói, đường lối đổi mới và tư tưởng chỉ đạo của Đảng: “Nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói đúng sự thật” đã tạo nên một bầu không khí dân chủ thực sự trong tranh luận học thuật. Nhiều hội thảo đã thu hút, lôi cuốn sự chú ý tham gia không chỉ các văn nghệ sĩ, các nhà lý luận phê bình, các nhà giáo mà cả đông đảo bạn đọc trong nước. Tinh thần đổi mới văn học, đổi mới lý luận trở thành câu chuyện của cộng đồng - cộng đồng văn chương và cộng đồng xã hội.

Tinh thần biện giải, xới lật của lý luận văn học thời đổi mới thể hiện rõ nét ở bình diện ý thức hệ. Đó là việc nhìn nhận lại các vấn đề lý luận quen thuộc như tư tưởng văn nghệ macxit, lý luận về phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa.

Về tư tưởng văn nghệ macxit, phương châm là vừa kiên trì tư tưởng Marx - Lenin, vừa phải có những đối sách mới mẻ, linh hoạt để thích ứng với hoàn cảnh mới. Tư duy lý luận đổi mới đã coi lý luận văn nghệ macxit vừa như một thành tựu trí tuệ của nhân loại, vừa như là đối tượng để nghiên cứu, tiếp nhận, bổ sung và phát triển, nó hoàn toàn không phải là loại lý luận duy nhất hàm chứa chân lý bất biến của văn học nghệ thuật như nhiều năm trước đây chúng ta đã nghĩ. Đây không phải là vấn đề “xem nhẹ” hoặc “làm sai lệch”, “hạ bệ thần tượng” mà chính là sự tôn vinh, phát huy lý luận văn nghệ mácxit trong cái nhìn biện chứng, khoa học và đúng đắn nhất, là nhận thức quan trọng trong sự vận động đổi mới ý thức hệ của lý luận văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới.

Trong lý luận văn nghệ macxit, lý luận phản ánh có ý nghĩa hàng đầu để giải thích về nghệ thuật, chính vì thế phương diện này đã được giới lý luận đặc biệt quan tâm chú ý. Bên cạnh việc tranh luận, nhiều bài nghiên cứu đi sâu tìm hiểu thêm vấn đề lý luận phản ánh trong nghệ thuật của các nhà nghiên cứu được công bố: Văn học với hiện thực dưới ánh sáng phản ánh luận Marx-Lenin(1) của Phương Lựu; Về đặc trưng của phản ánh nghệ thuật trong mỹ học của Ch.Caudwell và G.Lukacs(2) của Trương Đăng Dung; Phương diện chủ quan của phản ánh và đặc trưng của văn nghệ(3) của Trần Đình Sử... Các nhà lý luận nhận thức phản ánh luận là cơ sở nền tảng chứ không phải là duy nhất. Bởi vì, văn học là một hình thái đặc thù của hoạt động sống của con người, vừa có cái chung với các hoạt động khác, vừa có tính riêng. Tính riêng của văn học nghệ thuật là cái mà các hình thái ý thức khác không thể thay thế. Nhưng: “Không nên tìm đặc trưng nghệ thuật bằng cách đối lập tuyệt đối nó với các hình thái ý thức xã hội khác, đối lập với khoa học. Đó là vì văn học, nghệ thuật có tính chất song trùng: vừa là hình thái ý thức xã hội đứng cùng dãy với pháp luật, chính trị, đạo đức, tôn giáo… lại vừa đứng cao hơn chúng. Đây là điều mà các nhà lý luận phi macxit cũng thừa nhận”(4). Từ đó, tư duy lý luận khẳng định phản ánh luận của Lenin vẫn mang những ý nghĩa to lớn nhưng đồng thời chỉ rõ nhược điểm của lý luận văn nghệ Việt Nam trong mấy chục năm qua là đã vận dụng tư tưởng của Lenin vào thực tiễn văn học quá máy móc, áp dụng phản ánh luận vào văn học một cách cứng nhắc không làm rõ những khâu trung gian. Và đây chính là một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến nhiều giới hạn đối với sự phát triển của nền văn học nghệ thuật nước nhà nói chung và lý luận văn học nói riêng.

Nhìn tổng thể lý luận văn học thế giới thế kỷ XX, các nhà nghiên cứu lý luận văn học ở Việt Nam thừa nhận lý luận mácxit dù có quan trọng, cơ bản như thế nào cũng chỉ là một trường phái, tự nó không thể thay thế toàn bộ lý luận, không thể giải quyết được tất cả các vấn đề đặt ra đối với lý luận văn học hiện đại. Cần phải coi lý luận văn học mácxit là một hệ thống mở, không gạt bỏ các thành quả lý luận văn học phong phú thuộc các trào lưu tư tưởng khác mà hấp thu, phát triển chúng để làm cho hệ thống lý luận nước nhà ngày càng toàn diện và sâu sắc hơn. Đây có thể coi là một trong những bước chuyển biến nhận thức quan trọng nhất của tư duy lý luận thời đổi mới, bởi thừa nhận nhiều nguồn lý luận văn học có giá trị khoa học ngang nhau, lý luận văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới đã tạo ra cho chính mình những cơ hội để đối thoại với lý luận hiện đại thế giới, thực sự mở ra một không gian mới cho tư duy về văn học nghệ thuật.

Bản chất của nghệ thuật là sáng tạo, mà sáng tạo thì phải đa dạng, chính vì thế không thể bắt ép và khuôn định người nghệ sĩ vào bất cứ một công thức có sẵn nào về phương pháp và phong cách nghệ thuật. Chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa với phương pháp sáng tác của nó trong một thời gian dài đã chi phối sâu sắc đời sống sáng tác cũng như lý luận phê bình văn học ở nước ta. Trong thời kỳ đổi mới, bên cạnh việc ghi nhận những thành tựu của nền văn học sáng tác theo phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa, giới lý luận văn học Việt Nam phát hiện: “Cái định nghĩa của nó không thể nào quán triệt được vào tất cả các loại hình và loại thể văn học nghệ thuật”(5), có nghĩa là: “Tham vọng tạo ra một phương pháp sáng tác tối ưu cho nhiều nền văn học khác nhau thực chất là một ảo tưởng”(6). Thực tiễn phát triển của sáng tác văn học thời kỳ đổi mới đã khiến các nhà nghiên cứu nhận ra sự bất ổn, vênh lệch giữa lý luận và thực tiễn. Từ những năm cuối thập kỷ 90 của thế kỷ XX trở đi, khái niệm phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa gần như không thấy xuất hiện trong đời sống sáng tác văn học, trong các văn kiện của Đảng về văn học nghệ thuật. Nhiều cuộc tranh biện, nhiều bài nghiên cứu phân tích về sự bất ổn bên trong cũng như khẳng định những hạt nhân khả thủ của nó được công bố trên văn đàn thời kỳ đổi mới. Lý luận đã nhận chân chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa, nó khó có thể tiếp tục được xem là một phương pháp sáng tác tối ưu, chiếm địa vị độc tôn. Điều đó cho thấy, việc nghiên cứu, tham khảo lý luận văn học Xô - viết ở Việt Nam thời kỳ này đã đạt được những chuyển biến đáng kể trong tư duy học thuật.

Ngoài các vấn đề chủ yếu nêu trên, từ việc tìm kiếm điểm tựa từ triết học và nhận thức luận macxit nói chung, lí luận văn học đổi mới còn quan tâm đến một số vấn đề khác như: vấn đề con người trong văn học, chức năng của văn học, phương pháp luận trong nghiên cứu văn học… Ý thức hệ của lý luận thay đổi tiến bộ, đã góp phần không nhỏ vào việc đánh giá các giá trị văn học văn học đương đại, soi chiếu vào hàng loạt các tác giả và tác phẩm bị coi là “có vấn đề” trong giai đoạn văn học trước, trả lại giá trị đích thực cho những tác giả, tác phẩm và trào lưu văn học mà quá khứ đã nhìn nhận không công bằng. Các cuộc hội thảo về văn học nghệ thuật được tổ chức, những bài viết của các nhà nghiên cứu, phê bình, sáng tác dưới ánh sáng của thời đại dân chủ đổi mới tư duy đã làm sống dậy nhiều tác phẩm văn chương thuộc giai đoạn 1930-1945 mà một thời đã bị quên lãng, chẳng hạn như thơ của Phong trào Thơ mới và văn của các tác giả Tự lực văn đoàn. Trước đây, khi xem xét đến những phong trào văn học này, các nhà nghiên cứu chủ yếu phê phán nội dung tư tưởng của chúng và chỉ nêu lên một số yếu tố tích cực về nghệ thuật thể hiện. Chúng luôn bị coi là loại văn học lảng tránh hiện thực, đề cao cái tôi cá nhân... thì nay nhiều giá trị nhân văn, nhân bản, giá trị tâm linh sâu sắc của các tác phẩm đã được “phục hưng”lại trong cái nhìn khách quan, khoa học hơn. Điều này chứng tỏ các nhà nghiên cứu đã có những điều chỉnh tư duy cho phù hợp với sự vận động của lịch sử xã hội.

Tuy nhiên, ở mười năm đầu đổi mới, sự đánh giá lại dù đã là phổ biến song vẫn mới dừng ở sự tự do, cởi mở trong tâm lí, chứ chưa phải là sự thay đổi về tiêu chuẩn giá trị, bởi lẽ giai đoạn này lý luận mới chỉ tập trung chỉ ra những hạn chế, tính không tưởng, tính vô hiệu quả, phi hiện thực của những khái niệm, những nguyên tắc lý luận được để cao một thời chứ chưa đưa ra được những khái niệm công cụ mới để vận dụng trong nghiên cứu, phê bình văn học. Điều này quả là không dễ dàng, nó cần tới thời gian và sự vận động mau lẹ, sáng tạo của lý luận văn học Việt Nam trong việc hướng tới chân trời rộng mở của lý luận văn học nhân loại ở thế kỷ XX.

Nhìn lại một chặng đường tuy ngắn ngủi, nhưng quãng thời gian từ 1986 đến 1995 là những năm tinh thần tự do trong ngôn luận được phát huy mạnh mẽ nhất, chấp nhận nhiều luồng suy nghĩ khác nhau thậm chí trái ngược nhau, chấp nhận nhiều phong cách biểu hiện của tư duy nghệ thuật. Ngót mười năm đầu, công cuộc đổi mới lý luận văn học diễn ra với không ít khó khăn, sóng gió, trắc trở, quá trình tự “lột xác” trải qua những thăng trầm khác nhau để tiến đến đánh dấu một bước chuyển quan trọng của tư duy lý luận văn học Việt Nam: Từ tâm thế luôn thụ động, thiếu linh hoạt, thiếu cái nhìn phê phán khách quan, phần lớn chịu ảnh hưởng, phụ thuộc vào lý luận văn học Xô - viết nay chuyển sang tâm thế chủ động tự phê phán và đề xuất sáng tạo những quan niệm lý luận mới có giá trị thực tiễn. Chính từ tâm thế mới này, lý luận văn học nước nhà tiếp tục từng bước, bền bỉ hướng đến những kết tinh mới ở hành trình phía trước.

 

Tiếp tục kế thừa di sản lý luận văn học dân tộc, mở rộng biên độ tiếp nhận những điểm khả thủ của lý luận văn học thế giới

Nghiên cứu di sản lý luận văn học dân tộc từ trung đại đến hiện đại

Một trong những biểu hiện đáng ghi nhận của phong trào đổi mới lý luận trên bình diện “nội sinh” là đã quan tâm nghiên cứu, phát huy di sản lý luận văn học dân tộc từ trung đại đến hết thế kỷ XX.

Thời trung đại ở nước ta, những quan niệm văn học xuất hiện lẻ tẻ trong các lời bạt, lời bình, lời tựa, tồn tại dưới dạng cổ Hán ngữ. Mặc dù không thành hệ thống nhưng đây cũng là di sản vô cùng quý báu. Để kế thừa, khai thác phần di sản này thì công việc sưu tầm, dịch thuật, chú thích là có ý nghĩa tiên quyết. Trước đổi mới đã có một số nhà nghiên cứu quan tâm đến vấn đề này: Quan niệm văn học của một số nhà nho Việt Nam của Nguyễn Đức Vân (Văn học số 12/1963), Từ trong di sản của nhiều tác giả (Nxb. Tác phẩm mới, Hà Nội, 1981), Về quan niệm văn chương cổ Việt Nam của Phương Lựu (Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 1985). Đây là những công trình đặt cơ sở cho công việc này được tiếp tục triển khai sâu rộng hơn sau 1986 trở đi. Từ sau đổi mới xuất hiện thêm các công trình Người xa bàn về văn chương của Đỗ Văn Hỷ sưu tầm (Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993), Lê Quý Đôn trên tiến trình ý thức văn học dân tộc của Đinh Thị Minh Hằng (Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1996), Thơ trong con mắt của người xưa chuyên luận của Phạm Quang Trung (Nxb. Hội Nhà văn, Hà Nội, 1999), Góp phần xác lập hệ thống quan niệm văn học trung đại Việt Nam của Phương Lựu (Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 1977), … Những công trình sưu tầm, nghiên cứu trên đã góp phần quan trọng xác lập hệ thống quan niệm trong văn học trung đại Việt Nam.

Song song với việc khai thác kế thừa quan niệm văn học thời trung đại, là việc sưu tầm, nghiên cứu thành tựu lý luận văn học thế kỷ XX. Theo các nhà nghiên cứu, nền lý luận văn học Việt Nam mãi đến thế kỷ XX mới thực sự hình thành và phát triển mạnh mẽ. Và đây chính là phần di sản trực tiếp nhất cho việc xây dựng nền lý luận văn học trong thế kỷ mới của chúng ta. Như vậy việc sưu tầm và nghiên cứu thành tựu lý luận văn học nước nhà thế kỷ XX cũng là một trong những nhiệm vụ cần thiết và bức bách của giai đoạn hội nhập này.

Theo thống kê của chúng tôi, kể từ năm 1995 đến nay đã có khoảng hơn chục công trình sưu tầm, biên soạn lý luận phê bình được công bố. Các nhà nghiên cứu tập trung vào mảng lý luận văn học trước và sau năm 1945: Tuyển tập Phê bình, Nghiên cứu văn học Việt Nam 1900-1945, (Nxb. Văn học, Hà Nội, 1998) do Nguyễn Ngọc Thiện chủ biên; Lan Khai - Tác phẩm nghiên cứu lý luận phê bình văn học do Trần Mạnh Tiến chủ biên, (Nxb. Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2003); Tranh luận văn nghệ thế kỷ XX, 2 tập, do Nguyễn Ngọc Thiện tuyển chọn (Nxb. Lao Động, Hà Nội, 2003); Phạm Quỳnh - Luận giải văn học và triết học do Trịnh Bá Đĩnh tuyển chọn (Nxb. Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2003); Bộ tùng thư: Văn học Việt Nam thế kỷ XX - Quyển Năm, tuyển chọn giới thiệu các tác gia, tác phẩm thuộc thể loại Lý luận- phê bình trong Văn học Việt Nam hiện đại kể từ đầu thế kỷ XX (Nxb. Văn học, ấn hành từ 2004 đến cuối 2010) do Nguyễn Ngọc Thiện chủ biên đã ra mắt đến tập XIV; Bộ tuyển Trương Tửu: phê bình văn học do Nguyễn Hữu Sơn và Trịnh Bá Đĩnh tuyển chọn (Nxb.Lao Động, Hà Nội, 2007); Bộ tư liệu Mười thế kỷ bàn luận về văn chương - Từ TK X đến nửa đầu thế kỷ XX, 3 tập (Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 2007) do các tác giả Phan Trọng Thưởng, Vũ Thanh, Trần Nho Thìn, Nguyễn Cừ biên soạn.

Điều đáng lưu ý ở việc sưu tầm là các nhà nghiên cứu không chỉ chú ý đến những tác giả đã được khẳng định trên văn đàn như Hải Triều, Đặng Thai Mai, Hoài Thanh... mà còn giới thiệu thêm nhiều tên tuổi và công trình có phần lạ lẫm và hầu như ít ai biết đến như Cao Văn Chánh, Hoàng Duy Từ, Trúc Hà, trân trọng những giá trị lý luận có thể còn rất sơ lược, giản đơn, nhưng nó đã được manh nha ở nước ta từ thời trước cách mạng Nghệ thuật với văn hóa của Lê Quang Lộc, Văn chương nữ giới của Nguyễn Đồng Khang, Vấn đề nữ lưu và văn học của Nguyễn Thị Kiêm. Qua các công trình sưu tầm, các nhà nghiên cứu lý luận thời đổi mới đã góp phần lưu giữ những thành tựu quan trọng của lý luận văn học dân tộc trong thế kỷ XX, đồng thời mang lại sự đánh giá công bằng cho hàng loạt các nhà nghiên cứu phê bình trước đây bị định kiến lâu dài do quan niệm hẹp hòi, ngộ nhận một thời như: Phạm Quỳnh, Phan Khôi, Lan Khai, Trương Tửu Nguyễn Bách Khoa... Ở mảng lý luận văn học sau 1945, công việc sưu tầm biên soạn tư liệu đi theo tinh thần chọn lọc các tác giả. Tuy vậy có thể thấy qua các bộ sách hội ngộ khá đầy đủ gương mặt của hàng trăm các tác giả đã và đang góp phần tham gia vào nghiên cứu lý luận phê bình văn học từ 1945 đến nay.

Việc sưu tầm, biên soạn tư liệu là công việc khoa học đòi hỏi một sự cẩn trọng, chu đáo và công phu. Mặc dù đến nay còn nhiều khoảng trống chưa thể lấp đầy nhưng lý luận văn học thời kỳ đổi mới đã đạt được những thành tựu nhất định ở mảng này, những bộ sách sưu tầm, biên soạn đã kịp thời bổ sung, phát triển nâng cao những thành tựu lý luận vốn có, góp phần trang bị cho người nghiên cứu những kiến thức không thể thiếu về lịch sử chuyên ngành lý luận văn học ở Việt Nam.

Bên cạnh việc sưu tầm tư liệu, vấn đề nghiên cứu chuyên sâu lý luận văn học dân tộc thế kỷ XX cũng được quan tâm chú ý. Có thể kể đến một số công trình có giá trị học thuật đã được công bố như sau: Tác gia nghiên cứu lý luận phê bình văn học 1945-1975 của Ban Lý luận Viện Văn học (Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1986); Nhìn lại nửa thế kỷ lý luận hiện thực xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam (1936-1986) của Phương Lựu (Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 1999); Lý luận phê bình văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX của Trần Mạnh Tiến (Nxb. Giáo dục Hà Nội, 2002); Lịch sử phê bình văn học Việt Nam giai đoạn 1900 - 1945 của Trần Thị Việt Trung (Nxb. Đại học Quốc gia, Hà Nội, 2002, tái bản năm 2010); Phê bình văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX của Nguyễn Thị Thanh Xuân (Nxb. Đại học Quốc gia, TP. Hồ Chí Minh, 2004); Lý luận phê bình văn học thế kỷ XX của Trần Đình Sử (Trong Văn học Việt Nam thế kỷ XX, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 2004) do Phan Cự Đệ chủ biên, Lược khảo 34 tác giả lý luận, phê bình văn học Việt Nam thế kỷ XX (Trong Lý luận, phê bình đời sống văn chương, Nxb. Hội nhà văn, Hà Nội, 2010) của Nguyễn Ngọc Thiện…

Lý luận văn học Việt Nam thế kỷ XX có ý nghĩa đặt nền móng cho việc xây dựng và phát triển nền lý luận hiện đại ở những giai đoạn tiếp theo. Những công trình nghiên cứu về di sản lý luận văn học dân tộc được ra mắt ở thời kỳ đổi mới đã góp phần phác họa diện mạo lý luận nước nhà một thế kỷ qua. Dưới sự thẩm định khoa học và khách quan của các nhà nghiên cứu, thành tựu và hạn chế của lý luận văn học giai đoạn này để lại những bài học kinh nghiệm sâu sắc cho việc hiện đại hóa lý luận văn học nước nhà trong những chặng đường kế tiếp.

 

Nghiên cứu giới thiệu, ứng dụng lý luận văn học nước ngoài

Vào những năm 1990, quan điểm đa dạng hóa, đa phương hóa đã tạo nên một sự phong phú trong nghiên cứu, dịch thuật, trong giới thiệu các công trình lý luận của nước ngoài vào Việt Nam. Sau nhiều năm nền lý luận văn học nước ta thiếu hụt sự liên thông tư tưởng học thuật với khoa học nhân văn thế giới do những hạn chế chủ quan và điều kiện lịch sử xã hội. Đến thời kỳ đổi mới song song với việc bảo tồn, nghiên cứu di sản lý luận văn học dân tộc, giới lý luận đã nhận thức sâu sắc nếu muốn hiện đại hóa lý luận thì vấn đề “tiếp thu rộng rãi những lý thuyết, quan điểm, phương pháp của các nền lý luận văn học hiện đại thế giới với tinh thần tỉnh táo và gạn lọc là một điều không thể xem nhẹ”(7). Trên tinh thần hội nhập, việc dịch thuật, giới thiệu và nghiên cứu những thành tựu lý luận văn học thế giới đã phát triển hơn nhiều so với mấy chục năm trước đó.

Về lý luận văn học cổ điển phương Đông, tuy chưa nhiều nhưng các nhà nghiên cứu, dịch thuật đã chú ý tới việc dịch và giới thiệu tư liệu gốc như Tùy viên thi thoại của Viên Mai do Nguyễn Đức Vân dịch (Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 1999); Văn tâm điêu long của Lưu Hiệp do Phan Ngọc dịch (Nxb. Văn học, Hà Nội, 1997). Xuất hiện một số nghiên cứu có tính chuyên luận: Tinh hoa lý luận cổ điển Trung Quốc của Phương Lựu (Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 1989), Thi pháp học cổ điển Ấn Độ của Phan Thu Hiền (Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2006)...

Thành tựu đặc biệt hơn cả là việc nghiên cứu, giới thiệu và dịch lý luận văn học hiện đại phương Tây. Mảng sách nghiên cứu có: Các vấn đề khoa học của văn học (1990) do Trương Đăng Dung chủ biên; Từ kí hiệu học đến thi pháp học (1992) của Hoàng Trinh (1992); Triết học và mỹ học phương Tây hiện đại (1992) của Nguyễn Hào Hải chủ biên; Tìm hiểu lý luận văn học phương Tây hiện đại (1995) và Mười trường phái lý luận văn học phương Tây đương đại (1998) của Phương Lựu; Từ văn bản đến tác phẩm văn học (1988) của Trương Đăng Dung; Nghiên cứu văn học, lý luận và ứng dụng (1988) của Nguyễn Văn Dân v.v... Bên cạnh các sách nghiên cứu là mảng sách dịch lý luận văn học với mục đích giới thiệu nguyên gốc các thành tựu lý luận văn học nước ngoài: Alain Robbe - Grillet và sự đổi mới tiểu thuyết (Lê Phong Tuyết giới thiệu và dịch, 1993); Phê bình văn học Pháp thế kỉ XX (Lộc Phương Thủy chủ biên, 1995); Phê bình, bình luận văn học London, Twain, Hemingway (Vũ Tiến Quỳnh, 1995); Octavio Paz: Thơ văn và tiểu luận (Nguyễn Trung Đức dịch, 1998); M.Kundera: Nghệ thuật tiểu thuyết (Nguyên Ngọc dịch, 1998), J. P.Sartre: Văn học là gì (Nguyên Ngọc dịch, 1999) v.v... Chỉ trong vài năm đầu thế kỉ XXI, số sách nghiên cứu giới thiệu các thành tựu lý luận văn học thế giới tăng mạnh: Văn học so sánh, lý luận và ứng dụng (Lưu Văn Bổng chủ biên, 2000), Lý luận phê bình văn học phương Tây thế kỉ XX (Phương Lựu, 2001); Chủ nghĩa cấu trúc và thuyết hiện sinh (Trần Thiện Đạo, 2001) v.v... Mảng sách biên soạn đã thực sự là các tư liệu bổ ích cho các nhà lý luận. Tác giả biên soạn Đỗ Lai Thúy đã cho xuất bản hàng loạt sách: Phân tâm học và văn học nghệ thuật (2000), Nghệ thuật như là thủ pháp (2000), Phân tâm học và văn hóa tâm linh (2002), Phân tâm học và tình yêu (2003), Sự đỏng đảnh của phương pháp (2004), Phân tâm học và tính cách dân tộc (2007); Nhiều tác giả: Văn học hậu hiện đại thế giới - Những vấn đề lý thuyết (2003), bên cạnh đó Lý luận phê bình văn học thế giới Thế kỷ XX (2 tập) do Lộc Phương Thủy chủ biên ra mắt bạn đọc năm 2007, v.v...; Đặc biệt sách dịch: M.Kundera: Tiểu luận (Nguyên Ngọc dịch, 2000); Văn học phi lí (Nguyễn Văn Dân giới thiệu và dịch cùng người khác, 2001); Chủ nghĩa cấu trúc và văn học (Trịnh Bá Đĩnh giới thiệu và dịch, 2002); Phê bình lý luận văn học Anh - Mỹ (Lê Huy Bắc chủ biên, 2002), Plin và Tzurganova: Các khái niệm và thuật ngữ của các trường phái nghiên cứu văn học ở Tây Âu - Hoa Kỳ thế kỉ XX (Đào Tuấn Ảnh, Trần Hồng Vân và Lại Nguyên Ân dịch, 2003); Văn học so sánh, nghiên cứu và dịch thuật (Khoa ngữ văn, và báo chí thành phố Hồ Chí Minh, 2003); J.M. Lotman: Cấu trúc văn bản nghệ thuật (2004) do Trần Ngọc Vương, Trịnh Bá Đĩnh, Nguyễn Thu Thủy dịch; Kate Hamburger: Logic học về các thể loại văn học (2004) do Trần Ngọc Vương và Vũ Hoàng Địch dịch; Chủ nghĩa Marx và phê bình văn học (2008) của Terry Eagleton do Lê Nguyên Long Dịch; Lý luận văn học (2009) của R.Wellek và A.Warren do Nguyễn Mạnh Cường dịch, Thi pháp của nền văn học Nga cổ (2010) của D.S.Likhachev do Phan Ngọc dịch v.v...

Như vậy, vượt qua giới hạn của chính mình, lý luận văn học thời kỳ đổi mới đã đi từ phong bế đến hội nhập, mạnh dạn phiên dịch, giới thiệu những lý thuyết văn học trước nay bị xem là vùng cấm. Một số tác giả triết học và mỹ học phương Tây như G.W.Hegel, I.Kant, M.Heidegger, J.P.Sartre, R.Barthes, M.Kundera... thậm chí có những tác giả trước đây bị lên án gay gắt như G.Lukacs (bị coi là đại diện tiêu biểu của chủ nghĩa xét lại) cũng được trân trọng giới thiệu lại như là những nhà lý luận với những quan điểm đáng được quan tâm, tham khảo. Song cũng cần thấy, sự hội nhập với thế giới của lý luận văn học đương đại Việt Nam thật ra không quay lưng lại với lý luận văn học Xô - viết. Nếu trước đây chúng ta chỉ thiên về những thành tựu có tính chất chính thống thì nay quan tâm đến cả những thành tựu lý luận vốn trước đây không được coi trọng, (thậm chí bị phê phán) bởi những công trình này được viết không hoàn toàn theo tinh thần mácxit, đến đổi mới, “cải tổ”, nó được nhìn nhận lại, trở thành di sản quý báu không những của Nga mà còn là của thế giới. Đó là hai công trình quan trọng của M.Bakhtin - một trong những nhà nghiên cứu lý luận văn học được coi là lớn nhất thế kỷ XX: Lý luận và thi pháp tiểu thuyết do Phạm Vĩnh Cư dịch (Trường viết văn Nguyễn Du, Hà Nội, 1992), Những vấn đề về thi pháp Dostoevsky do Trần Đình Sử, Lại Nguyên Ân, Vương Trí Nhàn dịch (Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 1993). Tư tưởng khoa học mới mẻ trong các công trình khoa học này đã tác động mạnh đến giới lý luận Việt Nam. Nhiều quan điểm của M.Bakhtin như coi thể loại là nhân vật chính của lịch sử văn học, cách nhìn về vai trò lễ hội Carnaval trong chuyên khảo về F.Rabelais, vấn đề “tính đa thanh” của tiểu thuyết, … đã được giới nghiên cứu nước ta hưởng ứng, vận dụng. Những tư tưởng lý luận của phương Tây (đặc biệt là của Âu - Mỹ) trở lại với Việt Nam trong tinh thần cầu thị học hỏi và đối thoại, đã nhen nhóm, kích thích những tìm tòi, sáng tạo mới.

Trong bối cảnh đất nước đổi mới, với tinh thần hội nhập, mở rộng biên độ giao lưu, mở rộng tầm nhìn, 25 năm qua lý luận văn học đương đại Việt Nam đã chủ động hướng về những chân trời khác nhau để tiếp thu học hỏi những kinh nghiệm học thuật của nhân loại với mục đích đổi mới và phát triển lý luận văn học dân tộc. Có thể khẳng định, sự hiện diện của tư tưởng, học thuật hiện đại nước ngoài nói chung và của lý luận văn học nước ngoài (chủ yếu là lý luận văn học phương Tây) nói riêng đã có vai trò tích cực không nhỏ đối với sự phát triển lý luận, nghiên cứu phê bình văn học ở Việt Nam. Cụ thể như sau:

Thứ nhất, trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc những tư tưởng lý luận văn học hiện đại của nhân loại, lý luận văn học Việt Nam đã bổ sung, thay đổi hệ thống quan niệm lý luận, từ đó giúp tư duy nghệ thuật, thẩm mỹ của người Việt Nam cũng được đổi mới và trở nên toàn diện, đa chiều hơn. Hệ thống các khái niệm lý luận mới được hình thành đồng thời cũng mở ra một không gian mới cho tư duy về văn học, có nhiều ảnh hưởng tích cực tới mọi phương diện của đời sống văn học như sáng tác, nghiên cứu phê bình, tiếp nhận tác phẩm. Đến nay hệ thống khái niệm lý luận văn học Việt Nam một mặt đã định hình được những khái niệm mới, mặt khác vẫn đang tiếp tục chuyển động theo hướng tiếp cận hệ thống khái niệm lý luận của thế giới, bổ sung thêm những khái niệm mới. So với hệ thống lý thuyết cũ nghèo nàn, tồn tại và ẩn chứa nhiều giới hạn, hệ thống lý thuyết mới có độ mở, linh hoạt và đặc biệt mang tính thực tiễn cao. Hệ thống lý thuyết này chính là nền tảng, là công cụ để giải quyết các vấn đề nghiên cứu phê bình văn học đang đặt ra hết sức cấp bách trong thời đại nền văn hóa và văn học nước nhà bước vào hội nhập toàn cầu.

Thứ hai, lý luận văn học hiện đại phương Tây đã tác động tới nghiên cứu phê bình văn học một cách rõ rệt. Các lý thuyết: ký hiệu học, thi pháp học, văn học so sánh, phân tâm học, chủ nghĩa cấu trúc, lý thuyết mỹ học tiếp nhận, lý thuyết mỹ học hiện tượng học, giải thích học, tự sự học, … được lần lượt giới thiệu vào Việt Nam đã bước đầu làm thay đổi nền phê bình Việt Nam. Bên cạnh phê bình báo chí, những hướng nghiên cứu phê bình mang tính học thuật như thi pháp học, phân tâm học, tự sự học, văn học so sánh đã và đang được khẳng định. Từ các hướng nghiên cứu này nhiều hiện tượng văn học của giai đoạn trước trải qua những số phận thăng trầm hoặc các hiện tượng sáng tác mới lạ của văn học đương đại đã được đánh giá thỏa đáng hơn. Mặc dù thành tựu chưa nhiều nhưng những thành công ban đầu có tính chất khai mở của những mũi nhọn nghiên cứu đã thực sự góp phần thúc đẩy hành trình hiện đại hóa nền phê bình. Tuy còn phải giải quyết nhiều vấn đề chưa vượt thoát giới hạn cũ nhưng nền phê bình văn học Việt Nam đã và đang chuyển động để thay đổi hệ hình, hướng đến một nền phê bình mới thực hiện đúng chức năng: Phê bình văn học không những chỉ giúp người đọc thưởng thức mà còn là sự khám phá các giá trị văn hóa được gửi gắm qua văn học, đem đến cho mọi người tri thức và sự sáng tạo mới. Trong tư duy mới của lý luận, phê bình văn học được coi là một loại hình hoạt động tinh thần nằm giữa khoa học và nghệ thuật. Các công trình nghiên cứu phê bình mang tính học thuật của các tác giả Việt Nam được công bố thời đổi mới đã phần nào chứng tỏ giới nghiên cứu phê bình văn học nước nhà đã ý thức được một cách sâu sắc tính khoa học và tính nghệ thuật của phê bình văn học - đó là dấu hiệu của sự xuất hiện nhà phê bình chuyên nghiệp. Phê bình văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới không hẳn là “yếu kém” và “lạc hậu” như một số ý kiến đánh giá mà dưới ánh sáng của hệ thống lý thuyết mới, nó đã và đang tiếp tục hành trình về đích: trở thành một bộ môn khoa học độc lập đi tìm ý nghĩa của văn bản văn học.

 

Công cuộc đổi mới lý luận từ 1986 đến nay không hề phủ nhận hoặc loại bỏ hoàn toàn những yếu tố đã có từ trước của lý luận văn học ở Việt Nam. Đây là một quá trình vận động tư duy bền bỉ, lao động khoa học nghiêm túc của nhiều thế hệ các nhà nghiên cứu để hướng đến những nhận thức lý luận mới, bổ sung, khái quát cái mới, chắt lọc giữ gìn những giá trị hợp lý của cái có trước mong muốn làm giàu thêm cho nền học thuật lý luận nước nhà vốn đang lạc hậu so với thế giới. Trong tiến trình vận động đổi mới bên cạnh thái độ phê phán đã có thái độ tự phê phán, bên cạnh thái độ phủ định là thái độ khẳng định, luôn cầu thị quan tâm học hỏi và vận dụng những tri thức mới. Mặc dù hệ thống lý luận văn học ở Việt Nam hiện nay còn nhiều lý thuyết chưa được đánh giá thống nhất về giá trị, sự tiếp thu lý luận văn học nước ngoài đã có lựa chọn nhưng chưa triệt để(8), nhưng rõ ràng trải qua 25 năm trăn trở, tìm tòi khám phá, lý luận văn học Việt Nam đã khác trước ở nhiều phương diện. Trên hành trình đổi mới, lý luận văn học Việt Nam bước đầu xác lập được một hệ hình mới và góp phần không nhỏ giải quyết những vấn đề mà thực tiễn sáng tác cũng như phê bình văn học đã đặt ra. Đây là giai đoạn lý luận văn học Việt Nam chuyển từ một nền lý luận khép kín, độc tôn, một chiều, ổn định sang một nền lý luận phát huy được tinh hoa lý luận dân tộc, cập nhật được với lý luận tiến bộ của nhân loại và mang tính ứng dụng thực tiễn.ngày càng trở nên đa dạng, phong phú, hướng đến tinh thần đối thoại và tranh biện với bên ngoài để xây dựng một nền lý luận phù hợp với đặc điểm văn học Việt Nam nói riêng, văn hóa Việt Nam nói chung đặt trong những bước tiến mới của lịch sử, văn hóa xã hội, thời đại.

Cao Hồng

--------------

(1) Phương Lựu, Lý luận phê bình văn học, Nxb Đà Nẵng, 2004, tr.32-48.

(2) Viện Văn học, Văn học và hiện thực, (Phong Lê chủ biên), Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1990, tr.175-199

(3)(4)Trần Đình Sử, Lý luận và phê bình văn học, Nxb Giáo dục Hà Nội, 2000, tr35-50, 48

(5) Phương Lựu, Vì một nền lý luận văn học dân tộc-hiện đại, Nxb Văn học, Hà Nội, 2009, tr.72.

(6)(7) Viện Văn học, Lý luận và phê bình văn học đổi mới và phát triển (Kỷ yếu hội thảo khoa học), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2005, tr.264-265, 120.

(8) Bàn về việc giới thiệu và dịch thuật lý luận văn học nước ngoài Lộc Phương Thủy cho rằng: “Hiện nay, việc giới thiệu nghiên cứu tư tưởng học thuật nước ngoài tuy đã có khởi sắc, đã có những gợi ý phần nào cho lý luận nước nhà, nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu (…) việc giới thiệu, dịch thuật các tác phẩm học thuật nước ngoài ở Việt Nam còn chưa được bao nhiêu”( Viện Văn học, Lý luận và phê bình văn học đổi mới và phát triển (Kỷ yếu hội thảo khoa học), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, tr. 638-639); Vấn đề tiếp thu, ứng dụng Trần Đình Sử nêu nhận xét: “Nhiều lí luận vừa mới nhập khẩu vẫn còn “nguyên đai nguyên kiện” như là “của người khác”, chưa được Việt hoá, còn để ngổn ngang như những thứ “phôi” chưa được cắt gọt, mài giũa để trở thành đồ dùng. Nhiều người nhìn chúng bằng con mắt xa lạ. Có những người “sính Tây”, chủ trương một thứ học Tây “thuần tuý”, như thứ hàng còn nguyên cả chữ “made in ...” như thế mới sang” (Trần Đình Sử, “Hai mươi năm lý luận, phê bình, nghiên cứu văn học- Thành tựu và suy ngẫm”, Văn nghệ , số 52/ 2006).

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác