Lê Va “Tha thẩn xanh”


(Toquoc)- Với thơ, dẫu đã được định nghĩa từ Đông sang Tây, từ cổ chí kim nhưng để tìm được một lí lẽ thuyết phục nhất về sứ mệnh của thi sĩ lại chẳng hề đơn giản. Với những người cẩm bút tử tế và quyết liệt, thơ trước hết là một sự đánh đổi bằng một hóa thân trọn vẹn của cảm xúc, của quan niệm nghệ thuật vào hình tượng. Đọc thơ hay của những văn tài, người ta cứ thấy sáng rõ những biểu tượng chẳng bị lẫn với ai, gặp những giọng điệu thơ không cùng tần số với xúc cảm thẩm mĩ nào khác. Chẳng thế mà “sóng” của Xuân Quỳnh, “biển” của Xuân Diệu, “Sông Mã” của Quang Dũng; rồi “hoa chanh” của Nguyễn Bính, “hoa sim” của Hữu Loan, “hoa phượng” của Thanh Tùng, “hoa sữa” của Nguyễn Phan Hách… cứ cùng nhau sáng rõ. Thế mới biết, muốn thành công, người làm thơ phải dám hoán đổi, “đặt cược” cảm hứng ấy vào những biểu tượng mà mình tâm đắc chứ không hèn nhát sao chép giống ai. Dám cất lên một giọng thơ tự đáy lòng chứ không nhạt nhòa không núp bóng đồng ca.

Ngẫu nhiên, điểm nhấn đó lại là điểm mạnh của thơ Lê Va. Trong khi thơ Việt truyền thống thiên về tu từ, luyến láy, “chữ nước”… để rồi hao hụt đến mất hồn khi được chuyển ngữ. Thơ trẻ hiện đại lại tự ám thị bằng những biểu tượng thiếu tính hệ thống, mất liên lạc trong liên văn bản thì anh chẳng mấy bận tâm. Tần ấy năm qua, suốt những tập thơ ấy, mãi cho đến hôm nay, vẫn là chuyện làm tươi, làm ấm, làm mặn, làm xanh, làm hồng… từng biểu tượng. Qua năm tháng, các bài thơ kết chùm, dồn nhóm, quần tụ trong bản thảo tập thơ Tha thẩn xanh này vẫn kiên định là thế. Vậy thì, hãy cứ nhẩn nha mà đọc những gì anh viết: Đồng làng ta hôm nay/ Biệt thự, chung cư chưa ở đã mốc/ Nụ cười mẹ/ Tươi rói cháu con (Nhớ mẹ); Ước đến một ngày/ Những trăm ngàn kia/ Thay bằng một ánh mắt/ Và bằng một nụ cười/ Mặn vào em. (Ước); Em/ Phù thủy hồn anh/ Long lanh/ Xanh mắt ngọc (Thơ); Trời đất bừng/ Em hửng/ Con lũ hồng/ Nghiêng sông (Giáng chiều)…

           

Những biểu tượng đa thanh

Một người ưa dùng biểu tượng như Lê Va nhưng lại chẳng để chúng bị lẫn, bị nhòe vào nhau bởi anh biết tạo ra những diện mạo rất riêng. Nhưng, độc đáo nhất phải là những biểu tượng có kết cấu đa thanh và giàu lớp lang. Khi thì anh “bắt” cả những người đọc chịu khó nhất cũng phải căng sức mà cảm nhận trong lựa chọn:

Giữa mịt mù đêm đen

Lóe tia chớp

Bày mâm cỗ tư duy

 

Lấp lóa bảng thực đơn

Đầy ngã ba, ngã bảy

Đặc sản

Một con đường

 

Chớp trong ánh chớp

Chọn lấy con đường

Hạt giống trong đầu

Đi vào mùa gieo hạt

Cần mẫn

Mùa

Bội thu.

Viết như thế về ánh chớp trong đêm lóe sáng cảnh vật chẳng phải là mới sao? Chỉ riêng anh buộc người đọc vứt bỏ cảm giác mòn sáo, trôi trượt “tự động hóa” của những chữ cũ bằng những “khúc mắc” tâm hồn mới mẻ ấy đã là một thành công. Chúng ta, ai mà chẳng từng lóe lên trong đầu những dự định, chớp lấy những cơ hội nhanh như tia chớp những lại ít khi vượt qua thói quen mà lề mề trong tiết tấu của tư duy thơ. Ở một trường hợp khác lại là sự đan cài vừa độc đáo, vừa đa thanh, bài Bài thơ dấu hỏi, có đoạn viết:

Mỗi người

Chỉ được cầm tinh một con vật thôi

Nhưng từ khi cất tiếng khóc chào đời

Đến khi nhắm mắt xuôi tay

Lại chọn vai

Lại đi qua

Phận đời biết bao lần mười hai con vật

Mỗi con vật

Chỉ sống một lần đời nó

Con người

Phải sống nhiều lần đời những con vật

Kể cả khi trút hơi thở cuối cùng

Phát tang

Nhập quan

Di quan

Chôn cất…

Kể cả động chạm mồ mả sau này

Cũng lại chọn thời khắc những con vật ấy

Mới đọc, ta tưởng như đó chỉ là một phát hiện nho nhỏ, lí thú của cánh nhà văn nhàn tản. Nhưng đọc kĩ, giật mình mới thấy cách nói có vẻ rất “bâng quơ” ấy của Lê Va động đến nhiều chuyện. Đời người kết chuỗi bằng 12 con giáp, lúc sống vinh, nhục; lúc thác mát mẻ hay thế lương cũng phải lụy vào tâm tính thời khắc, vận số của chúng. Mười hai con vật như 12 khúc sống mà con người ta chỉ hay từng lúc. Như 12 hệ lụy, 12 nốt thăng, trầm, 12 cửa ải, 12 số kiếp… cứ từ câu thơ anh mả nảy ra trong đầu người đọc. Ấy vậy mà, anh kết bài mới thật bất ngờ:

Có phải vì thế

Mà đa số chúng ta

Phần con đang lấn át phần người?

(Bài thơ dấu hỏi)

           

Giọng điệu tụng ca thế sự

Vậy thì thơ Lê Va phải có một giọng điệu như thế nào? Với một người làm thơ, giọng điệu đồng nghĩa với sự sinh tồn của sáng tác. Nói cách khác, có giọng mới thực đáng gọi là thơ. Thơ anh không phải suồng sã, mỉa mai dù là khi nói về cái kém cỏi của con người. Cũng đâu phải giọng chua chát đến bi lụy hay cao ngạo đến kiêu bạt. Đọc tập Tha thẩn xanh này và điểm lại các sáng tác trước đây của tác giả, phải gọi là giọng tụng ca chăng?

Lâu nay, người ta nhắc đến giọng điệu tụng ca của những Tố Hữu, Chế Lan Viên (sau cách mạng tháng Tám), Chính Hữu, Vũ Cao… Nhưng đó là chất giọng tụng ca thời sự, hướng đến những thời điểm, sự kiện lịch sử mang khuynh hướng sử thi. Bước sang thời bình, giọng điệu ấy hoặc không còn là chủ lưu (bởi hiện thực trung tâm đời sống đã thay đổi) hoặc nhường cho các chất giọng khác bởi không tìm thấy hướng đi riêng.

Ở những sáng tác của Lê Va, giọng tụng ca thời sự của một thời kết hợp với suồng sã thế sự tạo thành một chất giọng lạ: giọng điệu tụng ca thế sự. Chẳng thế mà từ cách anh nói về cái cao cả trong đời sống cũng bình dị, gần gũi chứ không “lên gân” mà vẫn tạo được khí phách. Có khi là ba tầng khăn tang bi ai nặng nề hóa thân thành mây trắng an nhiên mà kì vĩ: Mẹ ba lần đò/ Ba lần cưới hỏi/ Ban chồng khăn tang/ Ba vầng tang liệt sỹ/ Giờ đầu mẹ như mây/ Chồng ba chồng tang trắng. (Họ mẹ). Có khi là sự sót sa trước sợi bạc đang mài mòn tuổi xuân của vợ. Vừa mới ngỡ ngàng là thế: Rồi một Tết Nguyên đán/ Sáng mồng Ba hóa vàng/ Sừng sờ dăm sợi bạc (Thế rồi). Nhưng phút chốc lại bừng lên hào hứng bởi sự trân trọng, nâng niu sự mất mát ấy: Lấp lánh trước thềm xuân/ Rợp cả trời mây trắng. (Thế rồi). Đọc thêm những bài khác, ta cũng bắt gặp giọng điệu ấy tuy với nhiều sắc điệu khác nhau: Có lúc thế sự ấy là trực diện tụng ca vẻ “tinh sương” trong gian khó: Con nhớ củ khoai dây mùa giáp hạt/ Dưới gầm giường nhà ta/ Mọc lên cái mầm trắng gầy như giá đỗ/ Mẹ chờ bố con trong bom rơi đạn nổ/ Tinh sương. (Nhớ mẹ). Lúc lại biến tướng trong sự đối sánh, nhường suy cảm cho người đọc, buộc độc giả phải tự bộc lộ chính kiến của mình:

Tiếng ong

Vo ve

Nhàm tai chủ vườn cây, vườn hoa

Vô cảm

Tiếng ong

Bản sonata bầu trời

Cất lên và lan tỏa

Từ những người di trú

Chăn ong.

(Sonata tiếng ong)

Tha thẩn xanh của Lê Va là cõi thơ với bốn chục bài thơ đa dạng về biên độ, hình thức câu thơ. Nhưng, cùng hội ở một quan niệm nghệ thuật sáng rõ, một bút lực vẫn đang xanh sức vóc và tràn đầy nội lực.

Lâm Việt

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác