Lật những rêu phong trên di sản Huế



(Toquoc)- Di sản văn hóa Huế được định dạng một cách rõ ràng nhất từ một triều đại tồn tại đến 143 năm trong lịch sử Việt Nam. Khai thác tiềm năng đồng nghĩa với việc nhận diện giá trị của di sản. Nguyễn Phước Hải Trung là một trong những người đảm trách công việc này qua nhiều công trình nghiên cứu tâm huyết.

Huế xưa tìm lại(*), với Nguyễn Phước Hải Trung, trước hết là tìm lại những bài viết “lưu lạc” của mình trên các báo và tạp chí, để có dịp ngẫm về những giá trị tinh thần Huế xưa. Tập sách dày song không có bài dài; tác giả nén vấn đề của mỗi bài trong khoảng mươi trang sách, khỏe khoắn về câu chữ, súc tích về bố cục, phong phú và mới mẻ về dẫn chứng. “Đoản khúc chưa có tựa đề về tinh thần tự tôn dân tộc” cho ta biết được tinh thần này có nền tảng từ trong lịch sử qua 144 niên hiệu các hoàng đế trong lịch sử Việt Nam. Tinh thần ấy được tô đậm và hiện hữu trong lịch sử thời Trung đại với đỉnh cao là những chiếc ấn rồng năm móng của triều Nguyễn. Bài viết nêu lại một câu chuyện sâu sắc: “Năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh phát động Tuần Lễ Vàng (từ ngày 04.9.1945) nhằm khuyến khích người dân đóng góp ngân sách quốc gia để tháo gỡ sự khó khăn tài chính của đất nước. Bấy giờ ông Nguyễn Lân - là một trong những người của ban điều hành Tuần Lễ Vàng - đã đưa ý kiến của nhiều người trong ban điều hành là nên đưa các chiếc ấn và các hiện vật bằng vàng này để nấu chảy thành ngân lượng bổ sung vào ngân khố quốc gia để thỉnh thị ý kiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bác Hồ đã dứt khoát và phân tích rằng: Nấu chảy các chiếc ấn và các cổ vật bằng vàng này là điều không thể. Vì đây là bằng chứng vật chất còn lại để thế hệ mai sau biết về văn hiến nước nhà, để con cháu còn có bằng chứng để tự hào với các nước”.

Lật những rêu phong trên di sản Huế - ảnh 1

Đọc Huế xưa tìm lại, mới thêm tự hào khi ngay vào năm 1803 ở Huế đã có “đại học quốc gia” với danh xưng Quốc Học Đường chuyên lo việc “tác thành nhân tài” “để nhà nước dùng”. Qua bài khảo cứu “Một số chỉ dụ của Hoàng đế Tự Đức về thưởng công & phạt tội” mà ta biết thêm về thực trạng quan dùng “pháp luật làm gông cùm, lấy dân đen làm cá thịt, quan coi dân như kẻ thù, dân sợ quan như sợ hổ, ngày đục tháng khoét dần của dân, mưu tính cho đầy túi riêng, lại thêm những việc sách nhiễu ngoại lệ không thể kể hết được”. Đó là vấn đề nan giải của nhà nước phong kiến mà soi vào xã hội hiện đại, vẫn là… vấn nạn nhức nhối! Thế nên, người lãnh đạo và nhân viên bây giờ cần đọc lại câu dụ này của Hoàng đế Minh Mạng: “Vua tôi phải như cha con, việc nước cũng phải giống như việc nhà, không nên có mẩy may nào không thành thực”. Thế mới biết nhà Nguyễn thời buổi đầu, đã cực kỳ chú trọng nhân cách quan lại, để không phí mồ hôi, nước mắt của dân. Nhân đây cũng nên xem đến “Chính sách của nhà Nguyễn đối với những người thi đỗ Tiến sĩ”. Nếu không thực tài, không đặc biệt quý hiếm, tiến sĩ thời ấy sẽ không được nhà nước ban cho “2 phu mang cờ biển, 2 phu gánh võng, 1 phu khuân đồ đạc” vinh quy bái tổ làm rạng rỡ cả dòng họ tổ tông. Loáng thoáng gần đây có ý kiến muốn khắc tên tiến sĩ (thời hiện đại) lên bia đặt tại Quốc Tử Giám, thật sự là một dự án khổng lồ và quá tốn kém. Nhận định sau đây của tác giả thật thấu lý: “293 vị tiến sĩ triều Nguyễn dù ở khuynh hướng chính trị nào thì tri thức của họ vẫn không thể bị khỏa lấp trong bụi thời gian”.

Tôi thật sự bất ngờ bởi trong bài viết công bố giữa năm 2010, Nguyễn Phước Hải Trung đã đưa ra đầy đủ chứng cớ nhằm tường giải thuyết phục cây mai vàng “toát lên vẻ đẹp uyên nguyên” trong câu thơ Nhất sinh đê thủ bái mai hoa của Chu thần họ Cao hoàn toàn là một sự nhầm lẫn - sự nhầm lẫn về nhận thức cây mai, hoa mai trong văn học trung đại của người đời sau. Đây là bài viết mang tính văn học sử rất cao. Là một thạc sĩ ngôn ngữ chuyên về chữ Hán, nên trong sách, bên cạnh những câu chữ phiên âm, tác giả còn dẫn thêm phần chữ Hán để tăng mức độ chính xác, tránh hiểu nhầm, và tất nhiên đây cũng là một điều kiện cần của giới nghiên cứu sử học. “Chuyện công chúa lấy chồng” gieo vào lòng người đọc chút tiếc nuối mơ hồ trước những “cành vàng lá ngọc” gửi phận khi lộc vừa mới nhú. Có một chi tiết khá vui liên quan đến chữ Hán, lúc đọc khó ai không nhăn trán: “Nếu như trong dân gian, các nữ nhi đi lấy chồng gọi là xuất giá thì trong chốn cung đình, công chúa lấy chồng được gọi là hạ giá”. Ai chưa hiểu, xin hãy đọc tiếp…  

“Nhã nhạc trong thơ” cũng là một tìm tòi công phu của tác giả đối với di sản Huế. Tham cứu 191 bài thơ trên điện Thái Hòa, Nguyễn Phước Hải Trung lọc ra được 17 bài thơ đề cập đến Lễ nhạc. Có những đoạn bình luận của tác giả cho thấy người viết tỏ ra có những kiến thức nhất định về âm nhạc truyền thống: “Những âm thanh phát sinh từ các cao độ của các loại nhạc cụ cũng được lắng trong từng câu, từng chữ, có thể lắng nghe được trong thơ cả tiếng sinh tiền trong bộ gõ của tiểu nhạc, tiếng tơ của đàn tam, đàn nhị...”.

Một việc ý nghĩa khác là tìm lại “Tết xưa trong Hoàng cung Huế”. Từ sự kiện “ngày mồng một tháng Chạp, triều đình sẽ tổ chức lễ phát lịch gọi là Ban Sóc tại Ngọ Môn cho Kinh đô”, đến lễ Tiến xuân ngưudiễn qua một vài nơi trong Hoàng Thành và kết thúc bằng việc quan phủ Thừa Thiên đưa trâu (đất) ra đánh 3 roi tượng trưng cho sự khuyết cày”, “biểu hiện ước mơ về một đời sống vật chất đầy đủ trong một năm mới”. Việc tác giả góp phần quan trọng trong chương trình Đêm Hoàng Cung lộng lẫy, bí ẩn và cuốn hút vào mỗi dịp Festival cũng là nhờ sự tìm tòi khảo cứu cẩn trọng từ thực tế Hoàng cung xưa. “Huế là vùng đất của thi ca, từ trong lịch sử đến hiện tại, thơ ca có một sức sống thẩm mỹ riêng của nó. Âm ỉ, lặng thầm, để một lúc nào đó, tự nhiên thức dậy cùng năm tháng” (bài “Thả thơ ở Kinh đô xưa và thử thơ phục dựng hiện nay”). Một số đêm thơ Hoàng Cung do Hải Trung viết kịch bản và dàn dựng đã tạo hiệu ứng tốt trong giới văn nghệ sĩ và khách tham quan.

Nguyễn Phước Hải Trung là kẻ sáng tạo thơ, yêu thơ nên dẫu là một cuốn khảo cứu lịch sử, nó vẫn chất chứa nhiều “giá trị văn chương”. Điều này được thể hiện qua các bài viết như Nhã nhạc & dấu ấn quan thơ, Những mẩu chuyện thi ca, Thơ chữ Hán trên di tích Huế, một số suy nghĩ, Ghi chú về cảm hứng sông Hương trong thơ trung đại v.v. Phần lớn thơ được dẫn ra để phân tích là của các vua. Để thấy hiếm triều đại nào trên thế giới, số lượng vua là thi sĩ lại nhiều đến vậy. Thơ của các vua Nguyễn có bề dày văn hóa. Thơ “tức cảnh sinh tình”, thơ “trọng nông”, thơ phát khởi trong những chuyến dã ngoại, thăm thú thể hiện rõ điều này. Nhân chuyến đi săn ở rừng Đông Lâm, vua Thiệu Trị dừng lại trước dòng sông Lợi Nông tức cảnh: “Nước rút lau tươi tẩy cỏ sa/ Sông thôn cây rợp ánh dương tà/ Trong rừng ẩn hiện, chim về tụ…”. Ông vua thi sĩ này cũng làm đến 24 bài thơ vịnh tiết trời trong năm 1844 và cho in lên lịch mừng xuân... Đến như “ngẫm sự đời” cũng được một vị vua gửi gắm vào thơ. Hai câu sau man mác lời giáo huấn của kẻ sĩ, của bậc Nho gia tóc bạc bên tuần trà chiều muộn, hơn thế nó còn mang nặng tính “nhân - quả” Phật giáo: “Tranh giành trước mắt mây tan tác/ Đày đọa sau thân núi nặng nề”.

Chỉ ra những giá trị văn chương đích thực trong thơ của bậc đế vương, chính là “nốt son” trong Huế xưa tìm lại. Đó cũng là góc nhìn đẫm tính nhân văn về cuộc đời và sự nghiệp các vua Nguyễn, nhờ đó góp phần đánh giá sát thực hơn về văn hóa Huế. Và, nếu đọc thêm một số công trình khác nữa như 700 thơ Huế, Chơi chữ Hán Nôm, Luận văn Thạc sĩ Thơ trên điện Thái Hòa(**), sẽ không quá khi nói rằng, ở khía cạnh nghiên cứu văn chương trung đại của vùng đất Huế cho đến hiện nay, Nguyễn Phước Hải Trung là một trong số ít có nhiều đóng góp quan trọng và toàn diện.

Huế xưa tìm lại chứa 38 bài viết - một cuốn sách dày dặn (với 265 trang, khổ 14 x 20,5), in bìa cứng sang trọng, nhã nhặn, bên trong có nhiều tấm hình quý. Cầm cuốn sách trên tay lật tới lật lui nếu có thể tìm ra khiếm khuyết, thì có lẽ nhiều người sẽ dễ dàng châm chước. Tôi đọc vào nội dung, ngoài cái thú ngược dòng văn hóa Cố đô, còn là muốn dừng chân ở những nơi có thể “phản biện”. Dĩ nhiên với một người không chuyên về văn hóa lịch sử như tôi, đây quả là một việc khó.

Nhụy Nguyên

--------------

(*) Huế xưa tìm lại, khảo luận, Nxb Hội Nhà văn, 2012.

(**) Được biết, công trình sẽ được tác giả công bố thành sách trong năm 2013.

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác