Kỷ niệm nhỏ với kịch Hà Nội


Tôi còn nhớ lần đầu làm quen với Kịch Hà Nội, thế mà đã hơn 40 năm. Ấy là sáng ngày 20/4/1973, từ Thị xã Đông Hà- Quảng Trị chúng tôi lên chiếc tàu há mõm của quân đội, xuôi dòng sông Hiếu, ra thăm cảng Cửa Việt. Phía chúng tôi thuộc Tổng Cục chính trị có nhạc sĩ Nguyễn Đức Toàn, nhà văn Nguyễn Minh Châu, hai nhà viết kịch Sĩ Hanh và Vũ Dũng Minh, phụ trách phát hành phim quân đội Hoàng Kim. Chiếc tàu nhỏ xé nước chạy về đông. Làng hai ven sông thưa thớt. Mấy dãy ruộng hai ven bờ từ lâu bị bỏ hoang. Sông về cuối rộng, nước trong xanh hiền hòa, nắng sớm lóa và gắt trên sàn con tàu chạy với tốc độ cao. Trung tá Hoàng Kim, chàng trai Hà Nội được dịp trổ tài chụp ảnh các mỹ nhân đồng hương trên dòng sông miền Nam vừa được giải phóng. Những nữ nghệ sĩ Thủ đô, áo dài nhiều màu sắc, quần lụa trắng, kính râm đen quen tung hoành trên sân khấu giờ như đang ngơ ngác khi bước vào vùng sông nước vừa diễn ra chiến trận ác liệt. Con tàu cập cảng Mỹ. Tất cả chỉ còn là một bãi đất trống. Cầu tàu dốc ngược đổ người xuống bến. Mấy cô áo dài không bước được, phải ngồi kiểu trẻ con chơi cầu trượt để xuống, làm mọi người được một trận cười. Cửa Việt! Một bãi biển rộng, nơi con sông Hiếu đổ ra biển, nơi đang được cả nước biết đến bởi cuộc chiến dữ dội lấn chiếm và chống lấn chiếm trên Tuyến giáp ranh ngay khi có lệnh ngừng bắn tại chỗ theo Hiệp định Paris 1973. Cảng Mỹ và cảng Ngụy, giờ chỉ còn lại phế tích hoang tàn. Trên trảng cát bằng rộng mênh mông là một bãi mênh mông màu xanh lá cây hoang mọc dại- loài cây dại mọc lan mặt đất, các cô gái Hà Nội thích gọi là rau muống biển- và màu đen xỉn, nâu sẫm của sắt thép hoen rỉ vì ngâm nước mặn. Mấy túp lều của các đơn vị trực chiến dựng tạm như những lều vịt nhỏ không che được nắng. Đây là bãi chiến trường nơi vừa diễn ra cuộc chiến đấu ngày 28/2/1973, một ngày sau khi có lệnh ngừng bắn. Địch chia 6 mũi tràn lên quyết chiếm Cửa Việt, đẩy ta về phía Bắc sông Hiếu. 38 xe tăng bị diệt. Nhiều chiếc gục ngay mép nước. Trên bãi cát còn trơ khung hai chiếc xe tăng bị bắn cháy. Các nghệ sĩ quây quần chăm chú lắng nghe anh cán bộ kể lại diễn biến trận chiến quyết liệt để giữ địa bàn. Người ta thường dùng mật độ bom đạn ném xuống để nói về mức độ ác liệt của một chiến trường. Nhưng có tận mắt thấy bãi cát Cửa Việt dạo đó mới hiểu thế nào là bom đạn. Khi thủy triều xuống, trên bãi cát vốn trắng mịn của biển Miền Trung, giờ chỉ còn một màu nâu xám. Chú ý một tí, anh sẽ nhận ra mảnh bom, mảnh pháo các loại, có pháo đinh, pháo chơm, đạn các cỡ, từ Cối 81 đến đạn AR15… Chỉ rất hiếm là những gì vốn là đặc sản biển. Nơi nghỉ mát nổi tiếng của Vua Chúa ngày xưa, giờ đây các nam nữ diễn viên kịch tới từ Hà Nội nhặt mấy cái băng đạn, vỏ đạn, mảnh sắt thép, cả đầu ngòi nổ đạn M79 làm vật kỷ niệm. Mặt các cô gái bình thản, không lộ chút bỡ ngỡ, hoảng hốt. Mà họ là Đức Lưu, Kim Ngọc, Kim Xuyến… Nói chi đám thanh niên Hoàng Quân Tạo, Trần Kiếm, Nhật Đức, Quốc Toàn, Trần Vân… Những ngôi sao đang sáng của Kịch Hà Nội, sau nhiều năm chiến tranh, đã nhanh chóng thích nghi khi vào nơi chiến trận vừa diễn ra để biểu diễn phục vụ quân và dân vùng mới giải phóng. Không biết ai trong họ còn giữ được vài kỷ vật xưa? Tôi quen vài diễn viên Kịch Hà Nội từ dạo ấy. Nhưng phải đến 1980, mới thật sự đụng chạm đến các vở diễn của Đoàn.

Ấy là sau khi vở Vùng sáng hay Hà My của tôi (của Doãn Hoàng Giang), tham gia Hội diễn sân khấu toàn quốc đợt III, dù được khán giả đón chào nồng nhiệt, nhưng bị một số báo, trong đó có những tờ của các cơ quan rất quan trọng, viết bài phê phán khá gay gắt. Đang phụ trách phần Bình luận Văn Nghệ của Tạp chí Văn nghệ Quân đội, biết tôi có viết bài về nghệ thuật, nhà báo Nguyễn Ánh đặt tôi viết một bài về vở kịch cho Tạp chí Sân khấu. Nể tài thuyết phục của Nguyễn Ánh lắm nên tôi nhận lời, nhưng tự biết mình ở vào tình thế khó khăn. Những lời phê phán của những người quan trọng đã đăng trên những tờ báo quan trọng rồi. Không tiện đối đầu đấu khẩu với họ, nhưng làm sao phải bảo vệ được sự sống của vở diễn và của các nghệ sỉ tham gia sáng tạo, tôi buộc phải mở rộng phạm vi bài viết ra ngoài cách đánh giá trực tiếp. Tất nhiên không ngộ nhận về tác dụng của một ý kiến cá nhân, nhưng có lẽ đó là lý do để sau này tôi có nhiều năm gắn bó với sân khấu, và chung lòng chung sức với các thế hệ nghệ sĩ để bảo vệ các vở diễn có nhiều tìm tòi táo bạo, mà với Kịch Hà Nội còn có Cô gái đội mũ nồi xám, Tôi và chúng ta, và…

Nhân kỷ niệm 55 năm thành lập Nhà hát Kịch Hà Nội, tôi muốn các bạn có dịp đọc lại bài báo viết từ gần 35 năm trước: Nhân xem lại Vùng sáng hay Hà My của tôi, nghĩ về cách đánh giá một vở diễn sân khấu (đã đăng Tạp chí Sân khấu số 5/1980). Hy vọng nó còn có ích.

Nhà phê bình Ngô Thảo

 

NHÂN XEM LẠI VÙNG SÁNG HAY HÀ MY CỦA TÔI NGHĨ VỀ CÁCH ĐÁNH GIÁ MỘT VỎ DIỄN SÂN KHẤU

 

Vở kịch Vùng sáng hay Hà My của tôi (kịch bản của Doãn Hoàng Giang) do Đoàn Kịch nói Hà Nội diễn trước và sau khi dự Hội diễn nghệ thuật Sân khấu chuyên nghiệp đợt III đã gây dư luận sôi nổi. Các ý kiến đánh giá có khoảng cách nhau khá rộng rãi. Những lời khen có phần dè dặt và thận trọng, những ý kiến chê lại khá mạnh mẽ và hăng hái. Thực tế phải ghi nhận: Đây là vở kịch được khách. Các suất diễn của Đoàn ở Hà Nội ở các địa phương đoàn tới trước đây, trên đường đi tham dự Hội diễn và sau đó, đều nhận được sự hâm mộ của đông đảo người xem, không chỉ lớp trẻ. Đặc biệt, ở một số nơi có vẻ ít ưa chuộng kịch nói như thành phố Hồ Chí Minh, vở kịch kể về cuộc sống và chiến đấu ở một nhà máy điện Thủ đô trong những năm đánh Mỹ được công chúng nồng nhiệt hoan nghênh. Những người quan tâm tới tình hình sân khấu còn coi đây là vở kịch nói được chú ý nhất, gây sự kiện trong đời sống nghệ thuật thành phố. Các buổi diễn kín rạp và không ai bỏ về.

Trước vở diễn nhiều người tìm xem như vậy, lẽ thường là cần sự lý giả: Tại sao?

Đã dành, nhiều người đi xem không có nghĩa là nhiều người ưa thích. Vì đi xem hay không là sự lựa chọn nằm ngoài cơ sở nghệ thuật. Bởi người ta chỉ có thể trả lời câu hỏi "thích hay không" sau khi xem. Ngay vở được nhiều người ưa thích cũng chưa bảo đảm chắc chắn cho giá trị của nó. Bằng chứng là thời gian trôi qua, người tới sau lắm khi không sao hiểu nổi, tại sao có những vở hấp dẫn người xem một thời đến thế, bây giờ không còn chút giá trị gì? Thời gian là tiêu chuẩn không thể sai lầm của chân lý. Nó giúp xóa bỏ những “huyền thoại” trùm che xung quanh các giá trị nhất thời.

Nhưng sự đánh giá tức thời, đương thời cần thiết và phải có. Vùng sáng hay Hà My của tôi đã nhận sự đánh giá của dư luận, kể cả ý kiến của cá nhân người xem. Trước những đánh giá có phần phiến diện, một cách nhìn lại chất lượng vở diễn là cần thiết.

Các ý kiến chê tập trung vào phê phán nhân vật Hà My và thái độ tác giả đối với Hà My. Mà ở Hà My họ cũng chỉ thấy một số mặt nhất định và chọn những dữ kiện chứng minh cho luận điểm đó. Thậm chí, có người chỉ nhìn thấy vở kịch như là câu chuyện của Hà My, và một Hà My chỉ có những sự "lố lăng", "trở tráo", đặc sệt những kiểu thói sinh hoạt phương Tây!

Một cách nhìn như vậy về cả vở kịch tất nhiên là không đủ. Chỉ nói riêng nhân vật Hà My cũng là chưa chính xác.

Vùng sáng hay Hà My của tôi là chuyện kịch xảy ra ở một nhà máy điện Hà Nội những ngày địch đánh phá ác liệt. Tập thể công nhân đã dùng cảm chiến đấu và giữ vững dòng điện - vùng sáng cho Thủ đô. Ngay trong đội ngũ, họ đoàn kết, yêu thương nhau và giữ cho nhau vùng sáng của mỗi người, mỗi cuộc đời. Nhân vật được sự quan tâm, chú ý đặc biệt của tập thể ấy là Hà My. Là công nhân trẻ có nhan sắc, bước vào đời vấp một mối tình đầu không ra gì, cô đã có những phản ứng lệch lạc theo lối cách thường thấy của tuổi trẻ chưa có kinh nghiệm về cuộc đời, ít tri thức văn hóa, Hà My đã tự khẳng định mình bằng kiểu chơi trội cho khác thường: con gái mà uống bia, hút thuốc, quan hệ bạn bè phóng túng. Không phải ai cũng nhìn cô với con mắt thiện cảm, dù cô làm việc vẫn tốt và dũng cảm trong chiến đấu.

Nhưng không thể chỉ đọc thấy ở vở kịch luận đề: không nên đánh giá con người qua sinh hoạt cá nhân, thói tật cá biệt. Nếu chỉ như vậy và giải quyết như vở kịch, để cho Hà My hy sinh thì chủ đề ấy có gì là mới mẻ? Có gì phải tranh luận? Đạo đức học thông thường từ lâu đã giải quyết vấn đề thuyết phục hơn nhiều. Và riêng điều đó có gì đáng để lôi cuốn và làm xúc động người xem!

Tôi nghĩ, ở đây Doãn Hoàng Giang muốn nói những điều khác hơn. Hay ít ra, người xem cũng đọc được những luận đề khác hơn, chủ yếu nằm trong quan hệ chính, tạo nên xương sống của vở kịch: quan hệ Hà My với tập thể công nhân và lãnh đạo nhà máy. Luận đề tư tưởng chính của vở diễn không khép kín trong số phận vật Hà My mà triển khai quan hệ cá nhân và tập thể. Chẳng hạn, trước một Hà My với những thói tật nhất định, mỗi người đã xử sự theo cách khác nhau: người chỉ chê bai, kẻ lợi dụng, có người yêu một cách mù quáng và chấp nhận Hà My như vốn có, lại có người chỉ làm bạn đồng hành mà thực chất là chấp nhận lối sống đó, có người nâng đỡ cho Hà My không sa sút hơn. Còn Phương, phó giám đốc trẻ, đã kiên quyết không chấp nhận lối sống, phê phán quyết liệt, và chính điều ấy thức tỉnh, làm hồi sinh tình yêu thật sự của Hà My. Lãnh đạo xí nghiệp, đại diện là bí thư Đảng ủy Lân, nhìn thấy ở Hà My mặt tốt, mặt trung thực, ngay thẳng, lòng hăng hái, nhiệt tình trong công việc và bằng lòng tin, bằng sự nghiêm khắc độ lượng của mình mà đưa nhân vật từng bước chuyển biến.

Có ý thức hay không, qua Hà My, Doãn Hoàng Giang đã nhận ra những khó khăn của quá trình hình thành một người công nhân - một con người mới xã hội chủ nghĩa tiêu biểu. Chúng ta biết rằng, con người mới là một nhân cách toàn vẹn, ở đây hòa hợp được những mặt vốn bị chia cắt trong con người ở xã hội cũ như: con người bên ngoài và con người xã hội... Quá trình xây dựng con người mới là quá trình xây dựng con người mới là quá trình xã hội hóa con người một cách tổng thể và toàn diện, nghĩa là xây dựng những nhân cách có sự phát triển cân đối trong quan hệ cá nhân với xã hội! Đối với người công nhân Việt Nam, có một điểm xuất phát quan trọng, nơi tiếp cận giữa cái chung và cái riêng thuận lợi nhất: lòng yêu nước. Vì Tổ quốc - sẵn sàng hy sinh, đó là lý tưởng, là lẽ sống lớp trẻ lên trong chủ nghĩa xã hội. Vì vậy, khi nhà máy bị bắn phá, khi lập đội cảm tử, Hà My đã có mặt, đòi hỏi có mặt, không chút tính toán. Trong chiến tranh, quan hệ giữa cái chung và cái riêng dễ nhất trí. Song khi xử lý cuộc sống riêng, con người chưa hoàn thiện trong Hà My, đã gây ra những lệch lạc, sai lầm. Cho nên, không có gì là đặc biệt, là khó hiểu khi Hà My nhất quyết đòi vào đội cảm tử. Sự hy sinh đột ngột, mang lại nỗi thương tiếc, vì con người mới trong Hà My đang trên tiến trình hình thành: có ý thức phục thiện, dù chưa dễ dàng hòa hợp giữa con người cá nhân riêng lẻ với con người cá nhân riêng lẻ với con người tập thể với tư cách là một công nhân, với những yêu cầu khoa học và kỹ thuật của lao động và nếp sống công nghiệp.

Cũng phải nói ngay: Doãn Hoàng Giang xử lý tính cách Hà My chưa thỏa đáng. Nhân vật Hà My chưa có sức lôi cuốn của một tính cách chân thật và nhất quán. Cảm tình người xem đối với nhân vật bị vướng, gợn bởi những tình tiết không được cân nhắc xác đáng. Đã đành những khuyết tật của Hà My không chỉ dừng ở mức tác phong sinh hoạt. Lòng nghi kỵ ở phẩm chất con người có nguồn gốc trong kinh nghiệm sống ít ỏi Hà My đã gặp. Đôi chỗ gây khó chịu, lộ rõ sự tàn nhẫn, cay nghiệt: Hà My tố cáo Nguyệt vì một chi tiết thuở còn sinh là khó chấp nhận về mặt đạo đức.

Nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa nhân đạo cộng sản mà K.Marx chỉ ra là: Sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của mọi người. Điều kiện thực tế để thực hiện nguyên lý đó, chúng ta còn phải phấn đấu và chiến đấu lâu dài mới có. Trong đời sống và quan hệ con người với nhau, phải làm sao cho đồng chí, đồng đội cùng phát triển. Nào có hay ho gì lối nhìn định kiến, soi mói, nhăm nhăm vạch mặt một người nào đó là xấu, là hèn! Vấn đề chính là làm sao trong tập thể ai cũng có thể đóng góp phần tốt nhất của mình vào công việc chung. Hà My đã phạm sai lầm khi nhìn người theo lối đó. Tác giả đã hạ thấp tầm nhân vật khi để Hà My phạm sai lầm vì thiếu lòng nhân ái cần thiết.

Tính cách Hà My có tính chất một giả định, bị dồn nén nhiều nét không biện chứng, nên thiếu chân thực - nhược điểm chính của tác giả khi xây dựng nhân vật này.

Nhưng, vở kịch đâu chỉ có Hà My! Sẽ là một nhầm lẫm và sai lầm khi nghĩ đông đảo người xem thích thú vở kịch vì thích một Hà My với lối ăn mặc, với cách xử sự không bình thường, vài lối nhảy không quen mắt! Sự thực trái lại. Công chúng xem vở kịch, yêu mến Đoàn Kịch Hà Nội qua tiết mục, có những cơ sở đúng đắn và chính xác hơn.

Tình cảm và cách xử sự của tập thể đối với Hà My: không nhân nhượng với sai trái của Hà My, họ vẫn tin tưởng và sẵn sàng tạo mọi điều kiện cho Hà My trở thành người tốt hơn. Tình cảm đó giữa những công nhân xã hội chủ nghĩa làm sao có thể tìm thấy dấu vết trong văn hóa thực dân mới! Không khí đầy tình người ấy mang lại bao ấm áp và niềm tin cho ai có nguyện vọng vươn lên, làm lại cuộc đời, dù trong quá khứ đã có lầm lỡ, dù hiện tại còn thói tật nhất định.

Trong quan hệ với Hà My (Minh Trang), trong chiến đấu, tập thể công nhân đã bộc lộ biết bao phẩm chất tốt đẹp! Bí thư Đảng ủy nhà máy Lân ( Nhật Đức đóng) giản dị, chững chạc, nhưng ân cần, nhân hậu, có sức thu phục lòng người, là phó giám đốc Phương (Trần Vân đóng) nghiêm nghị, nguyên tắc, chan hòa, hiểu biết cuộc sống và công việc công nhân, biết yêu cầu cao ở những người mình yêu quý. Sự khô khan có phần "cứng nhắc" của Phương có sức hấp dẫn riêng của tuổi trẻ! Tùng "đô" (Trần Kiếm đóng) vạm vỡ, hăng hái, yêu đương chân thành, độ lượng, dễ gây được cảm tình. Các nữ công nhân không nổi bật cá nhân, song nền tập thể bạn bè có nhiều nét đáng quý. Tác giả còn phê phán những kẻ hẹp hòi thiển cận (Cơ, Phạm Hùng đóng), loại ích kỷ, hèn nhát và giả dối (Hòa "bi đát", Ngọc Thắng) và phê phán những quan điểm nhìn người, không đúng. Tính thời sự, ý nghĩa hiện thực của vở kịch được gia tăng nhờ phần phê phán vừa mức đó. Gây được cảm tình cho người xem là phần thể hiện cuộc chiến đấu quyết liệt, dũng cảm và mưu trí quyết giữ cho Hà Nội thành một vùng sáng. Người chiến sĩ ngã xuống trong chiến đấu, không khí trang nghiêm, thiêng liêng khi đội cảm tử tuyên thệ, nói với những người hôm nay, những hy sinh, phấn đấu của người Hà Nội hôm qua trong chiến đấu. Có một thực tế là các diễn viên này đã nhận được sự biểu lộ cảm tình của người xem ở ngoài sân khấu nhiều nhất (những bức thư khen ngợi, cảm ơn, đòi kết bạn và cả... tỏ tình!).

Cho nên, trong toàn thể vở kịch, nếu ai cũng thấy nhân vật Hà My có chỗ còn chưa ổn, còn phải và có thể sửa chữa cho tốt hơn, thì nó đã được nâng đỡ và bù đắp bằng tập thể xung quanh Hà My - không nên quên khi đánh giá tác phẩm! Tình cảm với Thủ đô anh hùng, với những ngày chiến đấu anh dũng được vở kịch gợi lại một cách nghiêm túc và được người xem tiếp nhận là điều không nên coi thường. Quên điều đó là bóp méo thực tế và sự thiên kiến trong đánh giá dù không có ý thức, nghiêm chỉnh mà nói là đã xúc phạm tới tình cảm trong sáng của khán giả.

Ở đây, phải ghi nhận cố gắng của tập thể nghệ sĩ, diễn viên Đoàn Kịch nói Hà Nội và đạo diễn đã có nhiều tìm tòi, đóng góp nâng cao chất lượng vở diễn. Đội ngũ diễn viên đồng đều, tươi trẻ. Minh Trang trong vai Hà My trong sáng, hồn nhiên, cả nét vụng về trong động tác hút thuốc, cách làm dáng, cũng tăng phần chân thực cho nhân vật.

Tôi không thuộc loại người hâm mộ tài năng biên kịch của Doãn Hoàng Giang. Nhân vật Hà My chưa làm tôi hài lòng. So với các vở khác của cùng tác giả, đây là vở kịch được viết nghiêm túc và có nhiều thành công hơn cả. Tư tưởng kịch cần được nâng cao hơn, nhân vật cần được trau chuốt hơn. Những thiếu sót cần phải và có thể được sửa chữa để vở diễn ngày một tốt hơn.

Với một vở diễn như thế, Vùng sáng hay Hà My của tôi xứng đáng được một sự đánh giá công bằng và bình tĩnh.

Chúng ta biết rằng, phát biểu nhận xét của mình là quyền của mọi người xem. Sự khác nhau, thậm chí trái ngược nhau trong nhận định, đánh giá tác phẩm cũng là bình thường. Bởi vì, sự cảm thụ tác phẩm nghệ thuật bao giờ cũng dẫn tới sự đánh giá bằng lời nói hoặc hành động (vỗ tay, suỵt, bỏ về...). Trong bản chất, sự đánh giá có tính hai mặt, một mặt nó xuất hiện như là sự ý thức, bộc lộ sự thích thú hoặc khó chịu, vừa ý hay không bằng lòng mà người cảm thụ thể nghiệm và chỉ có ý nghĩa đối với bản thân người cảm thụ. Mặt khác, nó hướng ra bên ngoài - tức hướng về tác giả, hướng về những người cảm thụ khác. Khi yếu tố thứ hai này chiếm ưu thế, người ta thể hiện nó bằng những bài phê bình. Nếu khi còn ở mặt thứ nhất là lĩnh vực không cần và không bắt buộc tranh luận từ khi bước sang mặt thứ hai, đòi hỏi người cảm thụ một thái độ khoa học, toàn diện hơn.

Bởi vì lúc này, anh đang nói với những người khác ý kiến đánh giá của cá nhân anh. Trong đó, có những nghệ sĩ, cán bộ tổ chức các đoàn nghệ thuật, với các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu hoạt động nghệ thuật, với các nhà chính trị, các nhà tư tưởng, nhà giáo dục và công chúng rộng rãi, nhằm tác động tới thị hiếu, tới ý thức thẩm mỹ của họ và đề nghị một hành động, một thái độ đối với sản phẩm nghệ thuật. Là sự bổ sung mối liên hệ trở lại giữa công chúng và nghệ sĩ, bài phê bình có tác động rộng hơn rất nhiều so với một sự đánh giá trực tiếp của công chúng từng buổi diễn. Vì thế, một bài phê bình thiên kiến, áp đặt suy diễn chủ quan cho tác giả và tác phẩm, cắt rời một bộ phận ra khỏi toàn thể tác phẩm nghệ thuật, lấy một nhân vật làm mốc đánh giá toàn bộ tác phẩm, dù không có ác ý, đều là không khoa học và dễ dẫn tới những sự đánh giá đơn trị, thiếu xác đáng.

Vùng sáng hay Hà My của tôi đã gặp một vài sự phê bình như thế. Nếu phê bình, góp ý một tác phẩm nghệ thuật là quyền của mọi khán giả, thì cần phải nói thêm: sự đánh giá một tác phẩm bao giờ cũng phải căn cứ trên những cơ sở khách quan và khoa học. Dựa vào một bộ phận, nhấn một mặt nào đó tách rời khỏi toàn thể tác phẩm, sự phê bình sẽ mất tính chất khoa học, nghĩa là đánh mất năng lực hoạt động thực tiễn của phê bình. Bởi thế, người ta xem phê bình là một hoạt động cực kỳ phức tạp. Trong việc đánh giá, bản thân xác định tư tưởng chủ đề, nội dung xã hội một vở kịch như Vùng sáng hay Hà My của tôi là không đơn giản. Nhiều người đọc thấy những nội dung khác nhau của vở diễn. Tuy vậy, phần nội dung, chỉ cần khách quan, nghiêm chỉnh, là có thể nhất trí về nhiệt tình khẳng định, cảm hứng ca ngợi của tác giả đối với cách sống và chiến đấu của giai cấp công nhân Thủ đô. Một sự ca ngợi không một chiều. Cái tốt, cái anh hùng không phải vốn có, tự phát mà được bồi đắp, bởi một công tác tổ chức, giáo dục công phu của Đảng. Xác định giá trị thẩm mỹ của vở kịch và "gu" của tác phẩm thì phức tạp hơn rất nhiều. Chỉ căn cứ vào cách ăn mặc - cách điệu một chút bộ áo quần bảo hộ lao động, hay vài tác phong mà chính thực tiễn sẽ phủ định, rồi cho rằng tác giả thích thú với những rơi rớt của văn hóa thực dân mới, e quá vội vàng. Để tiếp cận giá trị đích thực của tác phẩm nghệ thuật, những thao tác phê bình khoa học, khách quan và toàn diện có ý nghĩa quan trọng. Các nhà nghiên cứu từ lâu đã chỉ ra những thành tố cần và đủ cho sự cảm thụ nghệ thuật: nhân cách của người cảm thụ, là thị hiếu của anh ta, là thói quen cảm thụ nghệ thuật và hệ thống các yêu cầu và mong đợi mà người xem đặt ra cho nghệ thuật, quyết định quan điểm người ấy đối với nghệ thuật, tính chất và các nhu cầu tinh thần và thẩm mỹ của anh ta.

Nêu ra khó khăn, phức tạp, những yêu cầu đối với sự cảm thụ nghệ thuật và phê bình nghệ thuật không phải coi thường ý kiến quần chúng hay khép kín cánh cửa phê bình mọi tác phẩm nghệ thuật. Mà qua tình hình thực tiễn của việc phê bình nghệ thuật nói chung, cũng như trường hợp của vở kịch này, buộc chúng ta trở lại vấn đề căn bản là: công chúng tiếp nhận nghệ thuật cần được giáo dục về những thành tố cần đủ và đủ cho sự cảm thụ nghệ thuật. Không vũ trang cho công chúng những thành tố này, mà nội dung của nó luôn biến động, đổi mới theo từng thời kỳ lịch sử - người làm nghệ thuật sẽ bị cầm tù trong những ràng buộc cổ điển, trong những đòi hỏi có khi không thực tế, do công chúng luôn thất vọng vì quen đặt một bên là những tiêu chí rút ra từ các tác phẩm vĩ đại quá khứ và một bên là hình ảnh thực của cuộc đời lớn lao và biến động. Thị hiếu công chúng với tư cách là số đông, thường có khuynh hướng rộng rãi, khoan dung, dễ dãi hơn là khắt khe. Bởi vì, bao giờ họ cũng phải tiêu thụ những tác phẩm của ngày hôm nay, sẵn sàng tìm ra trong đó có phần vừa ý mình. Vài nhận xét gay gắt thỉnh thoảng vang lên từ trong lòng dư luận chung là rất đáng chú ý. Không nên đồng nhất ý kiến cá nhân trong công chúng với toàn bộ dư luận công chúng. Về cơ bản, người đại diện có thẩm quyền của công chúng lại là các nhà phê bình, những người đã được đào tạo và tự chuẩn bị tri thức toàn diện để làm việc đó và qua thử thách đã được công chúng tin cậy. Cho nên, vấn đề được đặt ra khi nhận một sự phê bình không thật xác đáng, không chỉ là tìm cách thanh minh hay phản ứng. Thái độ lắng nghe, nhận biết là tìm về cội nguồn của vấn đề là rất cần thiết. Nếu nhiệm vụ nghệ sĩ là sáng tạo tác phẩm nghệ thuật mới phản ánh cuộc sống chiến đấu của đất nước, dân tộc, mang lại nhiệt tình cổ vũ lao động sáng tạo của nhân dân, thì đồng thời phía người tiếp nhận nghệ thuật là công chúng phải được nâng cao trình độ văn hóa nghệ thuật. Công việc này không thể làm tùy tiện, tự phát. Nó không chỉ là kết quả tất yếu loại suy ra từ các môn học khác. Những tri thức để tiếp thu nghệ thu nghệ thuật phải được giáo dục có bài bản cho công chúng. Trong đó, có người cảm thụ một cách cá nhân và cả những người có trách nhiệm thẩm định các giá trị nghệ thuật. Một thái độ khoa học, khách quan khi đánh giá tác phẩm nghệ thuật mới ra đời, không nhân nhượng, không dễ dãi vô nguyên tắc, biết ghi nhận thiện ý chân thành, nỗ lực thật sự của tập thể người làm nghệ thuật là cần thiết. Nếu tác phẩm cổ điển không vì tình cảm yêu ghét của bất cứ ai mà mất giá trị, thì với sáng tác mới hôm nay một lời nhận xét nặng nề, thiên kiến trong trường hợp nào đó đã đồng nghĩa với sự vùi dập và tước mất quyền tồn tại bình thường.

Tất nhiên, còn có vấn đề động cơ và phương pháp phê bình giữa đồng chí, đồng nghiệp với nhau. Hy vọng sẽ là không vô ích khi lưu ý tới nhận xét của O. Balzac - tác giả Tấn trò đời: "Nếu bọn bất lương sau khi đâm chém nhau lại có thể làm lành với nhau dễ dàng thì những kẻ yêu nhau lại giận nhau đến khi chết chỉ vì một cái nhìn, một lời nói". Balzac còn nói thêm: "Cái gì đương nhiên ở một kẻ thù thì trở thành kinh khủng ở một người bạn".

11.1980

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác