Khi các nhà thơ “mời vợ uống rượu”

Ngô Minh

Nhiều nhà thơ làm thơ tình hay vì họ dám “chết vì yêu”. Thơ tặng vợ cũng là thơ tình, nhưng nó không chỉ là nụ hôn, nhớ nhung hờn giận, vì giai đoạn “yêu đương” trai trẻ đã qua rồi, mà cao hơn đó là tình nghĩa, trách nhiệm, bổn phận với tương lai gia đình. Mà cái đó thì người đàn ông nào cũng phải gánh vác.

Khi các nhà thơ “mời vợ uống rượu” - ảnh 1Vì thế nhiều nhà thơ cả đời không làm nổi bài thơ tặng vợ, không phải vì không yêu vợ, mà vì cuộc sống diễn ra thường nhật không có những cảm xúc đột biến. Bởi thế mà tôi đọc Tuyển tập Thơ trữ tình Việt Nam thế kỷ XX dày 983 trang của NXB Giáo dục (2004) với gần 600 bài thơ của gần 500 nhà thơ mà chưa đến chục bài thơ trực tiếp viết tặng vợ. Tuyển thơ Việt Nam 1945-2000, Gia Dũng biên soạn (NXB Lao động -2001) dày 1.700 trang, chọn gần 780 tác giả thơ với hơn 800 bài thơ trữ tình, mà chỉ có bốn năm bài tặng vợ. Hẳn nhiên là tất cả các bài đều “đáng đồng tiền bát gạo”. Thế mới biết làm thơ tặng vợ là một thách thức đối với các nhà thơ. Tuy nhiên, tôi biết thơ tặng vợ của các nhà thơ Việt trong thế kỷ XX còn nhiều hơn thế. Có người ở Hà Nội đã sưu tầm tuyển chọn và in thành tập Thơ tình tặng vợ dày với lời bình công phu để bán. Chỉ riêng nhà thơ Nguyễn Duy thôi đã có hẳn một tập thơ tặng vợ có tựa đề rất mùi là Vợ ơi.

Điều may mắn là thơ tặng vợ trong văn chương Việt Nam tuy ít hơn tặng “người yêu” nhưng nhiều bài hay, thậm chí rất hay. Hình ảnh người vợ tần tảo chịu khó chịu thương, trong bài thơ “Thương vợ” của Trần Tế Xương đã khảm vào lòng người Việt Nam suốt thế kỷ qua: “Quanh năm buôn bán ở mom sông/ Lặn lội thân cò khi quãng vắng/ Eo sèo mặt nước lúc đò đông...”. Nhà thơ Nguyễn Bùi Vợi chỉ xa vợ mươi ngày đã: “Anh vào ra tha thủi một mình”, rồi: “Ngày nắng đem chăn chiếu ra phơi/ Tuần đôi bận lau nhà thay vỏ gối/ Thay việc em làm mà không thay nổi/ Cái tảo tần rất mẹ ở trong em” (Ngày xa em). Nhà thơ Lâm Xuân Vy dân tộc Cao Lan ở Ninh Bình có hàng chục bài thơ tăng vợ, bài nào cũng da diết, thâm trầm: “Ước gì nồi nước lá xông/ Có thương yêu giải chất chồng nắng mưa” (Em ốm). Bài thơ “Màu tím hoa sim” lừng danh của nhà thơ Hữu Loan sáng tác trong kháng chiến chống Pháp là một bài thơ khóc người vợ trẻ của mình ở quê nhà. Bài thơ là những lời trần thuật thống thiết trước bi kịch chiến tranh: “Nhưng không chết/ Người trai khói lửa/ Mà chết/ Người em gái nhỏ hậu phương”. Nên “Chiều hành quân/ Qua những đồi sim/ Những đồi sim dài trong chiều không hết/ Màu tím hoa sim/ Tím chiều hoang biền biệt”. Hình ảnh màu tím hoa sim từ đó trở thành biểu tượng đau đớn của tình yêu trong chiến tranh khắc vào trí nhớ bao thế hệ người đọc. Nhà thơ Thanh Tùng ở Hải Phòng có bài “Thời hoa đỏ” nổi tiếng được nhạc sĩ Nguyễn Đình Bảng phổ nhạc cả nước ai cũng thuộc, cũng hát “Em hát một câu thơ cũ/ Cái say mê của thời thiếu nữ/ Mỗi mùa hoa đỏ về/ Hoa như mưa rơi rơi/ Cánh mỏng mạnh tan tác đỏ tươi/ Như máu ứa của một thời trai trẻ”. Nhưng có lẽ không bạn yêu thơ yêu bài hát biết rằng những câu thơ rỏ máu ấy chính là bài thơ nhà thơ khóc chị Thanh Nhàn, người vợ trẻ xinh đẹp và xấu số của mình, khi nghe tin chị bị bệnh tim mất ở Quảng Ninh. Thơ ấy là thơ vắt tim ra mà viết. Người Hà Nội thời bao cấp nghèo khổ, vợ chồng sáng nào đi làm cũng có cái cặp lồng cơm treo ở ghi đông xe đạp. Thế mà cũng thành thơ: “Tiễn em buổi sáng đi làm/ Nón quên anh nhắc, chiếc làn anh đưa/ Tần ngần một thoáng dây dưa/ Trao em chiếc cặp lồng trưa quá nghèo”...(Tiễn em – Nguyễn Hoàng Sơn). Trong kháng chiến chống Pháp, nhà thơ Cầm Vĩnh Ui dân tộc Thái có bài thơ “Nhớ vợ” rất chân thật, theo kiểu người dân tộc, nhưng cách diễn đạt lại độc đáo hiện đại: “Tôi nhớ vợ tôi lắm/ Cho tôi về hai ngày... Ngày kia tôi sẽ đến/ Lại cầm súng được ngay/ Vì tay có hơi vợ”. Cái “Tay có hơi vợ” ấy làm cho bài thơ sống mãi trong lòng người đọc. Còn đoạn thơ kết ngộ nghĩnh, thú vị: “Nếu có được trên tặng/ Cho một cái bằng khen/ Tôi sẽ rọc đôi liền/ Gửi cho vợ một nửa” lại nói được một điều thăm thẳm hơn: Của chồng công vợ!

Trong kháng chiến chống Mỹ, “Bài thơ hạnh phúc” của nhà thơ Dương Hương Ly (Bùi Minh Quốc) tặng vợ là nhà văn Dương Thị Xuân Quý hy sinh tại mặt trận là một bài thơ bi tráng, sống mãi với thời gian: “Thôi em nằm lại/ Với đất lành Duy Xuyên/ Trên mộ em có mùa xuân ở mãi/ Trời chiến trường vẫn một sắc xanh nguyên...” . Không có tình cảm lớn, tình yêu lớn không thể viết được những câu thơ tình se sắt lòng người như thế.

Bài thơ “Tôi ra cửa biển”, của Hải Kỳ ở Đồng Hới là bài thơ tình rất hay viết tặng vợ được tuyển vào rất nhiều tuyển tập thơ tình. Vợ đi xuất khẩu lao động để kiếm tiền nuôi con. Nhà thơ “gà chống nuôi con” mấy năm liền. Vừa đi dạy học, Hải Kỳ vừa thay vợ nấu ăn, giặt giũ quần áo, chăm sóc hai con trai nhỏ ăn uống, học hành. Công việc bận bịu vất vả hàng ngày không thể nào lấp được khoảng trống vắng mà vợ để lại trong lòng anh: “Em đi góc biển chân trời/ Tôi về nhặt lại những lời bỏ quên/ Mùa đông rụng lá ưu phiền/ Sang xuân có bớt nỗi niềm nhớ mong/ Biết là nhớ cũng bằng không/ Tôi ra cửa biển ngồi trông cánh buồm”. Đây là đoạn thơ hay nhất đã được chọn in trong tập “Những câu thơ trong trí nhớ” do nhà thơ quá cố Tô Hà chọn. Nhà thơ Nguyễn Vũ Tiềm ở Thành phố Hồ Chí Minh cũng đã chọn hai câu thơ: “Biết là nhớ cũng bằng không/ Tôi ra cửa biển ngồi trông cánh buồm” vào tuyển tập Nghìn câu thơ tài hoa Việt Nam.

Trong thơ tình tặng vợ cũng có những bài thơ nói rất sâu sắc về mối quan hệ vợ chồng, sau giai đoạn “yêu đương” thời trai trẻ. Nhà báo Thuận Hữu rất ít làm thơ, nhưng anh lại nói về “Những phút xao lòng” của cả chồng lẫn vợ trước hình bóng người thứ ba một cách thuyết phục. Bài thơ đã nói hộ nhiều người cái khó nói nhất, làm cho vợ chồng hiểu nhau hơn, bao dung hơn trong cuộc sống. Tôi nghĩ hình như nhà thơ dành nhiều hơn sự lý giải thông minh, chân tình này cho những người chồng trên thế gian. Bởi lẽ so với đàn bà, đàn ông đa mang hơn: “Ai cũng có một thời để yêu một thời để nhớ/ Ai cũng có những phút giây ngoài vợ ngoài chồng/ Đừng trách chi những phút xao lòng!”. Trong những ngày tháng gian nan của đời mình, nhà thơ Phùng Quán đã viết tặng người vợ thủy chung son sắt của mình một bài thơ mà anh đặt tên là “Kinh cầu nguyện buổi sáng”. Sinh thời, cứ mỗi buổi sáng trên “Chòi ngắm sóng” anh thức chị dậy, uống chén rượu, rít hơi thuốc lào xong là ngồi nghiêm trang đọc thật to bài thơ cho chị Bội Trâm, vợ anh nghe, như người sùng đạo đọc kinh buổi sáng: “Ngày lấy em tôi đã có lời nguyền/ Nếu tôi bỏ em lại bơ vơ dọc đường/ Tôi sẽ bị trời tru đất diệt

 

(Văn nghệ )

 


Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác