Hoàng Cầm "Về với ta"

(Toquoc)- Có một bài thơ trong Về Kinh Bắc, không nổi tiếng với công chúng rộng, nhưng được đánh giá cao trong giới bạn thơ của tác giả và cũng là một trong những bài tâm đắc nhất của ông. Tôi nghĩ bài này chứa đựng những gì là Hoàng Cầm nhất trong giai đoạn tác giả trở Về Kinh Bắc của hoài niệm bằng con đường mộng-thơ, cuối thập kỷ 1950.

Ta con bê vàng lạc dáng chiều xanh

đi mãi tìm sim chẳng chín.

Ta lên đồi thông nằm miếu Hai Cô

gặm cỏ mưa phùn

Dóng dả gọi về đồng sương

Đôi ba người lận đận

Đêm nay mẹ chẳng về chuồng

Ta con chào mào khát nước

về vườn xưa hạt nhãn đã đâm mầm

Cây ổi giơ xương

chống đỡ mùa đông sập về đánh úp

Ô này tám đỏ ra hoa

Ta con chim cu về gù rặng tre

đưa nắng ấu thơ về sân đất trắng

đưa mây lành những phương trời lạ

về tụ nóc cây rơm

Ta ru em

lớn lên em đừng tìm mẹ phía cơn mưa

Ta con phù du ao trời chật chội

đứng cánh bèo đo gió lặng tìm sao

Uống nước mắt con vành khuyên nhớ tổ

vừa rụng chiều nay

dềnh mặt nước hương sen

Ta soi

chỉ còn ta đạp lùi tinh tú

Ngủ say rồi đôi cá đòng đong

Bài thơ kết thúc Về Kinh Bắc. Bài thơ làm nên tất cả Nhịp cuối trong cuộc “tuần du” tám nhịp.

Hoàng Cầm
Thi sĩ Hoàng Cầm (Ảnh: Nguyễn Đình Toán)

Đi qua 7 nhịp, từ những đêm Kim mộc thủy hoả thổ, qua những trang kiếp trước, giũ bụi gia phả, qua những hội hè Kinh Bắc... cuối cùng nhà thơ lại Về với ta.

Về với ta là về với những tiền kiếp chăng? Kiếp con bê vàng, con chào mào, con chim cu, con phù du. Đều là những con vật bé bỏng, yếu đuối của làng quê Bắc Bộ.

Mở đầu, ta gặp lại chủ âm bơ vơ, vô vọng của kẻ đi tìm nhưng không bao giờ gặp cái mình tìm, chủ âm day dưa qua nhiều bài “chị - em” (lá diêu bông tưởng rằng tìm thấy thì chị bảo không phải, xin chị một quả (ổi) chín thì quả chín quá tầm tay, xin chị một quả xanh thì quả xanh chim khoét thủng...). Bây giờ là con bê vàng đi mãi tìm sim chẳng chín... Con bê đi lạc, con bê đi tìm vô vọng, rồi đành nằm xuống gặm cỏ mưa phùn (ai từng sống ở miền Bắc mới thấm thía cái lạnh triền miên tê tái thấu xương của mưa phùn tiết đông xuân), cuối cùng cất tiếng gọi mẹ một cách tuyệt vọng, gọi mà biết sẽ chẳng có lời đáp vì mẹ cũng đã lạc bước đâu đó mất rồi: “Đêm nay mẹ chẳng về chuồng”. Nỗi ám ảnh thiếu mẹ, lạc mẹ, mất mẹ là chủ cảm của khổ thơ đầu, lãng đi qua hai khổ thơ tiếp, lại trỗi lên trong mấy câu thơ như ở đâu rơi vào giữa chừng bài thơ:

Ta ru em

Lớn lên em đừng tìm mẹ

Phía cơn mưa

Cho đến bây giờ, sự bí ẩn của khổ thơ này vẫn còn nguyên. Không ai giải thích được tại sao em lại đi tìm mẹ phía cơn mưa. Không giải thích được, chỉ biết câu thơ làm ta nao hết cả lòng, ta lập tức hình dung một buổi chiều trên cánh đồng mênh mông, cả một phía trời cơn mưa đen ngòm, có một “con bê” hay một “thằng bé, con bé” lủi thủi đi tìm mẹ, mà không biết tìm đâu! Tất cả chúng ta, ai mà chẳng có một “con bê”, một “đứa bé” như thế ở sâu thẳm trong lòng. Thơ Hoàng Cầm giai đoạn này thường vẽ ra, gợi ra những bơ vơ tội nghiệp như thế.

Rồi những liên tưởng không thể không phát động. Có phải một thời người ta cứ đi tìm cái thứ lá diêu bông (phiêu diêu, bông lông) nào đó mà không ai biết rõ không bao giờ thấy; người ta lầm lạc, cứ nhằm phía cơn mưa mà đi tìm mẹ? Và nhà thơ, với kinh nghiệm cay đắng của đời mình, phải thốt lời nhắn nhủ: “Lớn lên em đừng tìm mẹ phía cơn mưa”. Nhắn em nhưng hình như đúng hơn là tự nhủ mình, tự nhủ mình phải lớn lên nhanh khỏi cái thời bê vàng ngơ ngác... Lời nhắn là một lời tổng kết nhân sinh.

Ở bài này ta cũng gặp lại những thi ảnh đẹp và lạ như từng thấy ở khúc nhập (nhịp Một) của một quê hương khắc nghiệt mà vẫn hiền hòa, mơ mộng, đầy màu sắc cổ tích:

Cây ổi giơ xương

Chống đỡ mùa đông xập về

Đánh úp

Ô này tám đỏ ra hoa

Ta con chim cu

Về gù rặng tre

Đưa nắng ấu thơ

Về sân đất trắng

Đưa mây lành những phương trời lạ

Về tụ nóc cây rơm

Rồi, như để bộc lộ sự đa dạng của con người tác giả, ta lại hóa mình trong con phù du (xin thưa ngay rằng ở đây có sự lầm lẫn về tên gọi, có thể có gốc từ vùng quê tác giả: con phù du mà tác giả nói đến chính là con nhện nước. Điều này người viết đã hỏi kỹ tác giả và được ông minh định).

Ta con phù du ao trời chật chội

Đứng cánh bèo đo gió lặng tìm sao

Uống nước mắt con vành khuyên nhớ tổ

Vừa rụng chiều nay

Dềnh mặt nước hương sen

Ta soi

Chỉ còn ta đạp lùi tinh tú.

Chú nhện nước bé bỏng mong manh bỗng hiên ngang một thế đứng giữa trời, một khát vọng tầm vũ trụ, đồng thời cúi xuống những giọt nước mắt. Câu thơ bi - hùng một cách tội nghiệp. Để… cuối cùng… thôi lại buông xuôi, chìm theo vào giấc ngủ lờ đờ của đôi cá đòng đong!

Ngủ say rồi đôi cá đòng đong.

Nhạc điệu bài thơ Hoàng Cầm một cách điển hình. Dặt dìu, đón đưa, dan díu, buông bắt. Có thể nhận ra tất cả hồn quan họ ngân nga trong ấy. Hoàn hảo về tiết tấu và sự hòa hợp các âm chữ trong thể thơ tự do không vần. Tôi hình dung một hình thức âm nhạc lấy những bài thơ Hoàng Cầm như bài này làm bè chủ phối với khí nhạc chứ không phổ nhạc, đó mới gọi là “Hoàng Cầm ca”.

Sức quyến, dụ của nhạc thơ hòa với sự mờ mờ tỏ tỏ, đôi khi bí ẩn của ý thơ, nhất là của một số thi ảnh gần như biểu tượng, đã tạo nên sự ám ảnh, khêu gợi của những bài thơ thành công nhất trong Về Kinh Bắc (như bài này; chùm 5 đêm ngũ hành; chùm Cây, Lá, Quả, Cỏ…). Ở những bài này, ta có một Hoàng Cầm của thi pháp “tượng trưng” thời mới, tôi tạm đặt tên nó là “tân tượng trưng”.

Hoàng Hưng

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác