Hóa giải cô độc- từ đọc chậm đến sống chậm


(Toquoc)- Cô đơn là bản mệnh của thi sĩ. Chỉ trong trạng thái ấy, cái tôi mới thấm thía hết mọi khía cạnh của hiện hữu (một bản thể). Không gian, thời gian, những chiều kích tâm linh, siêu hình, những giới hạn nằm ngoài dự tưởng… chỉ trở về khi thi sĩ đối diện với cô đơn. Những sáng tạo thi ca chỉ có thể lóe lên trong thăm thẳm của sự cô đơn, trong mênh mông vô hạn bao bọc cá thể, trong những trải nghiệm máu thịt của cá nhân… làm nên đặc trưng của loại hình ngôn từ nghệ thuật này. Đọc thơ Nguyễn Việt Chiến, là gặp một “khách trọ”[1] lưu đầy trong nỗi cô độc, ý thức rất rõ phận mình nhưng đường về đã mịt mờ cát trắng!

Tước bỏ đi những lớp tiền niệm giăng lên bởi ngôn từ, những ảnh tượng thi ca được tu sức bằng trí tưởng, còn lại trong thế giới của Nguyễn Việt Chiến một cá thể cô độc, đang cố gắng để huyễn mị chính mình, nhưng càng cố gắng càng cô độc. Cái tôi mang nghĩa đại diện đã không dấu được bản mệnh của mình là một kiếp lưu đầy, một linh hồn lưu lạc khởi sự từ đêm không giờ (Mưa lúc không giờ - 1992). Qua những Ngọn sóng thời gian (1998), cái tôi ấy càng nhận ra thân phận Cỏ trên đất (2000), muốn làm Những con ngựa đêm (2003) để trở về, chầm chậm sống lại vùng trăng nguyên sơ đã vỡ (Trăng và thơ đọc chậm - 2012). Nhưng, trong những khát vọng tìm về, những huyễn tưởng tự ru vỗ ấy, Nguyễn Việt Chiến vẫn bị nhắc nhói bởi bản chất không thể nào thoát ra được. Từ cái đêm ra đi trên vùng trăng vỡ thuở xưa (Tiếng trăng), cho đến khi “Ngủ nơi chớp bể mưa nguồn đêm đêm” (Ngọn sóng thời gian), “Giữa vòng tay thành phố”, kẻ mang giọng LÀNG ấy nhận ra “Ta là kẻ lưu đầy trong nhẫn nhục” (Khúc hát). Thơ của Nguyễn Việt Chiến là cấu trúc của những ám ảnh, những dằn vặt về nỗi cô đơn, về thân phận lưu lạc, về nỗi bất lực trên con đường trở về. Đọc thơ anh, trong thế giới được hình dung ấy, có thể thấy trội lên những vùng mỹ cảm về thơ ấu, về phố, con người, chiến trận, những đứa trẻ trên mặt đất… Đó là những ám dụ về thế giới, những không gian, những chủ thể của lịch sử. Dù ở chặng nào, cái tôi của Nguyễn Việt Chiến vẫn thấy cô độc, vẫn bị ám ảnh, bị đe dọa:

Anh tới ngồi bên những vì sao xa vắng

Khẽ hát bài ca cô đơn của những người luôn thất bại

(Khúc hát)

Chỉ còn nỗi cô đơn và thơ sinh ra từ đấy. Nỗi cô đơn trở thành tâm thức trữ tình của thi sĩ bởi chính trong cô đơn, cái tôi bản thể hiện hữu đầy đủ nhất. Phổ niệm ấy bao trùm lên đời sống tinh thần của con người cá nhân, nhất là trong bối cảnh hiện đại, công nghiệp và hậu công nghiệp. Từ nỗi cô đơn, Lê Đạt đuổi theo bóng mình, Đặng Đình Hưng, Hoàng Hưng lặn sâu vào chữ, Nguyễn Duy làm một “thảo dân” mơ giấc mơ quê nhà bên lề đời bụi bặm, Mai Văn Phấn tìm về Cửa Mẫu để tái sinh, Trương Đăng Dung cô đơn trầm tư về hiện hữu, Nguyễn Bình Phương viết vào đời câu cách ngôn bí ẩn, Vi Thùy Linh cô đơn khát, Miên Di lặng lẽ mang về nơi đang đến những gì để lại lúc đi qua… Còn Nguyễn Việt Chiến, trong cô độc anh mơ những vùng trăng tan vỡ, nằm dưới sao trời lắng nghe nghịch lý của phố phường. Đó là chủ âm, trạng thái mỹ cảm thường trực, là tư thế trữ tình của một hình nhân lưu đầy.

Cảm thức chủ đạo trong thơ Nguyễn Việt Chiến như đã nói là những mộng mơ giữa lưu đầy của một cá nhân cô độc. Bên cạnh chủ lưu này, còn có những dòng mỹ cảm khác gắn với trách nhiệm công dân, con người chính trị xã hội… Đó là câu chuyện của một lần khác khi trở lại cùng Nguyễn Việt Chiến. Vấn đề quan trọng hơn là trong nỗi cô độc của mình, Nguyễn Việt Chiến luôn có ý thức cách tân chữ nghĩa để làm mới, để kiếm tìm ý nghĩa của hiện hữu, kháng cự lại tình thế lưu đầy. Dõi theo những sáng tác của anh từ tập thơ đầu (Mưa lúc không giờ - 1992) đến tập thơ gần đây (Trăng và thơ đọc chậm - 2012), điều không thể không nhận ra là Nguyễn Việt Chiến đã có nhiều dụng công về hình thức nghệ thuật. Trong những bàn luận ngắn này chúng tôi muốn nói đến tư duy kiến tạo nhịp điệu lục bát như là một khía cạnh rõ nhất trong cách tân hình thức thể loại của Nguyễn Việt Chiến.

Thể thơ lục bát vốn không xa lạ trong mỹ cảm cộng đồng Việt. Những thành tựu của thể thơ này gắn với những “thái sơn bắc đẩu” như Nguyễn Du, Nguyễn Gia Thiều, dịch giả Chinh phụ ngâm… Trong bối cảnh đương đại, lục bát cũng gắn với Nguyễn Duy, Đồng Đức Bốn, Văn Thùy, Đỗ Trọng Khơi, gần đây là Mật thư của Nguyễn Thế Hoàng Linh và tập thơ của Miên Di… Nguyễn Việt Chiến không phải là một cây lục bát, cũng không “ký cược” thi nghiệp của mình vào lục bát, nhưng anh có những bài lục bát để đời: Tiếng trăng, Cát đợi. Cùng với lục bát, người ta còn thấy Nguyễn Việt Chiến miên man, dịu dàng với thể thơ 4, 5 chữ, trầm tư không dứt với thể tự do… Với riêng thể lục bát, cách tạo nhịp bằng dấu chấm thực sự đã có hiệu quả trong việc điều tiết hơi thở, đặt người đọc vào tình thế phải “đọc chậm”. Sẽ không khó để nhận ra, đọc chậm là một đòi hỏi có tính tiên nghiệm của chủ thể sáng tạo đặt lên chủ thể tiếp nhận. Đọc chậm là cách để người ta sống trong không gian thơ, trải nghiệm một cách sâu sắc hơn những ấn tượng thi ca:

Tiếng ngàn xưa. Đã lặng im

Nhịp chày Yên Thái. Ngủ quên. Tháng ngày

May. Còn Trấn Quốc. Chùa đây

Tiếng chuông. Trên sóng. Vọng đầy khói sương

(Thương nhớ sâm cầm)

Đổi nhịp lục bát truyền thống (nhịp chẵn), gieo dấu chấm vào giữa dòng thơ, ấn định nhịp là cách mà Nguyễn Việt Chiến buộc người đọc phải tuân thủ ý niệm sáng tạo của anh. Tuy nhiên, vấn đề không dừng lại ở đấy, cũng không đơn giản như vậy. Tư tưởng của Nguyễn Việt Chiến gợi lên từ những dụng công ấy là một thông điệp văn hóa. Trong bối cảnh sống của con người đương đại, khi tốc độ trở thành một biểu hiện của sinh quyển hiện đại, nhiều giá trị đã bị lướt qua, bị bỏ rơi hay không có cơ hội được chiêm ngẫm một cách thấu đáo. Từ đọc chậm đến sống chậm là cách để con người cảm nhận được sự sống. Hóa ra, tốc độ, sự kết nối đa phương tiện lại chưa hẳn là cách thức để con người sống được nhiều hơn (chưa nói đến sống ý nghĩa hơn). Sống chậm mới là sống sâu sắc từng giây phút của hiện hữu. Cái dấu chấm giữa chuỗi lời kia khiến cho mọi thứ không trôi tuột đi, như là tiếng chuông còn ngân rung trên mặt sóng lãng đãng khói sương. Một cái tôi cô độc sống giữa muôn vàn cá thể cô độc khác, vậy nên Nguyễn Việt Chiến tha thiết níu giữ những nhân hình đang vội vã lướt qua cuộc đời. Tâm thế ấy anh dồn vào hình thức lục bát như là một sứ điệp gần gũi nhất của hồn dân tộc:

Hẹn em. Ở. Hội Chùa Thầy

Tháng Giêng. Lại gặp đò đầy. Chùa Hương

Trái mơ tơ tưởng. Còn vương

Thẹn thò. Ngực áo đẫm sương. Tơ tằm

Nón Chuông. Buông. Mắt lá dăm

Em. Xuôi đò dọc. Anh. Lầm đò ngang

(Mây tơ tằm)

Đọc thơ Nguyễn Việt Chiến thấy được những hiền lành tha thiết, những đăm đắm suy tư và mộng tưởng về cuộc đời, con người và các giá trị cốt thiết làm nên sự sống. Lưu đầy trong nỗi cô đơn, trong hoàn cảnh sống tha hóa, đánh mất những vùng trời bình yên thuở nguyên sơ, cố níu giữ tâm hồn con người... thơ Nguyễn Việt Chiến đã vận hành từ mỹ cảm cá nhân đến vấn đề có tính phổ quát của xã hội, cộng đồng, từ trường thẩm mỹ thơ ca đến trường văn hóa của thời đại. Trong ý niệm ấy, nỗi cô độc được hóa giải!

Gia Nghi



[1]. Truyện ngắn “Người khách trọ”, in trong Lưu đầy và quê nhà , A. Camus, Trần Phong Giao dịch, Giao điểm xuất bản, S, 1965.

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác