Hiện tượng truyện cũ viết lại trong văn học Trung Quốc hiện đại (*)

(Toquoc)- Liên văn bản (1) (Intertexuality) là khái niệm do nhà ký hiệu học - nhà phê bình chủ nghĩa nữ quyền người Pháp Julia Kristeva đề xuất lần đầu tiên vào cuối những năm 60 của thế kỉ XX. Tiếp sau những trường phái lí thuyết mang tính “cách mạng” như chủ nghĩa cấu trúc, chủ nghĩa hậu cấu trúc, hậu hiện đại, phê bình nữ quyền... lí thuyết liên văn bản đã đột phá mạnh mẽ vào lĩnh vực nghiên cứu lí luận và tạo thành một phạm vi thuật ngữ phê bình, đóng vai trò ngày càng quan trọng trong sáng tác và nghiên cứu văn học.

Lí thuyết liên văn bản chú trọng các ảnh hưởng văn bản hoá ngoại tại, tất cả các ngữ cảnh, bất luận là chính trị, lịch sử, xã hội, tâm lí, nghệ thuật đều có thể thành quan hệ “liên văn bản” với văn bản văn học (tức là mối liên kết hữu cơ giữa văn bản và các “văn bản” khác ngoài nó). Bản thân lí thuyết liên văn bản đã đem các nhân tố hợp lí của phê bình văn học của chủ nghĩa cấu trúc, chủ nghĩa lịch sử mới, và cả chủ nghĩa hậu hiện đại quy vào hệ thống của nó, có xu hướng hoàn thiện cho nó. Sự xuất hiện của lí luận liên văn bản vào những năm 60 - 70 của thế kỉ XX đã làm thay đổi căn bản cách hiểu về tác phẩm văn học, về mối quan hệ giữa các yếu tố: nhà văn - tác phẩm - người đọc trước đây. Bản chất của tác phẩm văn học không gì khác là sự xếp chồng các văn bản với nhau, và “bất kỳ văn bản nào cũng là liên văn bản” (R. Barthes). Mỗi văn bản đều là sự kết nối của các văn bản khác, mỗi văn bản đều là sự hấp thu và chuyển đổi với các văn bản khác, sự tham chiếu lẫn nhau giữa các văn bản đã hình thành nên một kết cấu mạng lưới có tính mở rộng, từ đó cấu thành hệ thống mở rộng cực lớn của văn bản quá khứ, hiện tại, tương lai và quá trình diễn biến của ký hiệu học văn học (2).

Ở Trung Quốc, lí luận liên văn bản sau khi được tiếp nhận đã nhanh chóng thu hút được sự quan tâm của giới nghiên cứu và sáng tác văn học. Các bản dịch xuất hiện ngày càng nhiều đã giới thiệu một cách cơ bản nhất về lí luận liên văn bản (3). Đặc biệt từ thập niên 90 của thế kỉ XX lại nay, nhiều học giả trong nước (Trung Quốc) đã vận dụng lí luận này một cách khá phổ biến vào việc tìm hiểu và khám phá lại các tác phẩm văn học cổ điển và hoạt động dịch thuật thơ ca.

Khi bàn về liên văn bản, L.P. Rjanskaya cho rằng: liên văn bản có thể được diễn giải như là “1/ thủ pháp văn học cụ thể; 2/ nguyên lý phổ quát của sự tồn tại của văn bản văn học; 3/ hình ảnh “thế giới như văn bản”. Mỗi kiểu liên văn bản có thể tồn tại trong văn bản một cách tự thân hay kết hợp với hai kiểu kia, là yếu tố xác định văn bản phù hợp với ý đồ của tác giả hoặc có thể do độc giả hay nhà phê bình mang lại mà tác giả không biết”(4). Xét theo sự diễn giải này, hiện tượng truyện cũ viết lại trong văn học Trung Quốc hiện đại cũng là một dạng liên văn bản. Nói cụ thể hơn, nó là một thủ pháp văn học xác định (trích dẫn, ám chỉ, bình giải, nhại, bắt chước, vay mượn); có nghĩa là đòi hỏi sự hiện diện của văn bản gốc đã có trước và xu hướng của tác giả sử dụng văn bản gốc đó.

Việc xác định một tên gọi chính xác nhất và đầy đủ nhất cho hiện tượng viết lại các truyện cũ, viết lại các kinh điển không quá khó khăn nhưng vẫn chưa có sự thống nhất. Ở Trung Quốc, người ta dùng khá nhiều thuật ngữ để nói về hiện tượng này, như: cố sự tân biên(故事新编), trùng tân cải biên(重新改变), cải biên(改变), cải tả(改写), tái sáng tác(再创作)… trong đó được sử dụng phổ biến nhất là hai thuật ngữ: cải tả hay trùng tả (viết lại) và cố sự tân biên (truyện cũ viết lại).

Viết lại (5) vốn là hiện tượng văn học rất phổ biến trong lịch sử. Hiểu đơn giản, đây là một loại hình sáng tác - một phương thức cải biến các tác phẩm văn học đã có từ trước. Viết lại bao gồm các hình thức: viết lại 改写, viết thu gọn (缩写), viết mở rộng (扩写), trích dẫn, vay mượn. Khi viết mở rộng (扩写), người viết có thể phát huy trí tưởng tượng của bản thân, làm cho các tình tiết sinh động, phong phú hơn, song không tách rời khỏi nội dung hạt nhân của văn bản gốc. Viết lại (cải tác) “cũng có thể xem là một cách diễn giải văn học. Khảo sát tác phẩm văn chương cùng việc tiếp nhận nó qua hình thức cải tác mở ra một hướng tiếp cận mới. Tiếp cận liên văn bản (intertextual approach) đặt văn bản trong một mạng lưới mới của những quan hệ với các văn bản khác” (6)

Trước hết xin nói về thuật ngữ “Cố sự tân biên” mà chúng tôi xem là biểu hiện dễ thấy nhất của hiện tượng liên văn bản. Cố sự tân biên (7) là tên một tác phẩm nổi tiếng của nhà văn Trung Quốc Lỗ Tấn được xây dựng trên cơ sở các thần thoại, truyền thuyết và lịch sử Trung Quốc cổ đại. Trong quá trình “làm mới” lại (tân biên) các “truyện cũ” (cố sự), Lỗ Tấn đặc biệt quan tâm đến trạng thái sinh tồn của con người, đến nỗi cô đơn và tuyệt vọng của con người trong cuộc sống, từ đó tiến hành phản tư đối với văn hóa truyền thống Trung Quốc. Hay nói cách khác, nhà văn sử dụng chính truyền thống để phản tư truyền thống. Về sau “cố sự tân biên” trở thành một thuật ngữ văn học được sử dụng tương đối phổ biến ở Trung Quốc chỉ sáng tác văn học theo hình thức viết lại, làm mới lại các truyện cũ. Trong bài viết này, chúng tôi chủ yếu sử dụng thuật ngữ cố sự tân biên để xem xét một hiện tượng văn học mà lí thuyết văn học ở phương Tây coi là một trong những biểu hiện của “liên văn bản”.

Cố sự tân biên thường lấy hình thức tiểu thuyết để viết lại một cách có ý thức các thần thoại, truyền thuyết, nhân vật, điển tích, văn hiến lịch sử cổ đại,v.v… Tiểu thuyết theo thể cố sự tân biên xuất hiện sớm nhất vào thời Mãn Thanh, với hai tác phẩm đại diện là: Tân kýnh hoa duyên (8) của Trần Tiếu Lô, và Tân thạch đầu ký (9) của Ngô Kiển Nhân. Cố sự tân biên dần trở thành một phương thức sáng tác độc đáo và là thể văn có sức sống đặc biệt trong lịch sử văn học Trung Quốc thế kỉ XX.

Đặc điểm lớn nhất của kết cấu trần thuật của tiểu thuyết viết lại là phá vỡ quan niệm không gian - thời gian cố hữu, kết hợp cổ kim, chuyện cũ - chuyện mới, làm thành một loại kết cấu trần thuật “chưa hoàn thành”, vừa tác động vào trí nhớ của người đọc (về những điều đã biết) vừa khơi gợi trí tưởng tượng và cảm nhận mới của họ. Theo Gérard Genette, cái gọi là intertextualité (liên văn bản) được phân thành 2 dạng rạch ròi: văn nhại, phỏng theo và trích dẫn, đạo văn, bóng gió. Có thể tạm xếp cố sự tân biên vào loại thứ nhất. Cũng cần nói thêm rằng, hiện nay Game online (trò chơi trên mạng Internet, như: Tru Tiên Online, Kim Bình Mai Online ,..) cũng là một hình thức liên văn bản độc đáo và hiện đại. Các trò chơi này tái hiện lại các truyện cũ (chủ yếu là truyện kiếm hiệp) thông qua những hình ảnh động và qua tương tác giữa người chơi với thiết bị (máy tính, điện thoại di động) và giữa các người chơi với nhau. Hình thức liên văn bản này đòi hỏi “người đọc” phải nắm được “luật chơi”, cùng lúc vận dụng nhiều thao tác (tư duy, hoạt động: tay, mắt, tai).

Ở Trung Quốc, một trong những tác giả tiêu biểu, có vai trò “mở đường” cho thể văn cố sự tân biên hiện đại là nhà văn Lí Bích Hoa, với tác phẩm nổi tiếng Thanh xà (10). Tác phẩm này xuất phát từ góc nhìn nữ tính độc đáo, phục hưng lại câu chuyện truyền kì về bạch xà, qua đó thẩm thị lại văn hóa truyền thống bằng cái nhìn hiện đại, giải cấu trúc ý nghĩa văn hóa của văn bản cố định, đồng thời biểu đạt tình cảm và khuynh hướng thẩm mĩ của bản thân tác giả. Thanh xà trực tiếp viết lại truyền thuyết dân gian Bạch xà truyện, hoàn toàn lấy quan niệm của người hiện đại để kể lại một câu chuyện truyền kì, khắc họa mâu thuẫn cơ bản nhất giữa con người, yêu quái và Phật khi đối diện với tình yêu. Trong câu chuyện Thanh xà, “tân biên” chủ yếu thể hiện ở chỗ: cải biến một số nhân tố trần thuật và hình tượng nhân vật (11).

Cố sự tân biên, nói một cách đơn giản chính là bình cũ rượu mới. Làm phong phú thêm các truyện ngụ ngôn, đồng thoại, thần thoại, các nhân vật kinh điển, hoặc các câu chuyện vốn đã quen thuộc, cung cấp cho chúng tinh thần hiện đại, để làm nên những câu chuyện mới. Về cách viết loại văn này, trước hết phải nắm vững văn bản gốc (cố sự), trên cơ sở đó triển khai hợp lí phần tưởng tượng, như tâm lí, tình tiết…, nhưng lại không thể tự do phóng bút “vô điều kiện”; hai là phải tìm tòi cái mới, tuyệt đối không quá nệ cổ; ba là phải liên kết các chủ đề nội dung lại với nhau, không thể tùy hứng mà rời xa chủ đề gốc; bốn là phải tạo quan hệ với hiện thực. Các văn bản truyền thống được “khám phá” lại, được viết lại bởi một tác giả khác ở một thời khác, tức là được đưa vào một khung cảnh văn hóa khác, do đó có thêm những nghĩa mới. Văn bản mới được đọc khác đi không chỉ nhờ khung cảnh văn hóa mới, mà còn nhờ khung cảnh của sự sáng tạo riêng. Nếu chỉ lặp lại, trích dẫn những văn bản của người khác thì không thể đạt được sự lặp lại ý nghĩa.

Mấy năm gần đây, trên văn đàn Trung Quốc xuất hiện ngày càng nhiều tác phẩm viết theo thể cố sự tân biên, và đã có không ít tác phẩm xuất sắc. Quan niệm của các nhà văn về thể cố sự tân biên đơn giản là: tác giả sử dụng các tác phẩm đã nổi tiếng để tiến hành cải biên, dùng cái nhìn hiện đại để thẩm thị lại hình tượng nhân vật, tình tiết câu chuyện, và nội dung tư tưởng của tác phẩm; tổ chức lại hình tượng nhân vật, tình tiết câu chuyện, nội dung tư tưởng trong nguyên tác để phản ánh hiện thực cuộc sống đương đại, từ đó thể hiện một phương thức sáng tác mới. Một điều dễ nhận thấy là ở Trung quốc, tứ đại kì thư thời Minh - Thanh được rất nhiều người ưa thích và lựa chọn để viết lại, sáng tạo lại dưới hai hình thức phổ biến là tiểu thuyết và phim, hiện nay xuất hiện thêm hình thức thứ 3 cũng khá ăn khách là Game online.

Tiểu thuyết Hồng lâu mộng của Tào Tuyết Cần, được nhiều nhà làm phim Trung Quốc tái hiện lại qua các bộ phim như: Hồng lâu mộng, Tân hồng lâu mộng, Đại Ngọc truỵên. Gần đây nhất cuốn kì thư này đã được nhà văn Nhật Ashibe Taku chuyển thể thành tiểu thuyết hình sự tân thời với tên gọi khá ăn khách Án mạng lầu hồng (xuất bản tại Nhật năm 2004). Trong đó, nhân vật chính Giả Bảo Ngọc trở thành thám tử “nghiệp dư” phá vụ án giết người hàng loạt tại Giả phủ mà nạn nhân là các cô gái trong Kim Lăng thập nhị thoa.

Truyện bắt đầu bằng cảnh Bảo Ngọc cùng các cô gái xinh đẹp nhà họ Giả được Nghênh Xuân mời đến Đại Quan viên. Nghênh Xuân là chị gái của Bảo Ngọc được tuyển vào cung làm quý phi. Để đón chào cô về thăm nhà, họ Giả đã cho xây hẳn một Đại Quan viên tráng lệ và rộng lớn. Nhưng trong lần về thăm nhà này, Nghênh Xuân lờ mờ cảm nhận được có một tội ác nào đó sẽ xảy ra. Vì vậy, cô cho mời họ hàng đến đây để lánh nạn. 

Cuốn sách ban đầu diễn biến rất chậm. Nhưng sau khi thi thể Nghênh Xuân được phát hiện đang nổi lênh đênh trên mặt hồ trong khu vườn, một loạt cái chết khác liên tục diễn ra. Nhịp độ cuốn tiểu thuyết tăng dần lên đúng với đặc trưng của thể loại trinh thám (12), khác hẳn với nhịp điệu tự sự trong văn bản gốc - tiểu thuyết Hồng Lâu Mộng.

Ashibe Taku sử dụng lại toàn bộ nhân vật trong Hồng Lâu Mộng của Tào Tuyết Cần, nhưng lại “tân biên” với “phong cách và cốt truyện khác hẳn”. Nguyên gốc Hồng Lâu Mộng của Tào Tuyết Cần là cuốn tiểu thuyết viết về những mối tình giai nhân - tài tử. Tác phẩm tái hiện lại cuộc sống xa hoa ở Giả phủ, cùng những mối quan hệ tình cảm đan xen…, từ đó phản ánh bức tranh toàn cảnh về xã hội phong kiến Trung Quốc trong buổi suy tàn. Án mạng lầu hồng khác với những tác phẩm viết lại Hồng lâu mộng đã có trước đó, thuần túy là cuốn tiểu thuyết trinh thám với hệ thống tình tiết là các vụ giết người hàng loạt. Taku mượn Hồng lâu mộng làm bối cảnh nền cho tác phẩm của mình, đặc biệt nhiều tình tiết trong Hồng lâu mộng được ông sử dụng một cách nhuần nhuyễn. Sự phóng tác, tái sáng tạo của Ashibe Taku đi khá xa so với nguyên bản. Hồng lâu mộng với 120 chương, 732 nhân vật được mệnh danh là đại kỳ thư về nhiều phương diện (nghệ thuật, âm nhạc, thơ ca, hội họa, đạo đức, ẩm thực…) của văn học cổ Trung Quốc, trong khi Án mạng lầu hồng về cơ bản là cuốn tiểu thuyết bình dân. Ngôn từ thơ ca của Hồng lâu mộng đã bị thay thế bởi ngôn ngữ khẩu ngữ hiện đại trong Án mạng lầu hồng. Nhân vật Giả Bảo Ngọc từ một công tử hào hoa trở thành một thám tử không chuyên.

Sau khi cuốn sách ra mắt bạn đọc Trung Quốc vào đầu năm 2009, ngay lập tức đã xuất hiện hai luồng phản ứng trái chiều nhau. Một số tỏ ra hứng thú, số khác lại tỏ ra “bất bình” vì cho rằng tác phẩm của Taku đã báng bổ Hồng Lâu Mộng của Trung Quốc.

Mới đây, sự kiện một cô gái trẻ viết tiếp Hồng Lâu Mộng trên mạng Internet cũng khiến dư luận và báo giới hết sức quan tâm. Tác giả bắt chước bút pháp của Tào Tuyết Cần, căn cứ vào các tình tiết của nguyên tác và tham khảo những nghiên cứu của các nhà Hồng học để xây dựng khung bố cục, và tự mình sáng tạo nội dung tình tiết.

Tiểu thuyết Kim Bình Mai của tác giả Vương Thế Trinh vốn được phát triển từ một số tình tiết trong truyện Thủy Hử của Thi Nại Am, về sau cũng được khá nhiều đạo diễn chuyển thể thành phim. Hay từ truyện Tam quốc diễn nghĩa của nhà văn La Quán Trung, người ta có thể lẩy ra các câu chuyện nhỏ khác cũng không kém phần hấp dẫn như: Kết nghĩa vườn đào, Quan Vũ, Ngựa xích thố, Cái chết của xích thố, Lưu Bị thăm bạn, Đại chiến Xích Bích...

Trong số bốn tiểu thuyết lớn của Trung Quốc thời Minh - Thanh, Tây du ký được xem là tác phẩm hấp dẫn nhất đối với người đọc mọi thế hệ. Sức hấp dẫn của nó đã tạo nên không gian sáng tạo vô cùng đa dạng cho các tác giả về sau này để viết lại chính nó.

Tây du ký là câu chuyện trường thiên về hành trình thỉnh kinh của năm thầy trò: Tam tạng, Tề thiên, Bát giới, Sa tăng, và con ngựa trắng. Trong tiểu thuyết, Huyền Trang được Quan Âm Bồ Tát bảo đến Tây Trúc thỉnh kinh Phật giáo mang về Trung Quốc. Từ hàng trăm năm nay, Tây du ký được “cải biên”, tái sáng tạo hoặc viết tiếp không chỉ ở Trung Quốc mà còn ở một số quốc gia khác trên thế giới dưới nhiều hình thức khác nhau: tiểu thuyết, hí khúc, kịch truyền hình, kinh kịch, tuồng, điện ảnh, hội họa…

Có thể kể tên một số tác phẩm viết lại, sáng tạo lại hoặc viết tiếp Tây du ký như sau:

- Tiểu thuyết: Tục tây du ký, Hậu tây du ký, Tân tây du ký, Tây du tân ký, Đông du tân ký.

- Tiểu thuyết mạng: Ngộ không truyện.

- Điện ảnh: Tân tây du ký (Đài Loan), Đại thoại tây du (Hồng Kông)...

- Kịch truyền hình: Tây du ký (Trung Quốc), Tây du ký hậu truyện, Tây du ký (Nhật Bản), Tề Thiên Mĩ hầu vương (Đài Loan).

- Kịch sân khấu: Tây du ký

- Kinh kịch: Ba lần đánh bạch cốt tinh  

- Trò chơi điện tử: Đại thoại tây du, Mộng ảo tây du, Tây du ký MUD...

Không gian của Tây du ký bao trùm lên nhiều tiểu thuyết có một giá trị nhất định khác như Bình Yêu truyện, Phong Thần diễn nghĩa, hoặc có liên quan ít nhiều với nó như Đông du ký, Bắc du kýNam du ký. Tây du ký còn có liên hệ đến những hí khúc mà phần lớn tác giả và thời kỳ sáng tác đều không rõ ràng. Những kịch bản ấy mà nội dung có liên hệ đến Tây du ký và còn được nhắc đến là Tỏa Ma Kính, Tây du dý tạp kịch, Na Tra tam biến, Tỏa Bạch Viên, Tề Thiên Đại Thánh, Trảm Kiện Giao Ngũ Long Triều Thánh (13). 

Ở đây chúng tôi chỉ xin đề cập đến một trường hợp viết lại Tây du ký, nhằm làm ví dụ minh họa cho sự phong phú thể cố sự tân biên, đó là tác phẩm Tân tây du ký của tác giả Trần Cảnh Triều. Tác phẩm này gồm có năm hồi, là cuốn tiểu thuyết châm biếm hoang đản, tiêu biểu cho tiểu thuyết thời mãn Thanh. Cấu tứ của nó là lấy 5 nhân vật thần thoại chính trong Tây du ký, đặt vào bối cảnh xã hội Trung Quốc cuối đời Thanh. Tính “cố sự” ở tác phẩm này không còn đậm nét.

Đường tăng cùng đệ tử phụng mệnh Phật tổ Như Lai đến Tây Ngưu Giá Châu để khảo sát tình hình tân giáo. Sau đó họ đến Thượng Hải. Tại đây Ngộ Không nhận thấy, người dân tỏ ra sợ hãi và trốn tránh người ngoại quốc. Đồng thời bốn thầy trò được tận mắt chứng kiến rất nhiều điều chướng tai gai mắt của xã hội thực dân nửa phong kiến. Đường Tăng và Trư Bát Giới mấy lần rơi vào cạm bẫy (bị giam tại kĩ viện, bị mê hoặc và trúng độc nha phiến, Trư Bát Giới bị quy là “phần tử” thuộc phái duy tân...), Tôn Ngộ Không phải nhiều phen biến hóa để cứu sư phụ. Chi tiết hiện đại hơn cả là bốn thầy trò Đường Tăng tham gia trường học ngoại ngữ Trung Anh.

Tân tây du ký của Trần Cảnh Triều có dáng dấp của “tiểu thuyết hoạt kê” (gây cười), thực chất hình thức bên ngoài là hoang đản, song nội dung bên trong lại gần với hiện thực, gắn bó với hiện thực. Tác giả sử dụng bút pháp khôi hài để biểu đạt những vấn đề xã hội hết sức nghiêm túc, cấu tứ tác phẩm mới lạ, ngôn ngữ mang đặc điểm u mua hài hước. Bốn thầy trò Đường Tăng bước từ thế giới hoang đường ra thế giới hiện thực, họ được nhà văn Trần Cảnh Triều “trần tục hóa”, họ “sinh hoạt” như những người dân bình thường vào thời đại đó. Tác phẩm của Trần Cảnh Triều bảo lưu toàn bộ nhân vật chính của nguyên tác Tây du ký, khoác cho họ tấm áo hiện đại và đặt họ vào trong bối cảnh “tân biên”, với những tình tiết “tân biên”, mang lại cho người đọc cảm nhận hoàn toàn mới. Hiệu quả nghệ thuật và mức độ thành công của Tân tây du ký, tất nhiên, còn tùy thuộc vào đánh giá của độc giả.

Qua một số trường hợp nêu trên, có thế thấy rõ: hoạt động viết lại, sáng tạo lại co giãn ở các tác giả khác nhau. Viết lại, cố sự tân biên thực chất là một thời kì quá độ, quá trình đó bao hàm cả yếu tố văn hóa dân tộc, văn hóa thời đại và kinh nghiệm, tình cảm của bản thân tác giả. Do vậy nếu người viết thiếu đi ý thức tự giác văn hóa, thì tác phẩm của họ chỉ là thuần túy mô phỏng chứ không phải là “viết lại”.

Tác giả Chu Minh Truyền đã tổng kết lại nguyên tắc và phương pháp sáng tác của thể cố sự tân biên như sau:

1/ Lấy nguyên tác làm cơ sở, kết hợp với sáng tạo của bản thân người viết. Trong quá trình làm mới các nguyên tác, cần lấy việc bảo tồn diện mạo cơ bản của nguyên tác làm tiền đề, từ đó tiến hành “gia công” nghệ thuật.

2/ Cải biến tình tiết truyện cũ, đồng thời kết hợp với nội dung hiện thực

Khi sử dụng truyện cũ để viết lại, không những phải khái quát và chắt lọc nội dung, mà còn phải trực tiếp đi sâu vào tình tiết hiện thực, phục vụ cho hiện thực xã hội; có thể kết hợp nguyên tắc của chủ nghĩa hiện thực và kĩ xảo của chủ nghĩa lãng mạn, để đạt được sự thống nhất hài hòa. Có thể lấy trường hợp Quách Mạt Nhược khi sáng tạo lại tác phẩm kịch lịch sử Khuất Nguyên làm ví dụ. Căn cứ vào tình hình trong nước lúc đó, Quách Mạt Nhược đã “lấy sự phẫn nộ của thời đại mình đặt vào thời đại Khuất Nguyên”. Ở phần kết, tác giả thông qua thủ pháp của chủ nghĩa lãng mạn, “giải thoát” Khuất Nguyên ra khỏi vòng bi kịch, để Khuất Nguyên quyết tâm rời bỏ quốc quân, và đi vào đời sống dân gian. Như vậy, xuất phát từ hiện thực, Quách Mạt Nhược bằng việc tái hiện lại một bi kịch lịch sử đã phản ánh yêu cầu thời đại và nhân dân. Do đó tác phẩm chứa đựng ý nghĩa hiện thực sâu sắc.

3/ Mượn tình tiết và nhân vật của nguyên tác để phục vụ cho chủ đề tư tưởng của tác phẩm mới. Do chỗ mâu thuẫn xung đột trong tác phẩm mới đã có khác so với nguyên tác, nên bản chất của hình tượng nhân vật, chủ đề tư tưởng cũng không giống với trong nguyên tác. Tóm lại, thực chất của cố sự tân biên là “bình cũ rượu mới”.

4/ Lấy đề tài từ nguyên tác, truy cầu cái mới, cái khác lạ. Trong tư duy sáng tạo, truy cầu cái mới, cái khác lạ là một trong những điểm đóng vai trò quan trọng nhất. Nếu vận dụng hợp lí cách thức cấu tứ này, sẽ góp phần làm cho chủ đề tư tưởng của tác phẩm mới được thăng hoa (14).

Cố sự tân biên đã được xem là một thể văn (Thể cố sự tân biên) trong văn học Trung Quốc thế kỉ XX. Phương thức sáng tác độc đáo này mang lại cho người viết một không gian sáng tạo mới. Ở các trường học phổ thông của Trung Quốc, việc học sinh sử dụng thể cố sự tân biên để viết văn rất được ủng hộ. Vì một mặt học sinh buộc phải đọc và nắm được các tác phẩm kinh điển trong nước và trên thế giới, mặt khác phải có tư duy sáng tạo, biến cũ thành mới mà cái cũ không mất đi, cái mới vẫn hấp dẫn. Thể văn này cũng được xem là một cách thức giải trí đối với học sinh Trung Quốc hiện nay.

Việc chọn một hiện tượng văn học truyền thống để viết lại ở thể cố sự tân biên không phải là một lựa chọn ngẫu hứng, mà là lựa chọn có căn cứ. Có thể tạm nêu lên ba căn cứ đó như sau:

Thứ nhất, do nội hàm đề tài phong phú đa dạng: thể cố sự tân biên dựa trên các tác phẩm cổ điển, sự thực lịch sử, các nhân vật nổi tiếng và các hình tượng điển hình trong các tác phẩm kinh điển, trong đó tiềm ẩn những tư liệu phong phú về ý thức thẩm mĩ và tâm lí văn hóa của dân tộc. Những đề tài như vậy luôn chứa đựng nội hàm văn hóa sâu xa và là tiền đề cho các nhà văn sau này xây dựng các tác phẩm mới.

Thứ hai, do có sự cộng hưởng tình cảm đặc biệt: các câu chuyện mà thể cố sự tân biên dựa vào thường là những câu chuyện đã được lưu truyền rộng rãi, được nhiều người biết đến. Khi đọc các tác phẩm mới được viết lại từ các truyện cũ, người đọc có thể tìm thấy một sự cộng hưởng riêng.

Thứ ba, do có khả năng tạo không gian sáng tạo rộng lớn: yếu tố quan trọng nhất của “tân biên” rõ ràng là sự sáng tạo, làm mới lại các chất liệu sẵn có từ văn bản gốc (văn bản thứ nhất), đây cũng là yếu tố quyết định sự thành công của văn bản mới. Mặt khác, sự mở rộng của đề tài gốc, sự phái sinh của chi tiết, sự phong phú của tính cách nhân vật trong truyện cũ đều cung cấp không gian sáng tạo rộng lớn cho “tân biên”.

Các phương thức cấu tứ (thi pháp) cơ bản của thể cố sự tân biên là: phép thay thế hình thức văn bản (có thể chuyển tác phẩm gốc từ kịch sang tiểu thuyết, từ thơ ca sang tản văn); phương pháp mở rộng chi tiết; viết tiếp chi tiết….

Viết lại truyện cũ cũng không phải là hiện tượng chỉ có ở Trung Quốc, ở phương Tây gần đây, người ta đã khá quen thuộc với hiện tượng viết lại truyện cổ tích và những câu chuyện thần kì với kết thúc mang màu sắc hiện đại, độc giả vẫn đọc lại những câu chuyện tưởng như đã rất cũ bằng một niềm hứng thú mới.

Trong một nghiên cứu mới đây của tác giả Vanessa Joosen (15), hình thức viết lại truyện cổ tích được sử dụng khá hiệu quả cho việc giáo dục trẻ em ở phương Tây. “Ngày xửa ngày xưa, các câu chuyện thần kỳ được viết cho cả trẻ em và người già. Chỉ đến thế kỷ trước thì những câu chuyện này mới được xem là chỉ phù hợp với trẻ em và bị lược bỏ nhiều tình tiết phức tạp, thú nhục dục, cảm giác kinh sợ” (16),... Trẻ em thường phản ứng lại những điều đó theo mức độ cảm xúc của chúng. Và dần dần, những câu chuyện thần kỳ được các nhà văn hiện đại thuật lại đã đạt đến sự tương xứng tự nhiên đối với trẻ nhỏ và thanh niên.

Việc viết lại các truyện cũ, các tác phẩm kinh điển cũng là một cách thể hiện sự khôi phục các giá trị văn hóa truyền thống. Nhà văn mượn các văn bản truyền thống và các câu chuyện truyền kì vốn đã rất quen thuộc đối với độc giả để “cải biên”, viết lại thành những hình tượng mới, những câu chuyện mới, mang lại cho người đọc thể nghiệm tình cảm mới mẻ và cách đọc, cách cảm thụ khác lạ. Nói chung, nó là hiện tượng sáng tạo nghệ thuật tích cực.

Có thể thấy, “cố sự tân biên” là chiếc chìa khoá vàng cho sáng tác mới, ít nhất là ở Trung Quốc - nơi vốn có truyền thống văn hóa hàng ngàn năm và cực kì phong phú, song “cố sự tân biên” cũng không phải là chiếc chìa khoá vạn năng. Nếu biết vận dụng hợp lí sẽ đạt được hiệu quả nghệ thuật cao, mang lại cho người đọc những cảm hứng mới từ những câu chuyện tưởng như đã cũ, đã trở thành kinh điển, nhưng nếu thiếu ý thức sáng tạo nó sẽ gây sự nhàm chán. Cần lưu ý rằng, khi sử dụng thể cố sự tân biên để viết, nhất định không thể vì cái “mới” mà cải biên hoàn toàn chuyện cũ, bên cạnh việc chú ý đảm bảo tôn trọng nguyên tác gồm: nội dung tư tưởng, tình tiết câu chuyện, tính cách nhân vật, đặc sắc ngôn ngữ,... còn phải cung cấp những tình tiết, những sự phát triển và chuyển đổi tính cách nhân vật phù hợp với logic. Có như vậy, tác phẩm mới mới có thể hoà hợp với nguyên tác, bảo lưu được bản sắc văn hoá của câu chuyện gốc.

Lê Thị Dương

--------------------

(*) Hiện tượng truyện cũ viết lại trong văn học Trung Quốc hiện đại (nhìn từ lí thuyết liên văn bản)

(1) Nguyên văn tiếng Trung: 互文性 (Hỗ văn tính) hay 文本互涉(văn bản hỗ thiệp)

(2) Chu Hòa Quân - Mối quan hệ liên văn bản giữa trần thuật học văn học và trần thuật học điện ảnh, Văn đàn đương đại, số 3-2008

(3) Một số cuốn sách chuyên biệt về lí thuyết liên văn bản đã ra mắt, như cuốn Liên văn bản của Vương Cận, Nxb Đại học sư phạm Quảng Tây, năm 2005; cuốn Góc độ liên văn bản của nghiên cứu dịch thuật, tác giả Tần Văn Hoa, Nxb Thượng Hải dịch văn, năm 2006.

(4) LP.Rjanskaya, Liên văn bản - sự xuất hiện của khái niệm về lịch sử và lý thuyết của vấn đề, Ngân Xuyên dịch. Tạp chí nghiên cứu văn học, số 7-2007

(5) 改写 (Cải tả), 重写 (trùng tả): tạm dịch là Viết lại.

(6) Nguyễn Nam, Cái bóng và những khoảng trống trong văn chương (Đọc Chuyện người con gái Nam Xương), Tạp chí nghiên cứu văn học, số 4-2004

(7) 故事新编 (Cố sự tân biên): truyện cũ viết lại

(8) 新镜花缘 (Tân kýnh hoa duyên): là cuốn tiểu thuyết phản chủ nghĩa nữ quyền. Bối cảnh tác phẩm này là Trung Quốc thời cận đại - đây là giai đoạn chuyển giao mãnh liệt giữa cái cũ và cái mới, nhưng hai phái cũ mới vẫn chưa phân biệt thật rạch ròi, trong cũ có mới, trong mới có cũ. Vào thời điểm đó nổi lên một phái giả duy tân: bề ngoài họ nêu cao ngọn cờ duy tân, nhưng bên trong vẫn suy tôn cái cũ, thực chất mục đích của họ là phản duy tân. Tác giả Trần Tiếu Lô cũng nằm trong số đó. Tân kýnh hoa duyên là cuốn tiểu thuyết mượn  việc đề xướng nữ quyền để quay ngược trở lại phản đối nữ quyền.

(9) 新石头记 (Tân thạch đầu ký): là tác phẩm quan trọng của tác giả Ngô Kiển Nhân, đồng thời cũng là cuốn tiểu thuyết quan trọng của văn học Trung Quốc cận đại. Tác phẩm kế thừa sự phê phán xã hội của Hồng lâu mộng, phản ánh tinh thần chủ nghĩa hiện thực trong cuộc sống. Cuốn tiếu thuyết này lấy nhân vật Giả Bảo Ngọc trong nguyên tác của Tào Tuyết Cần cùng bối cảnh là giai đoạn nhà Thanh trên con đường đi từ hưng thịnh đến suy vong. Trong Tân thạch đầu ký, Giả Bảo Ngọc được “phục sinh” vào năm 1901, anh ta đi khắp nơi, từ Thượng Hải, Nam Kinh, đến Bắc Kinh, Vũ Hán, …, Nhà văn thông qua hành trình và kinh nghiệm của nhân vật này để thể hiện đặc trưng xã hội và đặc trưng văn hóa phong phú, đa dạng, phức tạp, đầy biến động của xã hội Trung Quốc nửa thực dân nửa phong kiến, miêu tả sự lạc hậu, hủ bại của xã hội đó. Đồng thời cũng bày tỏ lí tưởng xã hội của bản thân.

(10) 青蛇 (Rắn lục)

(11) Dương Sán, Bàn về thủ pháp tự sự của thể cố sự tân biên trong “Thanh xà”, Tập san văn học Trung Quốc, kì 3-2009.

(12) Theo Hà Linh, Ầm ĩ vì truyện “Hồng lâu mộng” thành truyện trinh thám, http://60s.com.vn/index/1325814/15042008.aspx

(13) Nakano Miyoko, Quá trình xây dựng nhân vật Tôn Ngộ Không - tiểu thuyết Tây Du Ký dưới cái nhìn dân thoại học, Nguyễn Nam Trân biên dịch và chú thích, theo: http://www.thienlybuutoa.org/Books/GiaiMaTayDu/BaiTongQuan.htm

(14) Chu Minh Truyền, Tìm hiểu cấu tứ sáng tạo của phương pháp “cố sự tân biên”, cnki.net

(15) Vanessa Joosen (1977) giành được bằng Thạc sĩ về Văn học Anh và Đức tại trường đại học Antwerp và bằng Thạc sĩ về Văn học trẻ em của trường đại học Surrey Roehampton. Vào năm 2003, cô đã nhận học bổng FWO để làm Tiến sĩ tại trường đại học Antwerp. Cô nghiên cứu sự tương tác giữa việc thuật lại các câu chuyện thần kỳ và phê phán những câu chuyện này trong giai đoạn từ năm 1970 đến năm 2000.

(16) Terri Windling: Everything Old is New Again: Retold Fairy Tales & Legends, what are they?, theo: Tài liệu về giáo dục dành cho trẻ em. Tập 36, Số 2, tháng 6 năm 2005; DOI: 10.1007/s10583-005-3501-x

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác