Hiện hữu thân xác trong văn học

“Thân, trách thân nè. Thân sao chớ lận đận nè” (Than thân trách phận - Dân ca Phú Yên). Hiện hữu thân xác theo thế nhìn hiện tượng luận, nghĩa là đã có sự đổi thay thế giới quan về thân xác lý giải vì sao văn học hiện/hậu hiện đại lấy thân xác như một thủ pháp nghệ thuật quan trọng để triển khai sự viết. Thế nhìn hiện/hậu hiện đại có mối dung thông với các thế nhìn hiện tượng luận.

1. Hiện hữu thân xác thì không xa lạ. Thoạt kỳ thủy, tư duy loài người đã vấp phải câu hỏi mang tính bản mệnh: con người hiện hữu như thế nào? Để trả lời cho câu hỏi ấy, các quan niệm duy linh cổ sơ về cơ bản, nhìn nhận con người hiện hữu qua hồnxác. Hiện hữu thể xác là thiết thân, vì cơ thể tôi, của tôi, là một kinh nghiệm trực quan, khi nó ốm, đau, nóng, lạnh, muốn làm tình… tôi lập tức nhận biết. Nên cứ có biến cố gì trong đời, người ta thường quy giản biến cố ấy về cho một thân xác: Thân trách thân, thân sao lận đận. Thân xác vì thế cũng có khi hiểu luôn là hiện hữu ở đời. Hiện hữu thể xác bởi thế luôn bị chế ước bởi không gian và quy định bởi thời gian vì tồn tại thể xác chỉ là tồn tại hữu hạn thể lý. Nhưng với tư cách là sinh thể tư duy, con người làm sao chỉ có thể chấp nhận có tồn tại thể xác mang tính sinh vật. Sinh thể “cao quý” - con người ấy, hắn còn hiện hữu trong phần hồn. Hiện hữu linh hồn thì tự do. Linh hồn có thể thỏa sức lang thang rong chơi, bay bổng và giao tiếp với các thần linh. Thế nên, hiện hữu hồn phải khác hiện hữu xác. Hiện hữu hồn không bị thời gian ước thúc, không gian quy định, linh hồn thì bất tử. Kinh nghiệm thần bí của các tộc người trên thế giới đều chỉ ra linh hồn thường đi lang thang trong giấc ngủ, nên nếu vi phạm cấm kỵ, khiến linh hồn không quay về nữa thì thể xác chỉ còn là một thể xác “bất thường” (điên), bị cộng đồng loại bỏ. Triết gia Hy lạp cổ đại Platon thì quan niệm, chỉ có linh hồn mới cao quý, thân xác là nhà tù giam cầm linh hồn. Thân xác sau một thời gian hạn định (đời người) sẽ trở về hư vô/chết. Còn linh hồn thì “sống tiếp”, “sống mãi”, “sống trường tồn” trong những ngôi nhà thân xác mới (quan niệm luân hồi, đầu thai rất phổ biến của nhiều dân tộc): “Thấy hiu hiu gió thì hay chị về” (Truyện Kiều). Đến thời tôn giáo thống trị, hàng ngàn năm trung cổ là quá trình loại bỏ hiện hữu thân xác, chỉ linh hồn mới thực cao quý. Kẻ nào mà chỉ chăm chút phần xác, không thiết chi phần hồn là kẻ đi đường quỷ sứ, bị đọa địa ngục. Diễn ngôn loại trừ hiện hữu thân xác dài ngàn năm đã hằn sâu vào tâm thức nhân loại.

 

2. Là một sản phẩm mang dấu ấn sáng tạo sâu đậm của hiện sinh Pháp với hai gương mặt M.Ponty và J.P.Sartre. Triết gia quan niệm, trong các hình thức hiện hữu ở đời của con người, thì hiện hữu thân xác là hiện hữu căn bản nhất. Quan niệm này của các nhà hiện tượng luận hiện sinh được hiểu như một thái độ phản kháng lại diễn ngôn loại trừ thân xác của trung cổ. [Thời duy lý, các nhà khai sáng trong tinh thần chống giáo điều tôn giáo, quan niệm hiện hữu con người là hiện hữu lý lính, nên vị thế của thân xác vẫn chưa được xác lập lại].

Sẽ không có một phương cách hiện hữu con người nào lại thiết thân hơn hiện hữu trong thân xác. Bởi thân xác là yếu tố đầu tiên để con người hiện hữu, và nếu mất đi thân xác (chết), con người mất luôn dữ kiện khởi nguyên để hiện hữu. Chính vì thế, với hiện tượng luận hiện sinh, thế giới truy nhận hiện hữu con người lần đầu tiên qua dữ kiện thân xác của hắn ta: mập hay gầy, già hay trẻ, trai hay gái, tóc dài hay ngắn... sau đó mới đến “phần hồn”. Con người có thể chối bỏ tôn giáo, xã hội, ý thức hệ... chứ không thể chối bỏ thân xác (cho dù nó có thể làm thay đổi thân xác), vì sự chối bỏ thân thân xác hoàn toàn là sự chết. Nên thân xác là điều kiện cần đầu tiên để có hiện hữu. Hiện hữu thân xác là hiện hữu đá tảng để từ đó dựng xây lên hiện hữu người đầy hoa trái. Thân xác bao giờ cũng là thân xác tôi, của tôi và cho tôi, chứ không phải là thân xác trừu tượng. Hiện hữu thì chối bỏ hư vô, cũng như thân xác thì chối bỏ vô thân xác (chết).

 

3. Chí Phèo có thể hiện hữu qua sáng tác của Nam Cao với nhiều yếu tính (essence) khác nhau. Chí có thể là con quỷ dữ làng Vũ Đại, người nông dân tha hóa, hay người tình hiền lành của thị Nở… Nhưng trước nhất, cái hiện hữu đầu tiên của Chí phải là: “Cái đầu thì trọc lốc, cái răng cạo trắng hớn, cái mặt thì đen mà rất câng câng, hai mắt gườm gườm trông gớm chết! Hắn mặc quần áo nái đen với áo Tây vàng. Cái ngực phanh, đầy những nét chạm trổ rồng, phượng với một ông thày tướng cầm chuỳ, cả hai cánh tay cũng thế . Trông gớm chết!” (Chí Phèo). Nghĩa là, Chí phải hiện hữu đầu tiên trong một thân xác đã. Rồi sau tiếp, tùy thuộc các thế nhìn khác nhau mà Chí có những phẩm chất khác nhau, ví như “trông gớm chết” là cái nhìn của người trần thuật, hay là con quỷ đáng sợ trong mắt người làng… lần giở lại bi kịch đời Chí, thì thân xác là đầu mối của đau thương, của bi kịch và hành vi tha hóa nhân tính và thể xác Chí. Vì muốn thỏa mãn thân xác, bà ba bá Kiến đã bắt anh nông dân hiền lành bóp đùi, mà cứ bóp lên cao mãi… Kết quả là anh nông dân tội nghiệp bị tống vào tù vì cơn ghen của cụ Bá. Từ đấy, mới có một con quỷ đội lốt người là Chí quay trở về để tác oai tác quái cái làng Vũ Đại. Như vậy, thân xác là chìa khóa, là khúc quanh làm rẽ ngược số phận Chí, làm thành một Chí Phèo nổi tiếng trong văn học hiện đại Việt Nam. Nhớ đến Chí phèo, ngoài tính cách rạch mặt ăn vạ còn là nhớ đến thân xác say khướt, mặt nham nhở sẹo trông gớm chết.

Quy luật hiện hữu thân xác, rất quan trọng, kiến tạo nên các điển mẫu kinh điển trong văn học. Hiển nhiên, mỗi một nhân vật sống động, là đỉnh chóp của nghệ thuật sáng tạo văn học hiện đại, bên cạnh cá tính điển hình thì phải gắn liền với một thân xác điển hình. Hẳn vì thế, khi liên tưởng đến người anh hùng Tnú (Rừng Xà Nu) người ta phải liên tưởng đến một con người/thân xác vững chắc như cây xà nu độ sung sức trong đại nghàn. Hay hai Hùng (Ăn mày dĩ vãng), thời còn trong chiến trường, gắn liền với Hùng “tàn bạo” là một thân xác rắn chắc như đồng đen, nhanh nhẹn như sóc bất cứ khi nào cũng có thể lách mũi dao vào tim thằng Mỹ. Còn hai Hùng thời hậu chiến thì mệt mỏi, uể oải, thân xác rách rưới, yếu ớt như một gã ăn mày không hơn không kém...

Nhìn từ hiện tượng luận hiện sinh đã chỉ ra kinh nghiệm uyên nguyên của hiện hữu phải bắt đầu với một thân xác. Và sáng tạo, nếu xa lìa với việc tạo tác một thân xác sống động nghĩa là đã đánh mất đi cơ may tạo dựng nên ngôi nhà hiện hữu sống động.

 

4. Nhưng con người còn là một dữ kiện hiện hữu phong phú, trong đó, hiện hữu thân xác chỉ là hiện hữu đầu tiên. Sau hiện hữu trong một thân xác (hiện thân căn bản), đúng như quan niệm của Trần Văn Toàn, con người còn hiện hữu trong vật giới, trong nhân giới, trong thế giới bên kia. Thế nên, thân xác chỉ là dữ kiện đầu tiên, hiện hữu Chí Phèo, hai Hùng, Tnú… còn đến trong hành động xã hội, trách nhiệm dân tộc, tình yêu đôi lứa…

Các nhà hiện sinh Pháp đã đi quá đà trong việc nhấn mạnh vai trò lớn lao của thân xác, nên gây ra một sự phản cảm triết học sâu đậm mà tư tưởng hiện đại khi phê bình hiện sinh (Pháp) thường hay nhắc tới. Ở Việt Nam, Nguyễn Văn Trung - một môn đệ trung thành của J.P.Sartre đã viết Ca tụng thân xác (Văn nghệ, 2006). Một công trình mang đậm dấu ấn của ông thầy hiện sinh Pháp J.P.Sartre. Quan niệm nhiệt thành về thân xác của Nguyễn Văn Trung xét đến cùng là hệ quả của cơn say triết lý hiện sinh Sartre hồi thập niên 60-70 của thế kỷ trước. Một quan niệm chỉ thấy có thân xác thì khó tránh khỏi sự ngột ngạt của thứ “hiện sinh đóng kín” mà giới phê bình đã dành cho Sartre. Con người không chỉ có thân xác, con người còn là một tiềm thể có khả năng “xuất tính thể” (Heidegger), siêu vượt ra ngoài chính nó để kiện toàn các giá trị xã hội, tâm linh tôn giáo... Một quan niệm chỉ dừng lại thân xác là một sự tự làm nghèo đi chính con người.

Triết gia Pháp Paul Ricoeur, về sau này, có một cách diễn đạt rất hay khi ông nói rằng cần phải thay thế cái tôi (kiểu Descartes) bằng khái niệm mình (soi/se) để có thể ưu tư và hiểu biết về chính bản thân mình. Như vậy, đại từ nhân xưng mình trong Việt ngữ diễn tả rất trọn vẹn ý nghĩa thông giao (communication): vừa chỉ chủ thể, vừa chỉ tha nhân, vừa để chỉ chính thực thể (cộng tồn) là chủ thể lẫn tha nhân, vừa có thể dùng cho ngôi số ít lẫn số nhiều một cách cơ động (tùy vào ngữ cảnh, ý hướng mà người nói nhắm tới); và dù trong hoàn cảnh nào cũng khuếch tán một trường nghĩa mà ở đó giảm thiểu tối đa màu sắc cái tôi mang đậm sắc thái chủ thể cá thể, đồng thời lại không sa vào cái ta làm triệt tiêu mất tính riêng tư cá nhân. Ngoài ra, đại từ mình vẫn đảm bảo ý nghĩa ưu tư và hiểu biết về chính bản thân (mình) như cách Ricoeur quan niệm về đại từ soi (tương phản, tự phản) của tiếng Pháp; và đảm nhận luôn việc biểu hiện nghĩa mình như là thân xác trong nghĩa thân mình, mình mẩy.

Do đó, hiện sinh hiểu theo người Việt là: chọn lựa thế sống mình. Và hiện hữu thân xác theo tư tưởng Việt tộc là hiện hữu thân xác mở, tạo thành thế liên thân xác, liên chủ thể cùng hiện tồn trong thế giới.

 

5. Hiện hữu thân xác theo thế nhìn hiện tượng luận, nghĩa là đã có sự đổi thay thế giới quan về thân xác lý giải vì sao văn học hiện/hậu hiện đại lấy thân xác như một thủ pháp nghệ thuật quan trọng để triển khai sự viết. Thế nhìn hiện/hậu hiện đại có mối dung thông với các thế nhìn hiện tượng luận.

Trong một chừng mực, khi khảo sát các hiện tượng nổi trội trong văn nghệ, chúng ta có thể cho rằng trung đại thì vắng bóng thân xác còn hiện đại là khẳng định và phơi bày thân xác. Quyển “dâm thư” (mắt nhìn phong kiến) Truyện Kiều vỹ đại khi viết về thân xác Thúy Kiều chỉ qua có mấy nét bút sau: “Rõ ràng trong ngọc trắng ngà/ Dày dày đúc sẵn một tòa thiên nhiên”. Chỉ thế thôi. Nguyễn Du đã rất “táo tợn”, “cách mạng” so với bạn bè văn nghệ trung đại ngàn năm của mình. Còn hiện tượng cắc cớ Hồ Xuân Hương thì nổi lên như một “cục tức”, một “khiêu khích”, một sự “chọc ghẹo” với các chuẩn mực đạo đức phong kiến: “Thân em vừa trắng lại vừa tròn”. Nữ sỹ họ Hồ luôn lấy các quy chuẩn thân xác (mang màu sắc dục) nữ giới để làm quy chuẩn so sánh, ẩn dụ, hoán dụ, nhân hóa nghệ thuật trong sáng tạo của mình. Hồ Xuân Hương là một nghịch dị trong dòng chung.

Nhưng nhìn chung, văn học Việt Nam trung đại là một sự xa lạ với thân xác. Cái thân xác hiểu như là thân xác tôi, nghĩa là cá thể cụ thể. Còn thân xác ước lệ kiểu: “Râu hùm hàm én mày ngài/ Vai năm thước rộng thân mười thước cao”, hay “Làn thu thủy nét xuân sơn”… là thứ thân xác ước lệ, thân xác tượng trưng, phổ quát vốn chẳng thiết yếu gì với nó/tôi, cho nó/tôi và riêng nó/tôi.

Tính hiện đại trong văn nghệ, hiểu từ hiện hữu thân xác thì đó là một phạm trù chủ đạo. Với văn chương hiện đại và nhất là hậu hiện đại thì ăn, ngủ, làm tình, lông, chim, bướm, mũi, dãi, cứt, đái… không gì của con người là không được nghệ thuật trưng dụng và phơi bày. Nhiều đến mức lắm khi phản ngưỡng tiếp nhận của người đọc. Ngày nay, trên các mặt báo, người ta vẫn thường phải than phiền, rồi “kêu gọi”, (không được thì “xin”) nhà văn khi sáng tạo nên chú ý đến tính thẩm mỹ trước, thân xác sau. Văn học bây giờ không còn giải phóng mà là lạm dụng thân xác.

Hãy nhớ rằng, hiện hữu thân xác là hiện hữu ban đầu, con người với trách nhiệm NGƯỜI của mình, vừa hiện diện trong thân xác nhưng còn hiện bên trên cả thân xác, nghĩa là hiện hữu trong cái đẹp, cái thiện và cái thần thiêng. 

Huyền Minh

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác