Hiện hữu cuộc đời cùng thơ Hữu Việt

Thơ tồn tại là một hiện hữu sống, và bất cứ ai làm thơ cũng là hiện hữu với cuộc đời, duy chỉ có điều, sự hiện hữu ấy dàn trải theo dòng lịch sử của hiện hữu nghệ thuật với ý nghĩa, mỗi thi nhân đóng góp nhiều hay ít “ý kiến”, “sự có mặt” của mình theo dòng chảy cuộn xiết của nghệ thuật dân tộc…

Thế nào là hiện hữu cuộc đời?

Các triết gia phương Tây bằng lối duy lí đã sáng tạo ra đủ các thuật ngữ khó hiểu, đôi khi tối về ý nghĩa, để rồi kết lại bằng định đề khá giống nhau: Hiện hữu cuộc đời của một con người là hắn ta phải sống có ý nghĩa. Sống có ý nghĩa là gì? Là hy sinh cái tôi của mình vì người khác, nghĩa là lấy xúc cảm mình có để vun trồng cho xúc cảm người ta. Nói như vậy, chẳng phải là con người đang bị cuộc đời bào dần xúc cảm sao? Đúng là cuộc đời đã làm cho con người bị mất dần xúc cảm tự nhiên, nhưng là quá trình được-đánh mất một cách có ý nghĩa. Còn cắt nghĩa “vì sao” là còn giải thích và còn bế tắc, vì “làm sao” có thể giải thích tận nguồn tư tưởng của một con người. Đó là sự thất bại của tư tưởng, nếu ai đó cứ cố giải thích điều mình ưng giải thích. Tuy nhiên, như một nghịch lý, thơ ca ra đời lại gỡ gạc sự thất bại này của nhân loại bằng việc, nó yêu cầu người đọc cảm về nó hơn là cắt nghĩa cho nó.

Thơ Hữu Việt là thế sinh, thế tính được anh dựng lên bằng lịch sử tâm hồn mình, chằng chéo những dữ kiện, những ẩn ức lướt nhanh qua cuộc đời, chợt hồi quy tại trạng thái ngưng đọng của thời gian. Con người ấy muốn mở mình ra trước hiện thực, để đối thoại với người và với chính mình. Một cá nhân được xem là hiện hữu có ý nghĩa thì anh/ông/bà ta phải ngôn thoại với cuộc sống xung quanh. Chẳng ai, cả đời không nói không viết gì, tự tư tưởng, tự tư duy mà lại được xem là hiện hữu cả. Vậy là, sáng tạo thơ như thể một phương thế sống, để Hữu Việt cũng như những thi nhân khác đối thoại với cuộc đời nhiều gai góc, sần sùi này. Còn cuộc đời có đối thoại ngược trở về với người thơ không, lại là chuyện khác, nó căn cứ vào ý tưởng phi-định kiến của người đời với người thơ, là xem thơ như một khúc dạo mùa cảm xúc hay chỉ là sự so đo, thế này thế kia, hoặc chịu lắng nghe người ta nói hay chỉ biết bắt người khác nghe điều mình nói?… Hãy xem Hữu Việt đối thoại với cuộc đời thế nào?

Có lời người say ngồi rượu với chiều

Gió thiền ru buồn phố

Có lời kinh không mang nổi Đức tin?

Ta khóc thầm quán cũ”[1]

Có một người đang nghi ngờ về chân lí. Uống rượu như một nguyên cớ để giải sự thật. Đập vỡ tượng đài, phá huỷ niềm tin cố kết, chống đối lại sự bất định trong mình, ủ rũ mệt nhoài thương tiếc “cố nhân” tư tưởng. Nhỏ lệ và cười mỉa cho sự sụp đổ của chân lí-tưởng như-vĩnh hằng, quy sự thật về kí ức tươi đẹp quá khứ, dọn chỗ cho chuyến hành hương tìm về muộn mằn. Trở về với mình là chân lí đầu tiên và duy nhất cho một cuộc sống có ý nghĩa. Trở về với mình là để cảnh báo với đời về sự giả dối mà người ta đang thêu dệt cùng lịch sử hiện hữu của họ. Có đức tin nào cứu rỗi nổi con người, khi hiện thực là mâu thuẫn với nó, và liệu đức tin có giúp con người chìm vào suy nghiệm sống, dẫn dụ y trở thành hiện hữu có ý nghĩa? Hay đức tin đã quy giản (reduction) tư tưởng con người vào miền tăm tối của giáo lí kinh điển, để rồi tự mình trốn thoát tự do của chính mình, biến mình thành một người điên, một gã say hay một trẻ thơ không vướng bận suy tư về tồn tại quanh nó… Vậy là, Hữu Việt đã phá huỷ một căn bệnh sa vào đức tin để tự mình đứng dậy giải thoát cho mình, bằng việc quy hồi lí tính về trạng thái độ không tinh thần: vô thức cộng hữu cùng ý thức, đồng thời không ngừng đối thoại với sự vật quanh anh. Vậy chẳng phải anh và thơ của anh là hiện hữu sống sao? Thật phi lí, khi đọc thơ, người ta cứ nhăm nhăm phân tích, cắt nghĩa, gán nghĩa, giải nghĩa, giải kiến cấu văn bản (deconstruction)… để rồi lâm vào bế tắc và thất bại với chính diễn giải của mình, vì vấn đề được giải thích “như là” lại đẻ ra một nghi vấn cần giải quyết “như là nữa”, trong “như là nữa” lại tồn tại nghi vấn cần giải quyết tiếp “như là như là nữa”... Vậy hiển nhiên, càng đi sâu giải tự càng bế tắc, để rồi, mình trở thành kẻ thất bại về tư tưởng, chìm ngập vào văn bản. Đến với thơ, cách tốt nhất là hiểu thật sâu vào thế giới nghệ thuật, sống, cảm với giọng điệu thông qua kí tự. Hơi thơ sẽ dẫn nhập người ta vào kiếp thơ của của thi sĩ, dần dần đánh mất mình là một-kẻ-đang-đọc để hội nhập và song hành cùng kí ức, hoài niệm nhà thơ.

Tháp sương xa rơi buồn

Một hồi chuông xá tội

Mô-na Li-sa đi về đâu..?

Nụ cười bao nhiêu tuổi

Trời đất hoá rộng thênh

Mây trăm năm gió thổi

Người không qua lối đợi

Ngày mai Chúa nhật rồi”[2]

 Tháp Chuông buồn như cảm giác vũ trụ xa lầy trong vũng bùn tối tăm nhân bản tôn giáo, hoà hợp con người bằng những thâu nạp tiến hoá sa đoạ bởi một chủ tế vô hình. Sự vô hình ấy đã quyến rũ xúc cảm nhân tính, dẫn nhập họ vào những tín niệm mông lung, để rồi thấp thoáng nhận ra hiện thực vẫn khốc liệt như ngày con người từng mơ mình là động vật tự do về tinh thần. Mô-na Li-sa đẹp, thánh thiện và bí ẩn là thế, nhưng cũng chẳng thể cứu rỗi được sự cô đơn của một thi sĩ đang đăm chiêu nhìn ngắm những gương mặt- người- ảo ảnh, mờ mịt phía sau cuộc sống trần trụi tưởng như an bình. Mô-na Li-sa, Nàng đẹp nhưng nàng lại dụ dỗ người ta chìm sâu vào lí giải vấn đề mà ở nàng, nó không hiện hữu - điều mà các vị râu dài tưởng chừng uyên bác cùng cặp kính dày cộm soi vào đó, biến nàng trở thành tượng đài ảo giác, thay thế sự hiển hiện lồ lộ của những con người trần trụi. Thoát ra khỏi ảo ảnh của đạo đức, tín niệm, và sự quyến rũ của cái đẹp, vẫn là con người, đúng, chính y - động vật đang cô đơn khi chứng kiến sự lạnh nhạt thờ ơ của nhân tính, tình yêu. Phải nói, đoạn thơ trên chẳng ai tự phụ cho rằng, mình có thể phân tích bằng lí tính về văn bản, biến chuyển biểu tượng thành ý nghĩa đúng như Hữu Việt tư duy. Người đọc cảm và nghiệm bằng trực giác mình có, là cách thức đi đến gần nhất ẩn dụ sống trong văn bản, để rồi ngậm ngùi nhận ra:

Tôi đi tìm tiếng thở dài

Sau bức tranh tố nữ

Tiếng đồ đạc thì thầm

Một mình gục ngã”[3]

Sự thực, cực chẳng đã, người ta mới phải đối thoại với đồ vật. Vì con người sinh ra là để đối thoại với những nhân thể tương đương với nó. Ấy thế mà, cái ông thi sĩ say thuở nào giờ lại hụt hơi trước tín niệm mà mình từng ảo tưởng gieo vào đầu, lặn sâu và đắm chìm vào nó, tìm kiếm sinh khí sống cho cuộc đời nhân bản. Đôi mắt anh mở to như muốn nhận lại sự cứu cánh nhân tính và sự dâng hiến tự nguyện tình người. Chàng thi sĩ ấy quay ra hỏi con người, con người im lặng. Y im lặng vì bản năng trì trệ của vật chất đã đè y xuống, duy chỉ còn những vật thể là cứu vớt hiện sinh cho một thế giới lạc loài, được đẻ ra từ cái đẹp ý niệm. Hắn đã lặn vào tranh tố nữ với mong muốn kéo lại sinh khí mà mình hướng về như một hy vọng cứu vớt. Nhưng cái đẹp cũng chẳng thể cứu cánh được một con người cô đơn với chính mình. Thật vô lí, khi người ta đẻ ra chữ “đẹp” để chữ “xấu” thành ám ảnh lẩn tránh. Nhưng làm gì có cái đẹp cũng như làm gì có cái xấu trong cuộc đời này. Nếu nó hợp, tán tụng ta thì nó là đẹp, còn nó làm ta tổn thương, cảm giác bị “hoạn thiến” cái tôi trong mình, thì nó là xấu. Mô-na Li-sa đẹp là thế, mà cũng phải chịu cảnh thất bại với chính cái đẹp trong mình, bế tắc, lầm lụi tìm đường đi: về đâu? Về đâu, khi cái gọi là đẹp không thể giảm thiểu những cuộc hỗn chiến “tự xưng” vì cái đẹp vẫn đang hoành hành; về đâu, khi ai cũng tự nhân danh vì nhân bản mà hành động cho vị thế, chức vụ của mình; về đâu, khi vế còn lại của cái đẹp (tức cái xấu) luôn bị người đời chê trách, xa lánh; về đâu, khi những chấn thương tâm lí không ngừng chảy máu trong các phác hoạ thảm kịch sống: trẻ thì mồ côi, người giết người, người phụ bạc người…Vậy thì, cái đẹp đó của loài người hẳn rằng đã bị kênh so với nhịp sống thẩm mỹ của loài/đồ vật. Nhưng con người lại bày ra ngôn ngữ, ngăn cách sự thông hiểu của họ với sinh khí, nhuệ khí trong đời sống của chúng thì sao biết được đẹp với chúng có ý nghĩa gì. Vậy là con người lại trở về với cái tôi cô đơn cùng cực của mình, tự mình hoang tưởng và sợ hãi chính mình. Nhưng gục ngã lại là trạng thái con người trở về với kí ức được ngưng tụ thành vô thức. Biết gục ngã, con người đã biết mình bị/cần hành hương về trạng thái thực của tâm hồn, là sống như trẻ thơ không vướng bận việc đời, là người điên sống tại thế chẳng phân lập giữa chính/tà, thiện/ác, chiến tranh/hoà bình… Vậy chẳng phải, Hữu Việt và thơ anh đang hiện hữu với cuộc đời sao?

Đêm đã chìm nhà phố cũ ngủ êm

Bước mưa khuya phiêu bạt ghé thềm

Chuông ngái ngủ dạo trên thành cổ

Cụ già…và dấu thánh…và em

Sông Vi-su-a thức trắng đêm

Có phải mộng cựa mình trong băng

Hay nụ nhú xuân căng ngực đất?

Tim đập nhịp Pô-lô-ne sai luật

Tín hiệu đường chỉ biết

mắt ai xanh”[4]

 Thành thực mà nói, mỗi nhà thơ khi sáng tác thường giả định mình là kẻ vắng mặt lúc gieo từ. Cho nên, thơ của đa phần các thi nhân thường vắng bóng logos của mình. Nếu lí giải thơ thiên về logic xúc cảm, điều ấy không hoàn toàn đúng, vì xúc cảm thơ thường là những hoài niệm đan xen hiện thực, là kí ức được biết trước. Cho nên, dù có cố biện minh cho sự ngự trị của xúc cảm trong anh, thì việc lựa chọn ngôn từ trong khắc khoải của người thơ về hiện thực, bao giờ cũng là quá trình phản tỉnh với chính hoài niệm mà mình gieo vào cuộc đời. Nhưng nếu nói thơ phải lưu dấu cái tôi cá biệt, biến văn bản thành những đợt sóng logos của những trầm mặc suy nghiệm, thì thơ sẽ không còn là thơ nữa, vì chí ít, nơi mà thế giới hiện thực tạo đà cho sự hình thành thế giới nghệ thuật, bao giờ cũng phải đi từ điều mà thi nhân trực giác về hiện thực hiện hữu tất yếu là: con người và thế giới quanh nó. Thơ, cùng những cắt nghĩa về nó là một vòng luẩn quẩn, chẳng dừng chân tại ranh giới nào cho con người suy tư hay phê phán triệt để. Do vậy, khi một tồn tại chẳng có ranh giới thì cũng chẳng thể có luận lí cho sự phân cách thơ cũ, thơ mới, thơ này thơ nọ, thơ A, thơ B. Thơ được cấu trúc như một hiện tượng xã hội. Ngôn ngữ thơ được kết cấu như một trạng huống, một cách thức, một phương thế sống của con người. Thế giới thơ của Hữu Việt dù được anh viết trong hoàn cảnh nào thì cũng phảng phất trạng huống buồn, trầm. Thế giới thơ Hữu Việt phản ảnh thế giới sống của anh, thế giới của những khắc khoải, “lo âu”, một phương thế ưu sầu ngay cả những khúc đoạn cuộc sống tưởng như chẳng tương hợp với tâm trạng chút nào. Một tiếng chuông hờ hững trên nóc đền đài bị rong rêu thời gian phủ ngợp, như sự quên lãng của con người trước lịch sử tinh thần mình. Con phố sống theo quy luật, vẫn im lìm như sự mơ màng đơn độc của chàng thi sĩ khi đối diện với màn đêm trống trải trong tâm hồn. Dấu thánh không thể gạt bỏ cơn mộng mị khát yêu, khát sống, khát hiện hữu có ý nghĩa của người thơ. Giật mình hoảng hốt với mình. Chỉ duy nhất, đôi mắt xanh mòn mỏi khắc khoải về tha nhân vẫn sáng trong đêm ủ rũ của nỗi buồn khó tả. Bài thơ thật giản dị, nó giản dị như lối kết cấu thơ của tập thơ, nhưng, trong sâu thẳm của ý thơ là một con người đang suy tưởng. Suy tưởng không chỉ là trạng huống tìm kiếm căn nguyên lí giải về tồn tại, hơn thế, nó còn là căn bản để lí giải về cách thế sống của con người. Hỡi nhân loại! y cần Sống như một hiện hữu ý nghĩa hay Sống như một sức ỳ vật chất thụ động? Nghĩa là “tồn tại hay không tồn tại”? Hữu Việt với đôi mắt xanh khắc khoải, mỏi mệt, vẫn nhẹ nhàng dè dặt dìu dắt sương đêm tâm hồn tới bình minh của lý tưởng sống mà anh đã gieo trên mảnh đất nghệ thuật giàu xúc cảm.

Một nghi vấn, mà có lẽ không phải bây giờ con người mới đờ đẫn trầm tư suy tưởng rằng, vì sao thơ ca lại/ phải tồn tại cùng sự hiện hữu của con người? Có 2 khuynh hướng tự phụ cho việc giải quyết nghi vấn trên, mà tôi gọi bằng thuật ngữ: lối suy tư bình dân và lối suy tư quý tộc. Với lối suy tư bình dân, thì sáng tác thơ là để tâm tình và giao cảm với con người, với thế giới. Với lối suy tư quý tộc, thì thâm trầm hơn khi xem thơ tồn tại vì nó đeo bám lý tưởng con người, khi họ bắt gặp những “chấn thương” tâm lí, cảm thấy bế tắc, cảm thấy bị ruồng bỏ, bị sa đoạ vào thế giới không của riêng ai. Và thế là, thơ ra đời để mình lưu dấu thế giới lí tưởng mà mình đeo đuổi như phản ứng với cảm giác bị “bỏ rơi”, bị “sa đoạ” vào đời sống người khác, để mình bớt cô đơn và để “chấn thương” được giải toả. Nhưng thường thì, lối suy tư bình dân ít khi tìm kiếm được chân trời thấu triệt cho sự hiểu về những định nghĩa thơ trừu tượng, mơ hồ rối rắm của các lí thuyết gia. Họ im lặng như thể đã định nghĩa đúng về thơ. Nhưng lối suy tư quý tộc thường kèm theo nó là cách đánh bóng quan điểm của mỗi cá nhân bằng hệ hình lí thuyết về thơ đầy trúc trắc, hiểu ý đầu bỏ rơi ý cuối, tìm ý cuối lại lững thững với ý đầu. Và cho tới cùng, họ định nghĩa nhiều nhưng thực ra là không định nghĩa. Đơn giản, vì thơ là một hiện hữu của con người trong cuộc sống, vậy ai có thể định nghĩa được tất cả những hành vi sống trải của mình? Hiện hữu tại thế của con người diễn biến ra sao, thì thơ cũng được cấu trúc y như vậy. Tôi yêu thích lối suy tư bình dân về thơ ca, vì nó không gợi những suy niệm nhọc nhằn, nhiều cắt sẻ của lí tính. Và vì nó là hiện hữu, là giao cảm của con người với cuộc đời, y hệt như họ từng sống trải với hiện thực của mình. Vì vậy, nếu con người tồn tại trong tính lịch sử của nó, thì thơ ca cũng có lịch sử riêng, gắn chặt cố hữu với lịch sử người tạo ra chúng. Vậy là, thơ hiện hữu như sự hiện hữu của con người. Và thơ Hữu Việt, hiển nhiên cũng hiện hữu như chính hiện hữu của anh trên cuộc đời nhiều xung đột này.

“Sau mỗi cuộc mưu sinh,

mỗi nhịp đời

Trái tim thêm một lần lấm bụi

Tôi chạy đến hụt hơi

Quên tiếng tim mình đập gọi”[5]

Sai lầm lớn nhất của những kẻ ba hoa trong lối phê bình chỉ điểm là đánh bóng danh dự của mình bằng những đợt sóng khen chê muộn mằn đối với thơ ca nghệ thuật. Thực tế, đã là hiện hữu thì làm gì có cái hay cái dở, cái xấu cái tốt. Và con người cũng làm gì có kẻ nào hoàn toàn xấu, hoàn toàn đẹp. Chính cái dự phần âu lo bị kẻ khác xem mình là xấu, nên con người luôn nguỵ trang, giả tạo bằng những hình thức đẹp nhưng càng nguỵ trang thì cái bản lai diện mục lại trơ trơ với sắc thái u tối của nó. Vậy hiển nhiên, thơ tồn tại là một hiện hữu sống, và bất cứ ai làm thơ cũng là hiện hữu với cuộc đời, duy chỉ có điều, sự hiện hữu ấy dàn trải theo dòng lịch sử của hiện hữu nghệ thuật với ý nghĩa, mỗi thi nhân đóng góp nhiều hay ít “ý kiến”, “sự có mặt” của mình theo dòng chảy cuộn xiết của nghệ thuật dân tộc. Và, sự dài dòng loằng ngoằng trên của luận lí, khởi phát từ tâm thế muốn hoà giải những cực đoan định kiến của các cá nhân đã hiện hữu bằng việc, kẻ đang viết này muốn khơi lại kí ức về một người thơ tìm đến nghệ thuật như là để đối thoại với đời, đối thoại với mình và để mình hiện hữu như một ý nghĩa: đó là Hữu Việt và thơ của anh.

Cái định kiến mất cân đối giữa thơ và người, đã nảy sinh ra sự bất hợp tác giữa hiện hữu nghệ thuật và hiện hữu nhân sinh, để rồi sau 13 năm sau khi ấn bản thơ thứ 2 của người thơ [6] ra đời, mới có kẻ hành khất- này, ngược dòng sử tính, tìm kiếm, khai quật những biểu tượng dĩ vãng của tâm hồn thơ và cố rằn mình phải chứng minh về sự hiện hữu hiển nhiên như một đời sống riêng của nó. Vậy là, trong một trăn trở về ý nghĩa Hiện hữu thơ và hiện hữu đời người, người viết đã lục lại ký ức bằng một mớ những tư tưởng mâu thuẫn khó nhọc: Hiện hữu cuộc đời và hiện hữu thơ. Mâu thuẫn! Cớ sao đọc thơ của một người thơ, mà lại mở ra cái ý nghĩ cặm cụi chẳng dính líu nào bằng một nghi vấn mở: Hiện hữu cuộc đời là gì? Và từ ý nghĩ cặm cụi mông lung chẳng giống ai đó, tôi lại mở suy tưởng về quá khứ 13 năm. Hỗn loạn, mờ mịt và mông lung, nhưng cuối cùng, kẻ viết cũng phác thảo được những cơn mộng tưởng xáo trộn ấy thành những con chữ thô ráp này.

Ngô Hương Giang



[1] Hữu Việt (1994), Phố Lạc Tiên, “Có lời”, tr.5, NXB Hội nhà văn, H.

[2] Hữu Việt (1994), Phố Lạc Tiên, “Pô-lô-ne thứ bảy”, tr.32-33, NXB Hội nhà văn, H.

[3] Hữu Việt (1994), Phố Lạc Tiên, “Mưu sinh”, tr. 36, NXB Hội nhà văn, H.

 

[4] Hữu Việt (1994), Phố Lạc Tiên, “Thanh đêm”, tr. 31, NXB Hội nhà văn, H.

[5] Hữu Việt (1994), Phố Lạc Tiên, “Mưu sinh”, tr. 36, NXB Hội nhà văn, H.

[6] Hữu Việt (1998), Đếm mùa, NXB Văn học, H. - Hữu Việt (1994), Phố Lạc Tiên, NXB Hội nhà văn, H.

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác