Hạc- Thành Hoa, người phơi áo đêm trăng


(Toquoc)- Tôi “gặp” và đọc Hạc Thành Hoa từ rất lâu lắm rồi, in hình những năm đầu thập niên 70 của thế kỷ trước tại miền Nam qua các ấn phẩm văn chương thời đó như Văn, Bách Khoa, Thời Tập… Hạc Thành Hoa thuộc lớp với các nhà thơ Trần Tuấn Kiệt, Ngô Nguyên Nghiễm, Bùi Nghi Trang, Luân Hoán… tuổi cũng đã ngoài “xưa nay hiếm”. Anh vốn dạy học và sinh sống tại thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

Sau 4 tập thơ đã xuất bản, Tuyển tập thơ Hạc- Thành Hoa là tập hợp của 78 bài thơ được sáng tác từ những năm 1971 đến nay. Sách gồm 128 trang, bìa họa sĩ Đinh Cường, hai phụ bản Đinh Cường, Vũ Thanh Hằng và một “Trang của bạn” ghi lại những nhận xét của bạn bè và người yêu thơ Hạc Thành Hoa.


Hạc- Thành Hoa, người phơi áo đêm trăng  - ảnh 1


Nhà thơ Trần Tuấn Kiệt viết: “…Thơ Hạc Thành Hoa có một không khí trang nghiêm và chiều sâu tâm hồn đạt đến cõi thâm sâu về cái lí mầu nhiệm của cuộc tồn sinh…” (trang 121). Còn nhà thơ Thai Sắc ghi nhận: “…Thơ Hạc Thành Hoa mượt mà, giàu nhạc điệu nhưng lấp lánh triết lý nhân sinh và không kém phần gai góc…” (trang 123).

Đọc Tuyển tập thơ Hạc Thành Hoa, tôi nghĩ anh là thi sĩ đích thực, giống như Igo Ixaep từng nói: “…Chúng ta không có thời gian và sức lực để chơi trò thi sĩ mà phải là thi sĩ đích thực. Điều gì cũng phải là thực chất”. Vì rằng Hạc Thành Hoa, với chiều dài gần… 50 năm làm thơ, 178 bài thơ, chưa phải là tiêu biểu cho sự nghiệp của người thầy giáo làm thơ, ở anh có những vần điệu giao cảm, buồn thương: “Tôi buồn đốt lá còn tươi/ Trông từng sợi khói lên trời mà thương” (Trang 7) và “Nên quên đôi má em hồng/ Và quên lá rụng trên dòng cô đơn” (trang 8), của tâm hồn thi nhân xưa. Những mộng mơ “Từ trên đỉnh sóng tình phai/ Mơ thành mây trắng bay ngoài khói sương”…Thơ nhẹ tênh mà sao cứ nặng đau đáu một nỗi niềm?

Từng giặt áo, phơi áo. Ai chọn cho mình màu nắng vàng tươi sắc hay cái gió làm khô sợi vải. Cũng có người giặt áo và phơi áo ban đêm, nhưng chọn “phơi áo đêm trăng”, thì chỉ có Hạc Thành Hoa? “Ta lười trời đất còn nể mặt/ Thì sá gì đôi trận gió bay…” và trong cái tứ thơ tưởng ngang tàng ấy, lại ẩn chứa một thi sĩ, với những lụy phiền: “Nhưng đêm nay sáng trăng huyền diệu/ Gác trọ lòng không bóng mây vương/ Bạn vừa đi khỏi trăng vừa tới/ Đem áo quần ra giặt đỡ buồn” và “Trăng soi từng chỗ cho ta giặt/ Áo quần trắng toát một màu trăng/ Vò từng chiếc áo nghe tim buốt/ Lòng cũng sầu theo những nếp nhăn” (trang 64, 65). Thì cũng là thi sĩ thực nhưng… mệt vì chuyện áo sống đời người!

Thơ lục bát của Hạc Thành Hoa vẫn với phong vị cổ: “Những ngày gió đợi trên cao/ Trong mưa phố vắng bước sầu ngựa ô” (trang 100), thêm cái ý vị thâm sâu, nghiêm ngắn vốn có của người thầy trong thơ ca: “Ngày mai tôi vĩnh biệt đời/ Vẫn còn lại một khoảng trời trước hiên” (trang 57) hay như: “Lần đi dành lệ về nhà/ Hành lang hay dải bình sa cuộc đời/ Lần tay tìm vết luân hồi/ Thấy mình tựa lá bay ngoài phố đêm”, chợt nhớ câu Đường thi: “Khuyến quân cánh tận nhất bôi tửu/ Dữ ngã đồng tiêu vạn cổ sầu”. Khuyên nhà thơ uống cạn một chén rượu, để vơi bớt sầu. Biết được chăng?

Lại lấy làm ngạc nhiên khi những bài thơ tự do của Hạc Thành Hoa lại ẩn chứa một cung điệu riêng khác? Không mang mang hình tượng thơ cổ chất ngất nỗi niềm, lại tung hứng trong câu chữ: “anh đến với em/ như hòn sỏi rớt xuống mặt hồ phẳng lặng/ không đủ sức làm mặt hồ nổi sóng/ chỉ đủ sức làm mặt hồ xao động…” (trang 18), và cũng rất mới trong cảm xúc và xếp đặt: “Anh còn lại những buổi chiều/ Những buổi chiều dáo dác kiếm tìm/ Những buổi chiều nghển cổ nhón gót/ Những buổi chiều đưa vào quán nước cho thở/ Mồi thuốc cho hút, dìu lên xe và đỡ đầu bằng cánh tay êm ái nhất…” (trang 47). Bài thơ “Tạ lỗi cùng người vợ trẻ” của Hạc Thành Hoa, lại là một trạng thái xúc cảm khác của đôi lứa, điều anh thú nhận chắc cũng là cái chung của những người ôm mộng làm thi sĩ: “Suốt đời đuổi bắt một vầng trăng/ Chưa có được một lời ngợi ca người vợ trẻ”. Bài thơ là lời tự sự của người chồng, người cha, vốn “sống bằng đồng lương nhà giáo” nhưng lại nợ nần gian díu cùng thơ, khi sực biết mình: “Anh và hai con sẽ sống ra sao nếu thiếu em”, để rồi: “Nghĩ lại giận mình quá đỗi vô tâm/ Chưa có được một lời ngợi ca người vợ trẻ/ Bên anh có một nàng tiên dịu dàng như thế/ Mà cứ miệt mài đuổi bắt một vầng trăng” (trang 85).

Là vầng trăng cố xứ hay quê người, của một thời đam mê huyễn mộng cùng trăng, dầu là “một vầng trăng héo” song người thơ, cùng với câu thơ vẫn cứ “thẩn thơ trôi trong bóng nguyệt hoang đường” (trang 17). Thơ và người thơ Hạc Thành Hoa vẫn luôn khẳng định: “Có lúc chẳng biết mình là ai nữa/ Vẫn mang theo vầng trăng ở trong lòng…” (trang 53), mà trăng thì ai cũng thích nhìn và ngắm…

Trần Hoàng Vy

Nhà thơ Hạc Thành Hoa tên thật là Nguyễn Đường Thai, ông sinh ngày 03/3/1938, quê Thanh Hóa. Tốt nghiệp Đại học Văn khoa Sài Gòn.

Nghề nghiệp Giáo viên, hiện nghỉ hưu và sống tại thành phố Cao Lãnh, Đồng Tháp.

Các tác phẩm của ông gồm có:

1/ Trong nỗi buồn vàng (Tạp chí Văn, Nguyễn Đình Vượng Sài Gòn xuất bản 1971)

2/ Một mình như cánh lá (Giao điểm, Sài Gòn, xuất bản 1973 , Thư Ấn quán Hoa Kỳ tái bản 2006)

3/ Phía sau một vầng trăng (Thanh niên, Hà Nội xuất bản, 1995)

4/ Khói tóc (Lao động, Hà Nội xuất bản 1996)

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác