Hà Nội qua thơ bạn bè năm châu

Thơ là sự thốt lên không thể cưỡng được của trái tim thi sĩ trước sự hồn nhiên mới mẻ của cảnh và người. Thăng Long - Hà Nội là địa danh từ xa xưa đã nổi tiếng trong thi ca. Đến cảnh xuân tàn hay phế tích xưa cũ cũng cho thơ tuyệt tác: Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết / Đêm qua sân trước một cành mai (Mãn Giác Thiền sư); Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo / Thềm cũ lâu đài bóng tịch dương (Bà huyện Thanh Quan).

Hà Nội qua thơ bạn bè năm châu - ảnh 1
Tranh Bùi Xuân Phái
Hà Nội là vùng đất cổ, là kinh đô của Đại Việt từ ngàn năm trước, với cảnh quan tuyệt vời thiên nhiên ban tặng, với chiều sâu truyền thống văn hóa và lịch sử, vùng đất này luôn làm say lòng các thế hệ thi sĩ từ khắp trên thế giới đến đây. Thăng Long - Hà Nội trong thơ của người nước ngoài chính là sự xúc cảm chân thật nhất về vùng đất mà họ lần đầu gặp gỡ.

Thơ các nhà thơ nước ngoài viết về Hà Nội nghìn năm qua nếu được lưu trữ thật tốt chắc phải vạn trang in. Qua bao nhiêu triều đại Lý, Trần, Lê, Nguyễn… quan lại, sứ thần, học giả các nước bang giao đến đây thường hay có thơ đề vịnh, vì thời đó họ là những trí thức rất sành thi phú. Nếu cất công sưu tầm trong sử sách cổ của ta và của các nước liên quan như Trung Quốc, Pháp, Tây Ban Nha, Nhật Bản… nhất định ta sẽ có một tuyển tập thơ người nước ngoài viết về Hà Nội rất dày dặn. Chỉ thời hiện đại từ khi ra đời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa của cụ Hồ đến nay thôi, nhà sưu tập Gia Dũng trong tuyển thơ Thăng Long - Hà Nội Ngàn năm thương nhớ (NXB Hội Nhà văn, 2004) hơn 2000 trang, đã tuyển chọn được 165 trang thơ với gần trăm bài thơ của 75 tác giả người nước ngoài viết về Hà Nội. Họ là người châu Âu như Anh, Pháp, Na Uy, Hunggari, Ba Lan, Bungari, Nga, Đức…; là châu Phi như Angieri, Senegal, Sudan…; là Trung Á như Hilạp, Cộng hòa Arap thống nhất, Arap Yemen…; châu Mỹ La Tinh như Argentina, Brazin, Cu Ba, Chi Lê, Côlombia, Veneduela…; là Bắc Mỹ như Canada, Mỹ, Mêxico… Là châu Á như Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Triều Tiên, Mông Cổ, Lào, Campuchia...; là châu Đại dương như Úc, New Zealand .v.v.. Đó là người tuyển chỉ chọn một tác giả chỉ một vài bài mà họ cho là ưng ý nhất, chứ có nhiều nhà thơ nước người viết cả tập thơ về Hà Nội. Nhà văn Đimitrova- thi sĩ nổi tiếng Bungari, trong chiến tranh chống Mỹ, sau nhiều lần sang thăm Hà Nội và các địa phương ở Việt Nam về, đã sáng tác nhiều tác phẩm, trong đó có tập thơ Vây giữa tình yêu và tập ký “Cuộc phán xử cuối cùng” được đánh giá rất cao. Hay nhà thơ Cu Ba Felix Pita Rodriguez làm hàng chục bài thơ về Việt Nam, Hà Nội, trong đó có bài thơ viết về Bác Hồ nổi tiếng mà người yêu thơ Việt nam nào cũng biết: Hồ Chí Minh - tên người là cả một niềm thơ.

Thơ bạn bè năm châu viết về Hà Nội có nhiều bài về các chủ đề “vĩ mô” như cảm xúc về cuộc chiến đấu can trường của người Việt Nam, viết về Bác Hồ… Đến Hà Nội trong chiến tranh, nhà thơ Lang Unkhana (Hàn Quốc) đã viết bài thơ kêu gọi thanh niên Hàn Quốc không đi lính đánh thuê cho Mỹ ở Việt Nam: Đừng đi đến miền Nam nước Việt / Đó là con đường không lối về nhơ nhuốc. Nhà thơ nổi tiếng Trung Quốc Viên Ưng đến Hà Nội, dự một cuộc diễu hành mừng lễ Quốc Khánh ở Thủ đô, khi hàng quân diễu hành qua lễ đài, họ dừng lại để vẫy chào Bác Hồ, Bác đã nói một câu rất chân tình và sâu sắc. Tác giả đã chộp được câu nói này để tạo nên tứ thơ lớn của bài thơ Hồ Chủ Tịch nói: “Đi mau hơn nữa! Đi mau hơn nữa! Đi mau hơn nữa / Ngang đài hoa Hồ Chủ Tịch mỉm cười / Đừng dừng lại, đừng dừng lại!”. Nhà thơ Anh Eoan Maccon đã có câu thơ về Bác Hồ rất hay: Người lãnh tụ ăn rừng ở núi. Nhà thơ Liên Xô nổi tiếng thế giới Epghenhi Eptusenko đến Hà Nội nhiều lần và viết rất nhiều thơ về Việt Nam, Hà Nội. Ông quan sát phát hiện ra một chân lý: Người Hà Nội biết lo toan mọi thứ trước chiến tranh, như đi sơ tán, đào hầm tránh bom… Nhưng đó là Cái sợ của những người không biết sợ. Đi trên đường Quốc lộ I từ Hà Nội vào miền Trung, miền Nam ông phát hiện ra một ý thơ lớn: Con đường số một. Nghĩa là đó là sự lựa chọn duy nhất. Rồi từ Hà Nội, ông “nói” với Maiakopxki bằng thơ: Nhưng con đường của ông / Vẫn không hề quay lại như người Việt Nam đã biết dấn thân đến cùng. Nhà thơ cộng sản lừng danh Palowl Nêruda (Chi Lê) đến Hà Nội đã có bài thơ kêu gọi hòa bình cho Việt Nam rất tâm huyết: Hòa bình nhưng không phải cái hòa bình của nó. Nghĩa là không phải thứ hòa bình mà các tổng thống Mỹ hiếu chiến rêu rao.

Xúc động sâu sắc nhất là những bài thơ viết về cuộc sống đời thường của Hà Nội.

Các nhà thơ, nhà văn nước ngoài đến Hà Nội thường thích lang thang với phố phường Hà Nội. Có khi họ bị lạc đường. Nhưng những lúc đó họ mới cảm nhận được sự bất tận của Hà Nội. Từ kiến trúc nhà phố lẫn cuộc sống con người: những ngôi chùa, người bán hàng rong, những ngõ nhỏ, những quán càfê… Những chi tiết cuộc sống gần gũi đó làm cho họ gắn bó với Hà Nội hơn. Nhà thơ Danny Badger (Anh) đi ăn bún rong trong Đêm Hà Nội đã xúc động trước cô hàng bún xinh đẹp. Rồi ông nghĩ ngay đến người con gái bán chiếu gon trong thơ Nguyễn Trãi: Em là Thị Lộ xưa chăng? / Để tôi Nguyễn Trãi dùng dằng ở đi. Người nước ngoài đến Việt Nam mà cảm xúc bằng huyền thoại Việt như thế thật tinh tế. Cũng cách xúc cảm từ lịch sử Hà Nội như thế, nhà thơ Gerand Guillaume (Pháp) đã có bài thơ Thư viết về Hà Nội, viết gửi cho con trai 17 của mình về người bạn Gióng (Thánh Gióng): Sao con lại thấy / Trước mắt con dữ tơn, buồn rầu, nhợt tái? Cáo cuộc đời này?/ Nghĩ đến đi con, hãy nghĩ đến người bạn Gióng… Nhà thơ Nell Thumberod (Australia) đã có thơ gửi người bạn gái Hà Nội với lời thổ lộ tình yêu rất quyết liệt: Vì em tôi đánh đổi mọi thứ / Nếu em là giấc mơ / Tôi xin muôn đời say ngủ / Đến tận khi ta có nhau. Dimitrova thấy người Hà Nội Đi sơ tán với nụ cười thì thốt lên: Thật kỳ lạ làm sao tiếng cười giờ đây giữa trời Hà Nội. Nhà thơ Simon Benetdict (Canada) một lần theo bạn đến thăm thành Cửa Bắc, Hà Nội bị vết đạn quân Pháp nham nhở, đã xúc động nghĩ rằng, Hà Nội chào đón bạn bè năm châu thân thiện như thế, mà sao bức tường lại bị thương bằng vết đạn của người Âu?: Trên tường vết đạn canông / Nhìn tôi như muốn hỏi: “Ông nhìn gì!” / Vết thương sâu hoắm nhường kia / Tôi nghe lịch sử vọng về nỗi đau… Ở Mỹ có một tổ chức Văn học của cựu chiến binh vì hòa bình tên là Trung tâm Wiliam Joiner do các nhà văn nhà thơ như Kevin Bowen, Fred Marchant, Bob Glasmann, M. Jame... sáng lập. Trung tâm này đã mời rất nhiều nhà văn Việt Nam sang Mỹ hội thảo, tham quan. Đây là cầu nối để các thế hệ nhà văn hai nước hiểu nhau hơn sau cuộc chiến tranh khốc liệt. Kevin Bowen đến Hà Nội đêm nhìn Hồ Thiền Quang và đã phát hiện ra một tứ thơ hay: Cái hồ có tên Thiền Quang / (Hay “Ánh sáng từ tâm của Phật”). Còn nhà thơ Bắc Mỹ Ramiredo Lopez (Mexico) trong bài thơ Viết ở Cổ Ngư thì có một ước ao ngộ nghĩnh mà cảm động: Lạ chưa tôi ước giá mình / Chết đi lại được hóa thành Cổ Ngư…

Không thể điểm hết những câu thơ hay, tứ thơ lạ trong gần 200 trang thơ mà tác giả sưu tầm tuyển chọn. Gia Dũng đặt tên là Vòng tay bè bạn. Từng hình ảnh xúc động, chi tiết đời thường gần gũi trong thơ của các thi sĩ năm châu đã khắc họa được một chân dung Hà Nội thân tình, nhân hậu, đẹp và quật cường trong lòng bạn bè năm châu. Và những cảm thức thơ đó đã góp phần không nhỏ vào phong trào ủng hộ Việt Nam sôi động trên toàn cầu trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, và cả trong thời hội nhập toàn cầu hiện nay.

Ngô Minh

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác