Giữ gìn và kiến tạo bản sắc dân tộc [Kỳ 2]


Ứng xử đương đại: khẳng định bản sắc - tích cực hội nhập

 

Cũng như đầu thế kỉ XX, ở Việt Nam hiện nay có hai cách ứng xử với toàn cầu hóa văn hóa. Một là chủ trương hiện đại hóa: “xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến”. Hai là bảo vệ, giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa truyền thống: khẩu hiệu phổ biến là xây dựng một “nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc”. Điều này có cơ sở thực tế và hợp lý, bởi như trên chúng tôi đã nói, các mối đe dọa về chính trị, sự độc lập toàn vẹn lãnh thổ, sự san phẳng bản sắc đến từ quá trình toàn cầu hóa hay phẳng hóa là có thực và đang thách thức bản lĩnh của nhiều quốc gia - dân tộc. Chính cha đẻ của Thế giới phẳng (Nxb.Trẻ, 2005), Thomas L. Friedman, gần đây đã chia sẻ với thế hệ trẻ Việt Nam rằng: quan điểm thế giới là phẳng trước đây của ông là sai, vì thế giới phẳng hơn nhiều so với tôi từng nghĩ”[1], “Toàn cầu hóa có thể làm gia tăng hoặc nhạt nhòa bản sắc. Văn hóa yếu thì sẽ bị quét sạch, nhưng văn hóa mạnh thì sẽ càng lớn mạnh”. Theo Friedman các nền văn hóa nên cố gắng tô đậm bản sắc thay vì phủ nhận xu hướng “phẳng”[2].

Do khuôn khổ có hạn, ở đây, để làm rõ một số đặc điểm nổi bật của diễn ngôn văn học về hiện tượng toàn cầu hóa (văn hóa), chúng tôi tập trung khảo sát hai cuốn sách, một đại diện cho tính địa phương và một tiêu biểu cho tính quốc gia, đã hợp thức hóa các diễn ngôn về hiện tượng này: Văn học nghệ thuật TP. Hồ Chí Minh trong bối cảnh hội nhập - toàn cầu hóa (Nxb. Văn nghệ, TP. HMC, 2007); Tính dân tộc và tính hiện đại trong văn học nghệ thuật hiện nay (Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2010).

Diễn ngôn của TP. Hồ Chí Minh tạo ra một hình ảnh Việt Nam đổi mới, có cơ hội để thoát khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao được vị thế quốc gia trên trường quốc tế. Sự kiện Việt Nam trở thành thành viên của WTO được nhắc đến trong nhiều diễn ngôn, đã tạo ra ý nghĩa cụ thể cho khái niệm đổi mới này. Ở đây, khái niệm đổi mới được hiểu ở cấp độ vĩ mô, là sự thích ứng với bối cảnh, là sự đổi mới về đường lối của Nhà nước: mở cửa, hội nhập kinh tế toàn cầu. Tuy nhiên, đổi mới, theo cach nhìn ở địa phương, không chỉ đem lại cơ hội mà còn đặt ra “những thách thức lớn đối với chế độ chính trị, việc giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa và giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc (TTK nhấn mạnh). Quá trình hội nhập quốc tế cũng buộc chúng ta phải thực hiện nhiều cam kết, chịu nhiều sức ép và cạnh tranh. Sự chống phá của các thế lực thù địch bằng âm mưu ‘diễn biến hòa bình’ và ‘xâm lăng văn hóa’ (Ca Lê Thuần nhấn mạnh) vẫn tiếp diễn gay gắt.”[3]

Toàn cầu hóa thường xuyên được diễn giải lại trong các diễn ngôn về văn học địa phương (TP. Hồ Chí Minh). Nhưng dù được tô đậm ở khía cạnh nào, thì bao giờ nó cũng hiện lên với hai khuôn mặt (có mặt tích cực kèm theo những tiêu cực). Toàn cầu hóa vừa thúc đẩy giao lưu vừa đe dọa các thực thể văn hóa giàu bản sắc, trở thành một vế đối trọng với “tinh thần yêu nước và ý thức bảo vệ văn hóa dân tộc” – những thứ được diễn giải như là cơ sở tạo ra sức sống cho các khu vực hoặc cả nền văn học nghệ thuật: “bước vào thời kỳ hội nhập, đời sống văn học nghệ thuật TP Hồ Chí Minh đang có những cơ hội phát triển, nhưng đồng thời phải đối mặt với nhiều thách thức. Có thể nói, hiện nay một “làn sóng triều cường” của những cái ti tiện, thấp hèn đang tràn vào “lục địa” văn học nghệ thuật. Nó như cơn sóng thần, có khả năng không chỉ xói mòn nền văn hóa truyền thống của chúng ta, mà có thể làm tiêu tan thành tựu của đời sống văn học nghệ thuật thành phố mà chúng ta đã từng dày công xây đắp”[4]. Phương châm ứng xử của văn học khu vực, văn học địa phương được định hướng nằm trong quan điểm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, tức là từ trung ương đến địa phương áp dụng nhất quán phương châm ứng xử, ở đó Nghị quyết Trung ương 5, khóa VIII năm 1988 về “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” trở thành kim chỉ nam cho mọi hành động.

Diễn ngôn văn học địa phương bộc lộ rõ nhu cầu bảo vệ bản sắc hơn đề cao xu hướng hiện đại hóa văn học. Xét trong tương quan với nhu cầu ấy, thái độ lúng túng, hữu khuynh, né tránh, ngại va chạm, không chủ động định hướng - giáo dục thẩm mỹ cho công chúng, không kịp thời đấu tranh chống các tư tưởng phản động, đồi trụy, lệch lạc của người làm lý luận phê bình văn học chẳng hạn, sẽ không phù hợp với tinh thần giữ gìn, phát huy bản sắc, thậm chí khó có thể bảo vệ được bản sắc địa phương, bản sắc dân tộc trước những áp lực lớn từ bên ngoài. Bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc trước “các cuộc xâm lăng văn hóa”, trước các âm mưu “thôn tính, nô dịch văn hóa” toàn cầu, ở địa phương cũng được nhìn nhận như một vấn đề thời sự, quan hệ đến sự độc lập tự do của dân tộc[5], theo định hướng đó nhà văn cần quan tâm viết về truyền thống, tôn vinh quá khứ hào hùng, cuộc kháng chiến vẻ vang thần kỳ của dân tộc, tôn vinh tình nghĩa đồng bào, đồng đội cùng quan hệ quốc tế lý tưởng trong kháng chiến. Chống tư tưởng sùng ngoại, chống nhập siêu văn hóa/văn học – những thứ tư tưởng độc hại, có thể làm “băng hoại cả một cộng đồng, một xã hội” là một trong những chiến lược tự sự nổi bật của các diễn ngôn kêu gọi tăng cường, bảo vệ bản sắc. Ngoài ra, việc chỉ trích các tác phẩm không giúp vào việc kiến tạo tính dân tộc, không tôn vinh hình ảnh - giá trị của dân tộc, không thể hiện được lòng tự trọng dân tộc hoặc làm cho nước khác “hiểu sai”, “hiểu méo mó” về con người Việt Nam, đất nước Việt Nam, bản sắc Việt Nam nhưng vẫn được dịch, quảng bá, giới thiệu rộng rãi ra nước ngoài...cũng là một chủ đề đáng chú ý trong các diễn ngôn địa phương về sự giao lưu, trao đổi văn học nghệ thuật[6]. Trong các quan điểm địa phương, vấn đề giữ gìn, kiến tạo bản sắc ngôn ngữ còn khá mờ nhạt, đôi khi có xu hướng bảo thủ và chống các “từ lạ” một cách thái quá.

Hiện đại hóa đối với văn học nghệ thuật nếu được thực hiện ở địa phương sẽ luôn phải kèm theo các điều kiện, các cam kết cụ thể gắn với lợi ích phát triển địa phương hoặc thường được hình dung như là một sự hiện đại hóa kiểu rượt đuổi (tình trạng cũ người mới ta) hoặc hiện đại hóa có chọn lọc, có kiểm soát (những gì tốt, có lợi thì tiếp thu, những gì xấu, không phù hợp thì loại bỏ, tránh tình trạng lai căng văn hóa hay bên ngoài có gì mới thì trong nước lại bắt chước làm theo). Trên thực tế, hiện đại hóa kiểu rượt đuổi có lợi cho quốc gia dân tộc nhiều hơn việc hiện đại hóa đồng thời hoặc bị áp đặt, tiếc rằng xu hướng này lại bị chỉ trích phê phán mạnh mẽ. Bằng chứng cho thấy rõ điều đó là các diễn ngôn hướng đến phê phán những yếu kém, tha hóa của một số không ít những phần tử chạy theo mặt trái của cơ chế thị trường, sáng tác thiếu tập trung và thiếu gắn bó với thời đại mới - sáng tác văn học không có nhân vật trung tâm, không có những vấn đề trung tâm, xuất hiện xu hướng tiếp thu vội vã, xô bồ, thiếu tính chọn lọc, thiếu phê phán đối với các trào lưu văn nghệ nước ngoài.

Nói chung, các diễn ngôn địa phương (TP. Hồ Chí Minh) về toàn cầu hóa, phần lớn thiên về thứ toàn cầu hóa chung chung, hoặc chỉ thu hẹp lại quá trình toàn cầu hóa về kinh tế, quan hệ giữa phát triển kinh tế và phát triển văn hóa, phát triển xã hội, chứ chưa phải là toàn cầu hóa văn hóa, toàn cầu hóa thông tin… Do đó, những đánh giá về bối cảnh văn hóa đặc thù và những tác động của nó đến lĩnh vực văn học nghệ thuật hiện nay vẫn còn hạn hẹp. Hạn chế nổi bật nhất trong các diễn ngôn địa phương hiện nay là sử dụng rập khuôn các diễn ngôn của thời kỳ trước đổi mới; việc định nghĩa hiện thực mới cũng như những vấn đề mới của văn học nghệ thuật trở nên cứng nhắc, đơn giản và thiên về việc làm đầy thông tin, phổ cập các thông tin theo khuôn mẫu truyền thông truyền thống nhiều hơn các kiến tạo mới về một hệ giá trị thích hợp với bối cảnh đương đại. Hạn chế thứ hai là hầu hết các diễn ngôn địa phương chưa cho thấy mối liên hệ ở bề sâu giữa xu hướng tái diễn giải lịch sử, hiện tượng tạo tác những hiện thực khác về quá khứ, giải cấu trúc chính trị và các tư tưởng, thiết chế văn hóa truyền thống... với việc hiện đại hóa văn học nghệ thuật hiện thời; tình trạng nhấn mạnh thái quá đến tính chất thương mại trong mọi khâu của đời sống văn học sau 1986 giống như việc đặt sai trọng tâm trong các diễn ngôn. Điểm tích cực nổi bật trong các diễn ngôn địa phương về sự phát triển văn học trong thời kỳ mới là tiếp tục phát huy tư tưởng yêu nước, đề cao vai trò quản lý, điều tiết của Nhà nước và sự lãnh đạo của Đảng, thúc đẩy sự “thể chế hóa sự lãnh đạo của Đảng đối với văn hóa, văn học nghệ thuật nói chung tương ứng với sự lãnh đạo của Đảng về kinh tế”… như những nhân tố bảo đảm lợi ích chung, tổng thể của dân tộc về bản sắc, văn hóa, ngôn ngữ. Tuy nhiên, ngay điểm này cũng cho thấy, nhiệm vụ kiến tạo bản sắc - một vấn đề trung tâm trong ứng xử của các quốc gia trước sự ảnh hưởng của hệ tư tưởng toàn cầu hóa, vẫn chưa được đánh giá đầy đủ.

Trong số các diễn ngôn của Nhà nước về phát triển bản sắc văn hóa dân tộc trong thời kỳ toàn cầu hóa những năm gần đây, quan trọng nhất là Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá VIII) về “Xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc (1998); Kết luận Hội nghị lần thứ 10 Ban Chấp hành Trung ương Đảng, khoá IX, về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 5, khoá VIII, những năm sắp tới (2004); Nghị quyết số 23-NQ/TW của Bộ Chính trị về “Tiếp tục xây dựng và phát triển văn học, nghệ thuật trong thời kỳ mới” (2008),Chiến lược phát triển văn hoá đến năm 2020 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt năm 2009. Các diễn ngôn chính thống của Nhà nước đều khẳng định: Quá trình toàn cầu hoá về kinh tế có nguy cơ dẫn đến xung đột với việc bảo tồn bản sắc và đa dạng văn hoá trên phạm vi toàn thế giới”. Chủ trương của chúng ta là chủ động và tích cực hội nhập, mở rộng hợp tác quốc tế về văn hóa, chọn lọc tiếp thu các giá trị tinh hoa văn hoá của nhân loại làm phong phú cho văn hoá đất nước, thúc đẩy văn hoá phát triển đồng thời “nêu cao lòng yêu nước, tự tôn dân tộc, giữ gìn truyền thống, bản sắc dân tộc”, đấu tranh chống khuynh hướng đồng hoá về văn hoá; để kinh tế phát triển bền vững cần gắn với phát triển văn hóa; “Trên cơ sở giữ gìn, phát triển, phát huy những giá trị của văn học, nghệ thuật dân tộc, tiếp tục mở rộng hợp tác quốc tế, tiếp thu có chọn lọc các giá trị nhân văn, khoa học, tiến bộ của nước ngoài, đồng thời kiên quyết ngăn chặn, làm thất bại âm mưu, thủ đoạn áp đặt, xâm lăng văn hóa của các thế lực thù địch”, “tiếp tục đổi mới và nâng cao năng lực, trình độ lãnh đạo của Đảng đối với văn học, nghệ thuật”; “nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về văn học, nghệ thuật. Hoàn thành cơ bản việc thể chế hoá các quan điểm, đường lối, định hướng của Đảng về văn học, nghệ thuật.”... Đó là đặc điểm, nội dung chính của diễn ngôn kiểu mẫu thời đại, một kiểu diễn ngôn có hiệu lực và sức mạnh chi phối, điều khiển, hợp thức hóa các loại diễn ngôn khác, trong đó có diễn ngôn văn học. Các diễn ngôn đại diện cho tính quốc gia trong cuốn sách Tính dân tộc và tính hiện đại trong văn học nghệ thuật hiện nay (2010) cơ bản đều bám sát vào diễn ngôn kiểu mẫu đó.

“Quan hệ giữa tính dân tộc và tính hiện đại là một trong những phạm trù trung tâm của nền văn học nghệ thuật Việt Nam đương đại, là vấn đề của cả nền văn hóa”[7]. Nếu so sánh với các diễn ngôn địa phương, chúng ta sẽ thấy các diễn ngôn mang tính quốc gia trong cuốn cách nói trên đã có ứng xử hài hòa hơn, không còn đối lập máy móc giữa sự hiện đại hóa và nhiệm vụ giữ gìn bản sắc dân tộc, đối lập giữa tính dân tộc và tính nhân loại; ở đó công cuộc hiện đại hóa đã được coi trọng, nội hàm khái niệm bản sắc đã được mở rộng thêm, phạm vi của sự tạo tác bản sắc được hình dung gồm cả bản sắc dân tộc và bản sắc cá nhân, hiện tượng toàn cầu hóa được định nghĩa lại theo hướng loại trừ nét nghĩa “thay thế”, bởi “thay thế văn hóa là xâm lăng văn hóa”; trong khi các diễn ngôn địa phương thiên về bảo vệ, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, một bản sắc văn hóa dân tộc tĩnh, bền vững. Những người đề cao sự hiện đại hóa thường hình dung nền văn học Việt Nam hiện tại đầy những yếu kém, lạc hậu, bất cập, hạn chế, đó là một nền văn học nhỏ bé, thiếu tính nhân loại, tính quốc tế, tính phổ quát… Ý thức đó kéo theo nhu cầu tự phê phán và đòi hỏi phải thay đổi, thay đổi căn bản hệ thống giá trị để nền văn học/văn hóa Việt Nam có tính hiện đại, trở thành hiện đại, rồi hậu hiện đại. Sự phát triển của văn hóa dân tộc, theo niềm tin đó, rõ ràng là diễn ra như một đường thẳng, từ truyền thống đến hiện đại rồi hậu hiện đại; ở đó nội dung của hiện đại hóa được đồng nghĩa với thay đổi, sáng tạo ra cái mới.

*

Đầu những năm 80, trong cuộc tranh luận về Trật tự thế giới mới trong thông tin và truyền thông, các nước thuộc thế giới thứ ba, được sự ủng hộ của Liên Xô, đã tố cáo phương Tây bành trướng văn hóa thông qua phim ảnh, truyền hình... Dominique Wolton cho rằng bản chất của sự phê phán này là đúng đắn, bởi vì phương Tây đã áp đặt cách nhìn của họ về thông tin và quan niệm về văn hóa và truyền thông lên phần còn lại của thế giới[8]. Cũng theo Dominique Wolton, trước đây cường quốc (phương Tây) thống trị trong lĩnh vực kỹ thuật, kinh tế cũng thống trị trong lĩnh vực văn hóa, nhưng hiện nay nên có cái nhìn khác, một cường quốc kinh tế và quân sự mạnh có thể không phải là quốc gia đứng đầu về văn hóa. Dự án toàn cầu hóa văn hóa được Dominique Wolton mô tả, là hướng đến việc xóa bỏ đẳng cấp văn hóa giữa các quốc gia, nó không công nhận sự thống trị về văn hóa của phương Tây đối với các nước nghèo, các nước đang phát triển, nó cũng không công nhận có “nền văn hóa toàn cầu” hay có một không gian văn hóa toàn cầu chung, nó khuyến khích quan điểm công nhận sự đa dạng văn hóa, đa dạng ngôn ngữ giữa các quốc gia, sự tôn trọng và chung sống giữa các nền văn hóa, và nó chống lại sự bành trướng của nền kinh tế thế giới; toàn cầu hóa văn hóa điều phối sự phát triển của các bản sắc, nhưng đề cao sự chấp nhận bản sắc liên hệ chứ không phải bản sắc khép kín của một nền văn hóa, tức là không thể “khẳng định bản sắc của mình bằng cách phủ nhận nền văn hóa khác”. “Khái niệm chung sống giữa các nền văn hóa xuất hiện sau khái niệm về chủ nghĩa bành trướng, chủ nghĩa quốc gia, chủ nghĩa đế quốc và nó bao trùm một mức tối thiểu cho sự hiểu biết lẫn nhau và sự khoan dung, bởi ý niệm về sự chung sống này luôn nằm trong ý niệm về đối thoại và đàm phán”[9].

Với tư cách chủ thể văn hóa, nhà văn không đứng ngoài quá trình toàn cầu hóa văn hóa, anh ta không chỉ thụ hưởng các di sản mà còn sáng tạo ra các giá trị văn hóa, không chỉ chịu sự tác động của quá trình toàn cầu hóa mà còn tham gia vào dự án toàn cầu hóa văn hóa đó theo các cách khác nhau, chẳng hạn thúc đẩy việc tạo ra một ngôn ngữ có tính biểu trưng toàn cầu, thúc đẩy sự trao đổi thông tin, tiếp biến văn hóa, sự hiểu biết lẫn nhau giữa các nền văn hóa, các xã hội, các quốc gia. Với tư cách chủ thể của văn hóa, nhà văn cần đặt ra và lý giải những vấn đề bức thiết của toàn cầu hóa văn hóa, toàn cầu hóa thông tin, thể hiện những vấn đề ấy bằng ngôn ngữ văn học, đặc biệt là phải góp phần kiến tạo nên một hệ giá trị mới, giàu giá trị nhân văn và phải tạo tác những bản sắc (bản sắc cá nhân, bản sắc dân tộc…).

Một tác phẩm ngang tầm thời đại, lúc này, có thể là tác phẩm về cuộc một cuộc khủng hoảng/đảo lộn bản sắc, đi tìm bản sắc, bảo vệ bản sắc hoặc sự đối thoại giữa các nền văn hóa và nguy cơ bị mất bản sắc riêng biệt của các dân tộc. Tác phẩm ngang tầm thời đại lúc này có thể là tác phẩm kiến tạo thành công bản sắc dân tộc đa bội bằng một ngôn ngữ tinh tế, độc đáo, hấp dẫn. Cũng có thể là tác phẩm viết về một cuộc tìm kiếm ngôn ngữ chung, tiếng nói và cách nhìn chung giữa các “công dân toàn cầu”, tức là viết về những thách thức văn hóa mới đối với mọi người hiện nay, thách thức, đe dọa về văn hóa ở cấp độ Nhà nước - quốc gia lại chính là thách thức chính trị. Văn hóa và truyền thông thông tin có thể là nguyên nhân gây ra sự bất ổn, chiến tranh, xung đột sắc tộc, làm suy giảm lòng tin… “Đối với đa số nước nghèo, độc lập về chính trị trở nên bất lực trước toàn cầu hóa kinh tế. Điều đó không có nghĩa là độc lập về chính trị đứng hàng thứ hai, mà có nghĩa rằng, nếu không tôn trọng bản sắc văn hóa, độc lập về chính trị sẽ yếu đi. Sự tôn trọng bản sắc văn hóa thường là nhân tố chủ yếu để giữ gìn độc lập”[10]. Vẫn biết rằng, nhà văn của mọi dân tộc không thể đứng ngoài những vấn đề của văn hóa, chính trị, của quốc gia, dân tộc đó, nhưng đến nay, “văn học thế giới nói về vấn đề chung sống giữa các nền văn hóa rất hạn chế. Nó chỉ đề cập đến những chủ đề cổ điển của UNESCO (“đối thoại giữa các nền văn hóa”), hoặc chủ đề văn học hay triết học của sự pha tạp hay của chủ nghĩa thế giới”[11].

Trần Thiện Khanh

(Hết)



[1] Tác giả Thế giới phẳng "mách nước" Việt Nam cạnh tranh với Trung Quốc. Bản điện tử: http://danviet.vn/thoi-su/tac-gia-the-gioi-phang-mach-nuoc-viet-nam-canh-tranh-voi-trung-quoc/20140507093210685p1c24.htm

[2] Tác giả 'Thế giới phẳng' Thomas L. Friedman: Bản sắc mạnh thì không sợ xu hướng 'phẳng'. Bản điện tử: http://thethaovanhoa.vn/van-hoa-giai-tri/tac-gia-the-gioi-phang-thomas-l-friedman-ban-sac-manh-thi-khong-so-xu-huong-phang-n20140509084131685.htm

[3] Ca Lê Thuần, “Đời sống văn học nghệ thuật TP. Hồ Chí Minh trong bối cảnh hội nhập – toàn cầu hóa”/ Văn học nghệ thuật TP. Hồ Chí Minh trong bối cảnh hội nhập - toàn cầu hóa,Nxb. Văn nghệ, TP. HCM, 2007, tr.5

[4] Ca Lê Thuần, “Đời sống văn học nghệ thuật TP. Hồ Chí Minh trong bối cảnh hội nhập – toàn cầu hóa”/ Văn học nghệ thuật TP. Hồ Chí Minh trong bối cảnh hội nhập - toàn cầu hóa,Nxb. Văn nghệ, TP. HCM, 2007, tr.6

[5] Vũ Hạnh, “Văn học nghệ thuật chúng ta có định hướng chiến lược không?” ”/ Văn học nghệ thuật TP. Hồ Chí Minh trong bối cảnh hội nhập - toàn cầu hóa,Nxb. Văn nghệ, TP. HCM, 2007, tr.68

[6] Theo Trần Hữu Lục, “Văn học dịch cần được phát triển và điều phối theo hai chiều: dịch tác phẩm nước ngoài cố nội dung phù hợp với đạo lý, đời sống chính trị của đất nước. Và dịch tác phẩm tiêu biểu trong nước ra tiếng nước ngoài để giao lưu, hội nhập quốc tế”/Văn học nghệ thuật TP. Hồ Chí Minh trong bối cảnh hội nhập - toàn cầu hóa,Nxb. Văn nghệ, TP. HCM, 2007, tr.54

[7] Tô Huy Rứa, “Tiếp tục khơi dậy và phát huy tiềm năng, năng lực sáng tạo của đội ngũ văn nghệ sĩ giàu tâm huyết và tài năng của đất nước”/ Tính dân tộc và tính hiện đại trong văn học nghệ thuật hiện nay,Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2010, tr.18

[8] Domineque Wolton, Toàn cầu hóa văn hóa, Nxb. Thế giới, 2006,  tr.99

[9] Domineque Wolton, Toàn cầu hóa văn hóa, Nxb. Thế giới, 2006, tr.137

[10] Domineque Wolton, Toàn cầu hóa văn hóa, Nxb. Thế giới, 2006,  tr.139

[11] Domineque Wolton, Toàn cầu hóa văn hóa, Nxb. Thế giới, 2006,  tr.117

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác