Giải thưởng Hội Nhà văn Hà Nội từ năm 2002 đến nay (7)

(Toquoc)- Theo Quy chế giải thưởng, các tác phẩm thuộc diện xét giải của Hội Nhà văn Hà Nội được xuất bản trong khoảng thời gian từ tháng 7 năm trước đến tháng 6 năm sau (trừ Giải thưởng năm 2002-2003). Các tác phẩm này đều được sàng lọc thông qua sự giới thiệu của hội viên, của các ủy viên hội đồng chuyên ngành, thông tin của báo chí và dư luận người đọc.

Như vậy, nếu tính theo thời gian hành chính, giải thưởng thường niên của Hội Nhà văn Hà Nội trên thực tế là “hai năm” trao thưởng một lần, tác phẩm của năm trước gối liền tác phẩm của năm hiện tại dự xét giải. Trong khi đó, giải thưởng thường niên của Hội Nhà văn Việt Nam lại được tổ chức theo hình thức năm sau xét các tác phẩm xuất bản năm trước và mới đây mới thay đổi Quy chế xét giải thưởng hàng năm của Hội cho kịp xu hướng thời đại. Tính cập nhật của giải thưởng Hội Nhà văn Hà Nội rõ ràng hơn hẳn giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam. Do chọn xét và trao thưởng theo thời gian như thế, nên giải thưởng của Hội Nhà văn Hà Nội thường đi trước một bước so với Hội Nhà văn Việt Nam. Cụ thể là có tác phẩm đoạt giải thưởng của Hội Nhà văn Hà Nội sau đó lại được trao giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam, ví dụ: Cây bút đời người của Vương Trí Nhàn, Hồ Quý Ly của Nguyễn Xuân Khánh, Cuộc đời của Pi do Trịnh Lữ dịch... Ưu thế ấy góp phần quan trọng vào việc tạo ra uy tín cho giải thưởng của Hội Nhà văn Hà Nội.

So với giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam, các tác phẩm được đề cử vào chung khảo của giải thưởng Hội Nhà văn Hà Nội thường ít hơn về số lượng và quan trọng hơn là đa số những cuốn được đề cử thuộc loại khá, tác giả của nó cũng đều là những tác giả có danh tiếng trong văn giới. Sự thuận lợi này giúp cho Hội đồng chung khảo xử lí các văn bản dự giải tập trung hơn và có điều kiện thời gian nâng cao chất lượng thẩm định văn bản. Vả lại, sự chọn lọc ấy cũng cho thấy, Hội đồng sơ khảo Hội Nhà văn Hà Nội đã có những nỗ lực góp phần đáng kể vào việc vinh danh những tác phẩm văn học đích thực. Thành phần Hội đồng chung khảo xét giải thưởng thường niên của Hội Nhà văn Hà Nội năm nào cũng bao gồm Chủ tịch Hội đồng của 4 chuyên ngành: Văn xuôi, Thơ, Lí luận - phê bình, Văn học dịch, và các thành viên BCH Hội (Chủ tịch Hội, Phó Chủ tịch, Ủy viên). Trong số đó có 2/3 thành viên “đặc trưng” của Hội (nhưng uy tín không đồng đều, một vài trong số này có những ý kiến trái ngược về giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam, nghĩa là phần nào đó có xung đột về quan điểm đánh giá, về nhãn quan giá trị giữa hai hệ thống giải thưởng) và 1/3 thành viên trùng với thành viên Hội đồng giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam. Tương tự như Hội đồng giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam: có năm thành viên này hay thành viên khác trong cơ cấu cố định của Hội đồng giải thưởng đi công tác xa (gửi lại phiếu bầu); nhìn chung trong cách thức và cơ cấu chấm giải thưởng của Hội Nhà văn Hà Nội vẫn có tính chất hành chính, tính nhiệm kì và không tránh khỏi màu sắc chính trị.

Đối tượng xét giải của Hội, có thay đổi từ “chỉ xét với những tác giả Hà Nội” đến xét giải đối với sách văn học của các nhà văn hội viên Hội Nhà văn Hà Nội và tác phẩm viết về Hà Nội của các tác giả viết tiếng Việt ở mọi miền. Tiêu chí xét giải của Hội Nhà văn Hà Nội có điểm trùng với Hội Nhà văn Việt Nam là dựa vào “dư luận” (tác phẩm có dư luận). Đây là một tiêu chí có thể đem lại sự thiếu khách quan và thiếu công bằng trong xét chọn và trao giải thưởng vì thực ra các Hội đồng không có một điều tra nào về “dư luận”, cũng không có con số thống kê chính xác của một tổ chức độc lập nào điều tra về dư luận tác phẩm, càng chưa có cơ sở xã hội học nào để coi những cái gì là dư luận và cái gì thì không phải dư luận, bao nhiêu người và những người như thế nào thì được gọi là dư luận, có dư luận; căn cứ vào dư luận là một tiêu chí rất mơ hồ và bất ổn.

Cơ cấu giải thưởng của Hội Nhà văn Hà Nội gồm: giải thưởng thường niên, giải thưởng thành tựu, và giải thưởng các cuộc thi do Hội tổ chức…

Giải thưởng năm 2002-2003: Hội đồng giải thưởng của Hội Nhà văn Hà Nội làm việc theo phương thức “tự tìm sách, tự đọc”, “chỉ xét giải với những tác giả Hà Nội”, những tác phẩm xuất bản từ 01/6/2002 đến 31/5/2003; tác phẩm của các tác giả ở các tỉnh, thành khác có thể hay hơn không được đưa vào cơ cấu giải thưởng. Ban Chung khảo gồm nhà văn Hồ Anh Thái, Hoàng Ngọc Hà, Bằng Việt, Phan Thị Thanh Nhàn, Vũ Quần Phương, Bùi Việt Mỹ, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phạm Xuân Nguyên, Lê Xuân Sơn. Có 6 tác phẩm đoạt giải thưởng. Thơ: Thơ Chu Hoạch, Sao dẫn lối của Đoàn Thị Lam Luyến. Văn xuôi: Đèn vàng (tiểu thuyết) của Trần Chiến. Văn học dịch: Cái trống thiếc (tiểu thuyết của Guenter Grass, Đức) bản dịch của Dương Tường và Đàn hương hình (tiểu thuyết của Mạc Ngôn, Trung Quốc) bản dịch của Trần Đình Hiến. Lí luận phê bình: Cây bút đời người (chân dung văn học) của Vương Trí Nhàn.

Giải thưởng năm 2003-2004: Ban chung khảo gồm: Hồ Anh Thái, Hoàng Ngọc Hà, Bằng Việt, Bùi Việt Mỹ, Phan Thị Thanh Nhàn, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phạm Xuân Nguyên, Lê Xuân Sơn. Xét những tác phẩm xuất bản từ tháng 7/2003 đến tháng 6/2004. Có 5 tác phẩm đoạt giải. Giàn thiêu (tiểu thuyết) của Võ Thị Hảo, Tháp cúc (thơ) của Trần Quốc Thực, Những con ngựa đêm (thơ) của Nguyễn Việt Chiến, Vọng từ con chữ (lí luận phê bình) của Nguyễn Đăng Điệp, Cuộc đời của Pi (tiểu thuyết của Yann Martel) do Trịnh Lữ dịch.

Giải thưởng năm 2004-2005: Ban Chung khảo gồm nhà văn Hồ Anh Thái, Hoàng Ngọc Hà, Bằng Việt, Vũ Quần Phương, Bùi Việt Mỹ, Phan Thị Thanh Nhàn, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phạm Xuân Nguyên, Lê Xuân Sơn. Những tác phẩm được đề cử xét trao giải (thay đổi) xuất bản từ tháng 7/2004 đến tháng 6/2005. Đó là những tác phẩm có dư luận. Tác phẩm được trao giải thưởng bao gồm: Chuyện thiên tài (tiểu thuyết) của Nguyễn Thế Hoàng Linh, Gia đình bé mọn (tiểu thuyết) của Dạ Ngân, Điệu valse giã từ (tiểu thuyết của Milan Kundera) bản dịch của Cao Việt Dũng, Phồn thi (tập thơ) của Phạm Công Trứ, Thơ trữ tình thế giới thế kỉ XX (Giải thành tựu trọn đời) của Bằng Việt. Điểm nổi bật thứ nhất trong giải thưởng thường niên của Hội Nhà văn Hà Nội năm 2004-2005 là trao tặng cho tác giả trẻ, dịch giả trẻ. Điểm nổi bật thứ hai, mà các hệ thống giải thưởng khác ở ta chưa có được, đó là trao Giải Thành tựu trọn đời cho một tác giả có nhiều đóng góp đối với hoạt động giới thiệu văn chương nước ngoài ở Việt Nam. Như vậy, trong khi chọn trao giải thưởng, Hội Nhà văn Hà Nội đã đáp ứng được tính thời sự, trao tặng cho một tác phẩm xuất sắc của năm và đồng thời quan tâm đến tính quá trình, đến những đóng góp của một sự nghiệp sáng tác. Trong khi nhiều giải thưởng, cuộc thi ở ta đang bị lão hóa thì sự xuất hiện của một giải thưởng trẻ hóa, cổ vũ cho những nhân tố mới như giải của Hội Nhà văn Hà Nội hiển nhiên đã tạo được sự chú ý đặc biệt. Thành công đáng kể của giải thưởng Hội Nhà văn Hà Nội được thể hiện qua những nhận xét cụ thể, rõ ràng về giá trị tác phẩm. Đây là một lí do khiến cho giải thưởng hàng năm của Hội Nhà văn Hà Nội ngày càng vượt về uy tín, có dư luận tích cực nhiều hơn so với giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam. Tuy nhiên cũng cần thấy rằng, hạng mục giải Thành tựu (Thành tựu trọn đời, Thành tựu về thơ…) vốn không có trong Điều lệ giải thưởng của Hội. Sự xuất hiện của giải thưởng này được Ban chấp hành Hội nhiệm kì mới coi là một sự mở rộng cơ cấu giải thưởng theo đòi hỏi của thực tiễn. Nhưng thực tế, sự ra đời của giải thưởng này trước tiên là cách xử lí linh hoạt của Hội đồng chung khảo giải thưởng trước một tuyển tập thơ dịch của Chủ tịch Hội văn học nghệ thuật Hà Nội xuất bản năm 2005: do không thể trao giải thường hàng năm cho tác phẩm của tất cả các thành viên trong Hội đồng chung khảo nên Hội đồng chung khảo đã theo sáng kiến của một ủy viên BCH lập nên giải Thành tựu (trọn đời). Giải thưởng này không phải năm nào cũng được xét trao thưởng.

Giải thưởng năm 2005-2006: Căn cứ vào dư luận và hệ thống thông tin đại chúng, Hội đồng sơ khảo giải thưởng thường niên năm 2006 (năm đầu tiên của nhiệm kì BCH mới) giới thiệu trên 100 tác phẩm dự giải. Sau khi sàng lọc, Hội đồng sơ khảo chọn đề cử vào chung khảo 10 tác phẩm được cho là có dư luận và có chất lượng hơn cả. Hội đồng chung khảo gồm các thành viên BCH Hội và các Chủ tịch Hội đồng chuyên ngành: Hồ Anh Thái, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phạm Xuân Nguyên, Bằng Việt, Bùi Việt Mỹ, Lê Minh Khuê, Vân Long, Nguyễn Thị Minh Thái, Đoàn Tử Huyến. Hội đồng chung khảo cho rằng năm qua văn học Việt Nam có nhiều tác phẩm hay, có thể nới rộng, thậm chí trao giải cho vài ba tác phẩm thuộc mỗi thể loại; thế nhưng để “nâng cao chất lượng giải thưởng”, khắc phục “tình hình lạm phát giải thưởng” Hội Nhà văn Hà Nội quyết định mỗi thể loại “chỉ chọn lấy một tác phẩm, coi đó là cuốn sách hay nhất trong năm”. “Quy chế xét giải thưởng của Hội đã ghi rõ nếu thể loại nào không có tác phẩm hay thì có thể để trống chứ không trao giải gượng ép” (Người Hà Nội số 38 ngày 22/9/2006). Sự thay đổi này là một động thái đổi mới đầu tiên của Ban Chấp hành nhiệm kì mới. Kết quả có 4 tác phẩm được trao giải: Mẫu thượng ngàn (tiểu thuyết) của Nguyễn Xuân Khánh vừa cổ điển vừa hiện đại, Hành trình (thơ) của Hoàng Hưng đạt được độ chín sau nhiều tìm tòi thể nghiệm, Giăng lưới bắt chim (tiểu luận, phê bình) của Nguyễn Huy Thiệp có lối viết đầy cá tính và hấp dẫn, Cô đơn trên mạng (tiểu thuyết, Ba Lan) do Nguyễn Thanh Thư dịch đã có công lao nối lại cuộc tiếp xúc giữa văn học Ba Lan đương đại và văn học Việt. Giải thưởng năm 2005-2006 của Hội Nhà văn Hà Nội nhìn chung đánh dấu sự thay đổi quan trọng trong việc không xét đến lí lịch khi thẩm định trao giải cho các tác giả văn học như nhiều giải thưởng chính thống hiện thời của ta. Nhưng công bằng cũng phải thấy rằng việc Giăng lưới bắt chim được trao giải thưởng cho thấy Hội Nhà văn Hà Nội thiên về uy tín, ảnh hưởng của Nguyễn Huy Thiệp, có phần nhằm bênh vực những đánh giá có tính phê phán lộn trái của tác giả hơn là xét đến giá trị thực của Giăng lưới bắt chim. Thực tế đấy là một cuốn sách chưa có hệ thống, còn đậm tính chất báo chí và cảm tính.

Giải thưởng năm 2006-2007: Các tác phẩm dự xét giải được ủy viên các hội đồng chuyên ngành, các hội viên, dư luận báo chí và công chúng đề cử. Có 8 tác phẩm lọt vào chung khảo. Hội đồng Chung khảo gồm: Hồ Anh Thái, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phạm Xuân Nguyên, Vũ Quần Phương, Bùi Việt Mỹ, Bằng Việt, Lê Minh Khuê, Vân Long, Nguyễn Thị Minh Thái, Đoàn Tử Huyến. Nhà thơ Bằng Việt đi công tác xa, gửi lại phiếu bầu. Kết quả, Hội Nhà văn Hà Nội để trống giải lí luận phê bình, trao giải văn xuôi, thơ và văn học dịch cho các tác phẩm sau: Utopi, một miếng để đời (tiểu thuyết) của Vũ Bão, Gửi VB (thơ) của Phan Thị Vàng Anh, Biên niên kí chim vặn dây cót (H. Murakami, Nhật Bản) do Trần Tiễn Cao Đăng dịch. Tuy nhiên, những đánh giá của Hội Nhà văn Hà Nội về các tác phẩm văn xuôi và thơ đoạt giải vẫn còn sáo rỗng, chung chung, chưa có sức thuyết phục cao (Người Hà Nội số 36 ngày 7/9/2007). Chẳng hạn, về cuốn Utopi, một miếng để đời, Hội Nhà văn Hà Nội nhận định “đây là tác phẩm có ưu thế về tính nóng hổi của thời sự và gây được sự thích thú với độc giả đương đại”, hoặc về Gửi VB, “ngôn ngữ tiết chế, chính xác, cảm xúc được huy động đủ độ, cấu trúc thơ đôi khi được làm mới một cách bất ngờ nhưng không sa vào khiên cưỡng… cái riêng tư trong thơ chị không hề mỏng manh mà đủ sức gây rung động và tạo ra những cảm xúc mạnh”. Giải thưởng lần này của Hội Nhà văn Hà Nội nhìn chung kém về chất lượng hơn so với các năm khác nhưng lại có ý ghi một dấu mốc quan trọng về sự thành công của các công ty sách tư nhân (Nhã Nam, Đông A).

Giải thưởng năm 2007-2008: Từ năm 2007 Hội Nhà văn Hà Nội sẽ không trao các giải đồng hạng, mỗi hạng sẽ chỉ trao cho một tác phẩm. Hội đồng chung khảo gồm nhà văn Hồ Anh Thái, Phạm Xuân Nguyên, Lê Minh Khuê, Đoàn Thị Lam Luyến, Nguyễn Thị Minh Thái, Đoàn Tử Huyến. Nhà văn Nguyễn Thị Thu Huệ, Bùi Việt Mỹ đi công tác vắng, gửi lại phiếu bầu. 10 tác phẩm lọt vào chung khảo: Thơ Trần Dần, U 75 từ tình (thơ) của Lê Đạt, Vệt trăng và cánh cửa (thơ) của Hoàng Việt Hằng, Thăm thẳm bóng người (tùy bút) của Đỗ Chu, Giã biệt bóng tối (tiểu thuyết) của Tạ Duy Anh, Văn hóa văn minh, văn hóa chân lí và văn hóa dịch lí (nghiên cứu) của Hoàng Ngọc Hiến, Thơ Việt Nam, tìm tòi và cách tân (phê bình) của Nguyễn Việt Chiến; Nửa kia của Hitler (Aric Emmanuel Schmitt) do Nguyễn Đình Thành dịch, Kafka bên bờ biển (Haruki Murakami) do Dương Tường dịch, Những kẻ thiện tâm (Jonathan Litell) do Cao Việt Dũng dịch. Trong số các tác phẩm được đề cử, tác phẩm văn xuôi và nghiên cứu phê bình không đủ số phiếu để trao giải. Thơ Trần Dần đạt giải Thành tựu trọn đời về thơ, trao giải cho tuyển tập này, Hội Nhà văn Hà Nội tôn vinh tính độc đáo mới mẻ của những tác phẩm lần đầu được chính thức công bố, khẳng định tính bền vững, tiên phong, cập thời và có ảnh hưởng lớn của thơ Trần Dần đến nhiều thế hệ cách tân thơ đương đại. Vệt trăng và cánh cửa đoạt giải thơ, sự vinh danh tác phẩm này là nhằm vào mảng thơ bộc lộ nội tâm chân thực, gợi nhiều day dứt, trắc ẩn nhưng giọng điệu vẫn rắn rỏi khỏe khoắn. Nửa kia của Hitler đoạt giải văn học dịch, Hội Nhà văn Hà Nội ghi nhận đóng góp của dịch giả trẻ Nguyễn Đình Thành trong việc phát hiện ra tác phẩm hay để giới thiệu với độc giả Việt Nam. Đây là dịch phẩm đầu tay, chứng tỏ được sự am hiểu và tài năng chuyển ngữ của Nguyễn Đình Thành.

Giải thưởng năm 2008-2009: Có 11 tác phẩm lọt vào chung khảo. Hội đồng Chung khảo gồm: Hồ Anh Thái, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phạm Xuân Nguyên, Vũ Quần Phương, Bằng Việt, Bùi Việt Mỹ, Nguyễn Trung Sơn, Lê Trung Tiết, Lê Minh Khuê, Đoàn Thị Lam Luyến, Nguyễn Thị Minh Thái, Đoàn Tử Huyến. Kết quả, giải thưởng lí luận phê bình thuộc về Bút pháp của ham muốn (Đỗ Lai Thúy), giải văn xuôi thuộc về tiểu thuyết Một mình một ngựa (Ma Văn Kháng), giải văn học dịch được trao cho tiểu thuyết Nhẫn thạch của Atiq Rahimi (do Nguyên Ngọc dịch). Giải thưởng năm 2008 giống như một sự bù trừ: văn xuôi và phê bình năm trước không giành được giải thưởng, năm 2008 đã có hai tác phẩm được tôn vinh; so với thành tựu đã đạt được năm trước, thơ năm 2008 lại không có thành tích nổi trội. Tuy những điều đó chỉ là nhìn bề mặt. Nếu cân nhắc kĩ lưỡng, thấu đáo hơn, Hội đồng giải thưởng của Hội Nhà văn Hà Nội sẽ chọn được một trong số hai tác phẩm Trà nguội của Đặng Thị Thanh Hương và Phố đồng thảo của Chu Hồng Tiến để trao giải.

Giải thưởng năm 2009-2010: Thông cáo báo chí của Hội Nhà văn Hà Nội ghi rõ “những tác phẩm vào chung khảo được lựa chọn trong số rất nhiều tác phẩm của hội viên gửi đến hội và từ những tác phẩm có dư luận trên báo chí, được người đọc quan tâm, kết hợp với sự phát hiện và giới thiệu của hội viên”. Kết quả những tác phẩm sau được trao giải: Cởi gió (tập thơ) của Nguyễn Phan Quế Mai, Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi (tuyển tập thơ của Lưu Quang Vũ, giải Thành tựu về thơ), Nhân gian (tiểu thuyết) của Thùy Dương. Không có tác phẩm dịch và công trình lí luận phê bình văn học nào đoạt giải thưởng. Như thế, giải thưởng hàng năm của Hội chỉ được trao cho tác giả nữ. Cũng như dư luận về giải A của cuộc thi thơ 2008-2009 do tạp chí Văn nghệ Quân đội tổ chức, tập thơ Cởi gió của Nguyễn Phan Quế Mai bị coi là có nhiều bài thiếu chất thơ, chất lượng tập thơ trung bình. Năm 2010 là năm thứ 3 Hội Nhà văn Hà Nội trao giải Thành tựu. Thành lập giải Thành tựu là cần thiết bởi vì điều đó phù hợp với xu hướng cần đa dạng hóa giải thưởng nhằm thúc đẩy sự phát triển của văn học, tôn vinh những đóng góp của tác giả đối với thể loại nói riêng, nền văn học dân tộc nói chung. Thế nhưng điều đáng nói là việc xét và trao giải thưởng này của Hội Nhà văn Hà Nội chưa có quy định chặt chẽ: tên gọi của giải chưa thống nhất, chưa cố định, chưa có trong điều lệ giải; thể thức trao giải, đối tượng xét giải chưa được cụ thể hóa; giải Thành tựu trọn đời khác giải Thành tựu về thơ… ra sao, tiêu chí của các giải thường đó như thế nào, phải chăng chỉ xét trao cho các tuyển tập. Trước những bất cập đó, Hội Nhà văn Hà Nội tỏ ra lúng túng: thay vì bàn thảo chất lượng của đối tượng xét giải (xem nó có xứng đáng không…) lại có ý kiến trong Hội đồng cho rằng không nên trao giải thưởng này nữa… Rõ ràng giải Thành tựu của Hội Nhà văn Hà Nội đang có nhiều bất ổn: Hội vừa thẩm định xét trao giải vừa tìm lí do hợp thức hóa quyết định ấy.


Ngoài các giải thưởng hàng năm, hệ thống giải thưởng của Hội Nhà văn Hà Nội cũng bao gồm giải thưởng của các cuộc thi. Chẳng hạn: Giải thưởng cuộc thi truyện ngắn và thơ 2005-2006 với chủ đề Ngàn năm thương nhớ của báo Người Hà Nội

Giải thưởng của Hội Nhà văn Hà Nội vẫn nằm trong khuôn khổ chính thống, do đó không thể nào thoát khỏi những ảnh hưởng về chính trị. Dù rằng có những năm việc xác lập hệ thống giải này có trao giải cho các tác giả có nhân thân đặc biệt, nhưng nó vẫn đang đi trong rợp bóng của những phong trào. Điểm gây chú ý của giải thưởng Hội Nhà văn Hà Nội (trong lúc các giải thưởng khác mất đi thanh thế lẫy lừng, độc tôn của mình) trước hết ở tính khiêu khích của nó, thứ nữa mới là cơ cấu và chất lượng của giải thưởng. Cũng không thể phủ nhận thực tế rằng: uy tín và vị thế của giải thưởng Hội Nhà văn Hà Nội được nâng lên, gây được một niềm phấn khích cho độc giả chính nhờ bởi một số tác giả đoạt giải của nó đã có chỗ đứng nhất định trong nền văn học. Cho đến giờ, thoạt tiên chúng ta tưởng Hội Nhà văn Hà Nội có xu hướng tiên phong trong việc vinh danh các tác giả trẻ hoặc thành tựu của giải thưởng này nằm ở đấy, song rốt cuộc thì chính những tác giả thành danh, những tác giả có thâm niên trong nghề mới là những người tạo ra sự kiện và “bảo lãnh” thanh thế cho giải thưởng này.

Yến Oanh

 

>>> Nhìn nhận về giải thưởng văn học trên thế giới (1)

>>> Tình hình trao giải và những so sánh bước đầu (2)

>>> Về Giải thưởng Uỷ ban toàn quốc Liên hiệp các Hội VHNTVN (3)

>>> Tầm giải thưởng của tác phẩm văn học Việt Nam (4)

>>> Nhìn lại một số giải thưởng VHNT địa phương (5)

>>> Văn học Việt Nam: nhiều giải thưởng, ít đề tài (6)

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác