Ghi ở Hương Ngải

Ngô Thảo

Xã Hương Ngải, huyện Thạch Thất, tỉnh Hà Tây là một xã có đời sống khá giả: nhà mái ngói, tường và đường lát đá ong. Nền nhà, sân phơi đều tráng xi măng. Nhà văn Nguyễn Đình Thi theo cơ quan Hội Nhà văn sơ tán ở mạn Sấu Giá, thỉnh thoảng lại sang chơi với Vũ Cao, Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu, Hồ Phương, Hữu Mai…

Mới từ chiến trường Trị Thiên ra, nhà văn Ngô Thảo được điều về Tạp chí Văn nghệ Quân đội đã ghi vào sổ tay một số buổi trò chuyện văn chương ấy. Rất tiếc là do không có ý thức nghiêm chỉnh nên việc ghi chép không đều. Giờ sổ tay chỉ còn lại một ít trang. Xin chép lại như một tư liệu về đời sống văn nghệ những ngày còn đánh Mỹ.

25/5/1972

Nguyễn Đình Thi (N.Đ.T): - Một tác phẩm hay không phải bao giờ cũng là một tác phẩm toàn bích với nghĩa tròn trịa, đủ đầy mọi thứ ! Và lắm khi không phải ở ngay những chuyện nói trực tiếp trong tác phẩm. Nó còn là một cái gì sâu kín hơn đi cùng với tất cả đó.

Văn học nước mình hơn 20 năm qua bị úm trong Bài nói Văn nghệ ở Diên An, làm cho nó bị gò bó, khô khan, nông nhạt, què quặt trong nhiệm vụ phục vụ Công Nông binh.

Nguyễn Minh Châu (N.M.C): - Bây giờ đã hết chưa ?

N.Đ.T: - Đến giờ thì đã bắt đầu gỡ ra.

N.M.C: - Nhưng cũng còn lâu đấy, anh ạ.

N.Đ.T: - Trở lại xem văn học mình khoảng những năm 1946-1950 hay biết bao nhiêu trong viết về chiến tranh và con người, trong các tác phẩm của Nam Cao, Trần Đăng, Nguyễn Huy Tưởng… Chỉ từ khi nhập Trời hửng (của Vương Lực) với Triệu Thụ Lý v.v… mà chúng ta mất đi cái hay đó.

* Ông Nguyễn Tuân là người cái danh lớn hơn cái tài thực. Trước sau chỉ có hai cuốn là hay: Trước cách mạng là Vang bóng một thời, và sau này là Sông Đà. Mà văn chương Vang bóng một thời hay hơn. Đây là một thứ văn trong sáng, tinh thế trong kiểu thức của nó. Đến Sông Đà đã quá cầu kỳ, rắc rối, chữ nghĩa.

* Nam Cao là một người sống rất tốt, rất chân tình nhưng trong đời, tăm tiếng không có gì nhiều.

* Nguyễn Huy Tưởng hiểu nhiều, biết rộng, tài hoa nhưng văn chương chưa bộc lộ hết con người. Trước cách mạng, tác phẩm hay nhất là về kịch.

(Hồ Phương: - Bắc Sơn mới nhưng vội vàng quá. Những người ở lại là một loại Lôi Vũ cải biên). Hay nhất là Vũ Như Tô. Văn chương đối thoại có thể gọt bớt nhưng đúng là một vở kịch hay. Nhưng phải nhận là khó diễn.

Bao nhiêu tâm huyết để cả vào Sống mãi với Thủ dô, thì lại bỏ dở. Cái hiện có là bản viết đầu tiên, chưa kịp chữa.

* Văn chương thế giới vẫn có hai loại: Một loại tiểu thuyết có tính chất luận đề, lấy tri thức làm chính, nó dùng toàn bằng lý trí, hiểu biết sách vở để chứng minh cho một luận đề nào đó. Văn học Pháp đang phát triển kiểu viết này. Còn có loại văn học lấy đời sống làm gốc, phản ánh những vấn đề của đời sống. Văn học Nga, văn học nước ta thuộc loại này. Nó ăn nhau ở vốn sống. Mỹ cũng thế. Đời sống nhà văn nước họ nó phong phú, ly kỳ lắm. Mà có vậy tác phẩm mới hay. Còn ở Pháp, nhà văn thường là những nhà trí thức. Có một vài người là công nhân nhưng rất hiếm. Loại văn chương đó có cái hay của nó nhưng nói chung là khô khan, gò gẫm. Nhưng loại thứ hai viết cho hay cũng rất khó. Mình cứ đi theo ông Tônstôi, ông Đôt (Dostoiepxki) thì đến bao giờ mới vượt được họ? Nước Nga thế kỷ XIX, đó là nơi có những đỉnh cao của tiểu thuyết, mà đến giờ chưa ai vượt qua được.

* Trong chiến tranh, văn học nghệ thuật nước nào cũng vậy, bao giờ cũng phải chịu những hạn chế nhất định. Nhà văn lúc đó chỉ có thể là người thổi kèn, đánh trống ! Làm sao mà viết trung thực về chiến tranh được. (Yêu cầu chính trị, yêu cầu động viên, yêu cầu bí mật, yêu cầu tất cả cho chiến thắng… không cho nhà văn và văn học lửng lơ, khách quan). Sự thực trong chiến tranh không thể là toàn bộ sự thật. Nhưng chết chóc, hy sinh, đau khổ, mất mát còn lại rất lâu. Những vẫn đề của chiến tranh nhiều năm sau giải quyết không hết, nhưng trong chiến tranh, không thể nói to lên, nói hết, mà phải nén lại, phải dấu đi, nếu không cũng lờ đi. Yêu cầu chiến thắng đòi hỏi phải như thế. Và thế là hoàn toàn đúng, hoàn toàn nhân đạo. Nhà văn sẽ phi chính trị, vô lương tâm, khi anh lạnh lùng phanh phui tất cả những cái đó, khi anh nói ra, người ta có thể nhổ vào mặt anh: Anh bôi nhọ chúng tôi, anh là người giả dối, xuyên tạc sự thật. Nhưng đó vẫn là một sự thật không thể chối cãi. (Lời nói sẽ trôi đi với thời gian - chỉ sự thật là còn lại - (mình nghĩ thêm).

Văn học Liên Xô trong chiến tranh cũng vậy thôi. Họ chiến đấu vì Tổ quốc có ra gì đâu.

Hải Hồ (H.H): - Nhưng Simônốp sau này lại viết về chiến tranh: Những người còn sống và những người đã chết vẫn không thể nói là hơn trong chiến tranh, sức hấp dẫn, sinh động vẫn thua Mùa xuân trên sông Ôđe.

N.Đ.T: - Nhưng nó có những vấn đề trong chiến tranh không nói được. Sự hèn nhát bên những người anh hùng, những sai lầm, khuyết điểm của Bộ chỉ huy tối cao. Và hiện nay, đó vẫn là người viết về chiến tranh hay nhất. Tất nhiên Simônôp cũng không phải là tài năng lớn, và những năm gần đây, văn học Liên Xô cũng không có những nhà văn xuất sắc. Aimatốp cũng chỉ được biết chủ yếu ở trong nước (1972), đó là một nhà văn người dân tộc thiểu số. Đối với phương tây, ông ta cũng có được mấy ai chú ý đâu.

N.M.C: Văn học Việt Nam ở Liên Xô là thế nào anh?

N.Đ.T: Ở Liên Xô người ta thích nhất Dế mèn phiêu lưu ký của Tô Hoài. Đó là một cái gì rất lạ, họ không có. Còn những thứ khác xem ra đều có cả. Có thể kể thêm Bỉ Vỏ của Nguyên Hồng. Còn Nguyễn Công Hoan cũng không đắt khách. Nam Cao hay nhưng cũng không được ưa chuộng bởi vì ở họ đã có một người đứng ở cổng quá lớn về những đề tài như thế: Tsêkhôp! Không thể vượt được. Miền Tây có lẽ sắp in nhưng biết chắc là cũng sẽ ế (chỉ được chương đầu tả cảnh là lạ với cả phong tục, còn phần sau thì xoàng).

Còn tiểu thuyết theo hướng Tônstôi, Đôt thì làm sao vượt được họ. Cái khổ của mình vẫn là thiếu trí thức. Nhà văn các nước họ học, họ đọc rất nhiều. (Hội đã định dịch một số sách hay nước ngoài, in giấy xấu, chữ nhỏ, bán rẻ, khoảng 120 cuốn thôi, cho anh em đọc). Lớp mới bây giờ ít đọc quá !
Còn kiểu Đỗ Chu, Như Trang thì chỉ là học trò Pautôpxki thôi, làm sao mà theo kịp họ. Vì lực lượng dịch quanh quẩn có mấy người: Alosin, Macarôp, Tscasep…. Liên Xô giờ có hiện tượng các nhà Hán học quay sang nghiên cứu Việt Nam, đọc văn học cổ Việt Nam bằng nguyên bản. Họ đang định dịch  Hoàng Lê Nhất Thống Chí ! Còn văn học Trung Quốc thì có gì nữa mà nói !

N.M.C: - Buồn cho ông Thi người đề tựa Vỡ bờ lại là B.Pôlêvôi, người chuyên viết chuyện người thật việc thật. (Mình nghĩ: Âu đó cũng là sự đánh giá của các nhà văn Liên Xô !)

N.Đ.T:- Tôi bây giờ đã được giải phóng khỏi chức vị, đã có thể ăn nói tự do được rồi.

* Sự nghèo nàn về hiểu biết là một nỗi khổ, một thiệt thòi lớn. Tôi đọc một cuốn truyện trong thần thoại Hy La. Chuyện đã hàng nghìn năm mà đọc lại vẫn thấy kỳ lạ. Viết thế thì tài thật. Tôi đã kể các ông nghe bao giờ chưa nhỉ ? Chưa à ? Đó là chuyện Con lừa vàng (chỉ độ trăm trang). Có thể tóm tắt thế này: Có hai anh em nhà nghèo phải đi làm thuê cho một bà chủ. Đó là một người đàn bà có phép thuật. Có lần thấy bà chủ hoá quạ, người anh xin cô hầu phòng hoá phép cho mình. Cô đồng ý cho cậu uống thuốc để hoá thành con lừa, với điều kiện bao giờ muốn trở lại  thành người thì phải ăn thật nhiều hoa hồng. Một hôm có bọn cướp vào cướp trang trại, tất nhiên chúng đưa lừa đi, và từ đó lừa phải chuyên chở nặng nề những thứ chúng cướp được. Dẫu đã thành lốt lừa, nhưng y vẫn nghe,  hiểu được tiếng người. Đến bữa ăn được thức ăn của người. Thấy có món hời đắt giá, bọn cướp bán lừa cho một gánh xiếc. Từ đó chính con lừa thông minh và kỳ lạ đã mang lại rất nhiều khán giả cho gánh xiếc. Một trong những khán giả thường xuyên là một mệnh phụ đã bỏ ra một món tiền lớn để mua bằng được chú lừa. Đưa về nhà bà cho gia nhân săn sóc lừa chu đáo, cho ăn uống cao lương mỹ vị, và bắt lừa làm cái việc không thể nói được ấy. Lừa sợ bà có thể nguy hiểm tính mạng. Nhưng khi thực hành lại thấy không thấm tháp gì với nhu cầu của bà. Lời đồn đại bay ra ngoài. Lừa và bà đều bị bắt.

Có một người đàn bà goá bị vu tội giết chồng, Toà xử buộc bà ta phải lấy con lừa làm chồng. Họ tổ chức một đám cưới rất to. Giường cưới được trải đầy hoa hồng. Nhiều người tò mò đến xem. Lừa được dịp ăn bằng thích thảm hoa. Và lời nguyền đã nghiệm: Lừa rùng mình hoá thành người. Anh ta được nói ra sự thật. Bà mệnh phụ bị tù được tha.

Một ngày kia, nhớ tới bà, anh ta tìm tới. Bà tiếp đãi tử tế, cho ăn một bữa no nê rồi dứt khoát đuổi đi với lời từ chối:

- Không thấm gì ! Không thấm gì !

Một chuyện không đâu mà họ kể rất hay, nội dung sâu, và đến như cái kết thì tôi không thể nghĩ ra được.
Khi tôi sang Liên Xô, tưởng là mình biết một chuyện hay, định kể với họ, cũng có ý ngầm khoe với họ, hoá ra không có ai thấy bất ngờ cả. Vì họ đã biết Con lừa vàng từ xưa rồi.

(Nhiều lần rỗi rãi, ông kể chuyện về Văn hoá Cứu quốc, quá trình hình thành và hoạt động văn nghệ trước sau cách mạng, công tác ở Quốc hội với tư cách đại biểu trẻ nhất những năm 1945-1946, rồi lý do tham gia hoạt động, bị bắt, bị đi tù, sau đó về viết liền một mạch 10 cuốn giới thiệu các nhà triết học lớn).

Rất tiếc, do chỉ quan tâm tới lý luận sáng tác, tôi đã không ghi được những tư liệu đó.

* Văn học ta có những cái hay của đời sống phong phú và khác lạ. Thực ra tài nghệ so với thiên hạ cũng không kém gì. Có điều chưa phải lúc ta phát triển như họ. Để như họ (tự do), ta không kém. Văn chương ta bây giờ thật thà quá. Nó là do chiến tranh, hơi xa chiến tranh ra, ta sẽ có những tác phẩm hay. Ngay những năm 60 đã là như thế.

Hải Hồ: - Thực ra dạo đó là do ảnh hưởng văn học xét lại của Liên Xô.

*       *

Trong chuyện vui, ông còn kể: + Trong đám cưới N.Đ.T, ông Kim Lân say rượu. Hiền Vương (Ô.Lành) tới dự. Trong câu chuyện ông Lành muốn can gián vụ đấu Nhân văn - Giai phẩm. Ông Lân miệng nôn trôn tháo, bất cần.

+ Hôm ở Hải Phòng chiêu đãi Phó Thủ tướng Phạm Hùng, có mỗi nhà văn Nguyên Hồng. Ông Hồng say quá, khi đưa về, cứ bò ra nhà mà kêu cạc cạc.

+ Ông Hoàng Trung Thông say rượu, bịa việc Bùi Hiển ăn thịt con mèo què của Bảo Định Giang, bị Bùi Hiển cáu xô ngã lăn quay.

+ Bị bắt, ông Vũ Quốc Uy khai ra Tô Hoài - Nguyễn Đình Thi tham gia Văn hoá Cứu quốc.
 
Vũ Cao (V.C): Tôi vừa đọc bài Vũ Khiêu viết về Đạo đức Hồ Chủ Tịch. Viết như thế thì khó chịu thật. Toàn những chuyện khô khan chung chung cái gì cũng Tố Hữu. Làm sao có thể nghèo nàn như thế ! Còn về văn học thì toàn khái quát, tầm, cỡ v.v… toàn những chuyện quá cũ rồi. Lý luận văn học, phê bình mà như thế thì gay lắm.

Người ta hô hào nghệ thuật là sáng tạo mà họ lại là người ít sáng tạo hơn ai hết. Mà ông có phải là người ít biết đâu. Có khoảng cách khá xa, thậm chí trái ngược giữa điều người ta nghĩ, ta thích, ta muốn với điều người ta viết, người ta nói, người ta làm !

Cuộc sống phát triển, nghệ thuật phải phát triển, nghĩa là những quy luật, những vấn đề của nó cũng phát triển, thì làm sao lý luận có thể đứng lại mãi trên chỗ đứng của mình, dù vị trí đó đã từng là một đỉnh cao trong quá khứ ! Lý luận, phê bình của mình hiện nay tách khỏi đời sống, cả đời sống văn học nghệ thuật một cách khủng khiếp.

Ngô Thảo: Đó là cái nguy cơ của văn học ta: khi tư tưởng chưa được phát triển thì đã bị trói buộc, gò bó trong những bộ khung xương lý luận khô cứng đưa từ những nền văn học khác vào - không chỉ là tư tưởng văn nghệ Diên An, mà cả lý luận văn  học Xô Viết cũng vậy.

+ Chưa có tư tưởng mà đã khái quát, chưa phát triển hết tầm mà đã đem những kích thước cũ ra gò bó, nên văn học ta chóng già là vì thế ! Chóng già theo kiểu còi cọc. Lý luận thì cổ quá mà lại nắm vai trò lãnh đạo nên kìm hãm, hạn chế sự phát triển của văn học.

Bất cứ cái gì muốn phát triển phải qua thực hành, thí nghiệm. Văn học do tác dụng của mình, không thể thí nghiệm như khoa học tự nhiên, nhưng cũng phải được tìm tòi, sáng tạo trên hướng của nó. ở ta, những thứ đó đã bị bóp chết ngay từ trong ý đồ thì còn đâu sức phát triển ! Cái nguy của văn học ta là không được viết những cái muốn viết, mà viết những cái được yêu cầu - một yêu cầu không phải bao giờ cũng đúng.

* Tôi nghĩ, trong chủ nghĩa Marx, cái điều lớn, khoa học nhất, cách mạng nhất là quan điểm thực tiễn. Tất cả các lý luận, triết học khác cũng có cơ sở của nó, nhưng nó đều chết khi vào thực tiễn. Mà con người ta lại hơn thua nhau ở ngay trên nền đất của thực tiễn. Lý luận ta kém vì không bám sát thực tiễn văn học ta, mà thu nhận vô điều kiện từ những nền văn học khác.

* Trong nghệ thuật không thể cầu toàn. Mỗi tác giả, tác phẩm chỉ có thể có một cái gì đó đóng góp, và cũng chỉ nên yêu cầu như thế thôi.

* Người ta thường cứ lẫn lộn yêu cầu đối với một Nền văn học và từng tác phẩm, tác giả.

Ngô Thảo: Nói chung, văn học nghệ thuật ta chưa được đặt đúng vị trí của nó. Hiện vẫn xem nó là một công cụ tuyên truyền trực tiếp của công tác chính trị, nằm trong công tác tuyên huấn. Mục đích thì đúng nhưng thực ra cũng không phải như vậy. Văn học nghệ thuật cần được mở rộng trong những tìm tòi, suy nghĩ như một quá trình đi tới của nhận thức, cũng tức là quá trình nhận thức. Còn những gì thuộc công tác chính trị là phải bảo đảm đúng đắn, chắc chắn cả rồi. Và trong công tác đó, vì chức năng, nhiệm vụ của nó, nó phải gạt đi những thứ không, phục vụ trực tiếp, những thứ nửa vời hoặc không hoàn toàn ngả màu. Mà văn học, với tư cách là tấm gương phản ánh đời sống, không phải bao giờ cũng được chọn lựa dứt khoát như vậy.

Sự nghèo nàn, bó buộc của văn học mà ai cũng cảm thấy có nguyên nhân ở đó. Đặt đúng vị trí của nó, có lúc văn học đi sau nhưng cũng có lúc đi trước đời sống. Có lúc nó sẽ làm phiền chính trị, nhưng cũng nhiều lúc nó giúp cho chính trị sáng suốt hơn: Phát hiện những vấn đề của đời sống. Còn trong tình hình hiện nay mà đòi văn học phát hiện những vấn đề lớn là một điều không tưởng, hay không hiểu tình thế. Một nền văn học bị công tác chính trị xỏ mũi dắt đi thì có giỏi cũng chỉ bằng công tác chính trị, không thể đi trước hơn và càng không thể độc lập được. Dĩ nhiên không ai phản đối nhà văn phải có lập trường chính trị, có ý thức phục vụ, và có ý thức tổ chức. Vấn đề ở đây là không nên bắt buộc biến văn chương thành công cụ tuyên truyền, phụ thuộc công tác tuyên truyền, luôn phải chạy theo những mục tiêu trước mắt. Mà xưa nay vẫn như vậy. Không có một nhà tuyên truyền nào lại nói ra một sự thật tuyệt  đối. Không đáng trách công tác tuyên truyền. Vì đó là chức năng của nó. Tuyên truyền chính nghĩa không xuyên tạc sự thật, nhưng cũng có thể không nói hết sự thật (nhiều sự thật không có lợi, không nói. Mà thế là phải).

Văn học phản ánh con người và cuộc sống, nếu ở trong vòng kiềm toả đó, sẽ đẻ ra những tác phẩm thiếu chân thực nếu không muốn nói là xuyên tạc hiện thực. Mục đích của tuyên truyền là giành thắng lợi cho một phía. Nhưng văn học là phục vụ cuộc sống trên cơ sở nghiên cứu và phản ánh chân thực những quy luật bền vững của cuộc sống nhân sinh.

Yêu cầu đối với công tác phê bình cũng như yêu cầu mà phê bình đặt ra cho văn học vì thế đều không xác đáng, và thiếu quan điểm thực tiễn.

* Ông Nguyễn Đình Thi nói chuyện với mình rất phiền lòng  thấy các nhà phê bình lấy tư tưởng nhân vật để đánh giá tư tưởng tác giả, xem tư tưởng nhân vật là tư tưởng tác giả.

Tôi nghĩ, ông ấy nói thế là phải. Cô Phượng của ông Thi thì có gì mà phải phê phán. Riêng tôi, tôi không đồng ý. Phượng hoàn toàn không phải là một hiện tượng cá biệt, chứ không nói là không hiện thực. Chúng tôi là gì nếu không phải là một kiểu Phượng ? Chúng tôi đi từ những con đường rất khác nhau mà đến với Cách mạng. Vả lại, có phải ai cũng tới với Cách mạng từ những nhận thức lý trí sáng tỏ đâu. Đa số trí thức ta khi cách mạng bùng nổ đều rất ngơ ngác, không biết cái gì, không biết thực hư ra là thế nào, rồi sẽ đi tới đâu. Họ tới với cách mạng bằng rất nhiều con đường, nhiều động cơ khác nhau. Có người tìm tới cách mạng để chờ một sự đổi thay, một sự xê dịch, một sự bất đắc chí, hay lao theo một con đường không biết thế nào, rất phiêu lưu và vì thế mà thấy thú vị. Tại sao ta cứ gò lại, làm khô cằn, nghèo hiện thực đi ? Và bắt hiện thực đi theo quan niệm của mình ? Mà thật lạ, người phê bình cũng là người đã sống trong cuộc, từng hiểu điều đó.

10/9/1972

Vũ Cao: Thỉnh thoảng, nhẩm lại, có những câu thơ làm mình kinh ngạc. Chữ nghĩa không có gì, hình tượng cũng chẳng có, mà không bao giờ mình đi hết chiều sâu của nó.

Mai sau dầu có bao giờ !

Có chữ gì trong đó ? Không. Cũng chẳng có hình ảnh, từ ngữ nào hết. Mà đọc xong cứ choáng ngợp cả người: tôi nghĩ, thơ thật là thơ là những câu như thế. Đó là những câu thơ đáng sợ. Còn tìm được cái hay ở chữ này, ý nọ thì cũng thường tình vậy thôi.

20/6/1972

 * Một hôm, ông Yên, ông Vũ Chính, ông Khắc Trình (các cán bộ cấp trên ở Tổng cục Chính trị và Cục Tuyên huấn) tới thăm tôi ở nhà. Tôi bị ốm, phải đắp chăn, dẫu đang mùa hè, gối đầu bằng mấy cuốn sách, tôi không có gối riêng. Các ông tới đột ngột, tôi phải vùng dậy, và tôi nói với các ông: - Ông Yên này, tôi đọc thơ cho các ông nghe nhé:

Dăm pho sách cũ bên đầu.

Tưởng đâu như gối mối sầu cổ nhân

Đó là thơ thằng Hồng Nguyên, bạn tôi ngày xưa. Mà nó làm thơ khi đã già đâu! 17,18 tuổi thôi đấy. Các ông giật mình đến kinh ngạc.

Mà nó, tôi nghĩ, không thể sống lâu được. Bởi vì nó luôn luôn có một tâm sự gì buồn lắm. Tuổi trẻ mà không vui. Đi làm cách mạng cũng không vui. Làm việc hăng, hùng hục, nhưng cứ buồn. Nó không thể sống thọ được vì thế.

Còn trẻ mà thâm nho. Đọc Chinh phụ ngâm chữ Hán vanh vách. Còn định dịch ra thơ tự do theo thể hành nữa kia. Bài Nhớ thực ra tôi không thích lắm. Nó chưa lộ hết tài của Hồng Nguyên. Có cái gì đó đơn giản quá ! Nó tài hoa hơn nhiều.

Ngô Thảo (N.T): - Có những người như vậy anh ạ. Có những đỉnh cao từ thuở tráng niên mà một đời không vượt qua được. Cái chết tạo nên một nỗi tiếc thương lớn hơn. Thâm Tâm có lẽ cũng thế. May là sau này anh ít làm thơ. Nếu có gì cũng dễ làm nhạt Tống biệt hành mà thôi.

V.C: Thâm Tâm cũng vậy. Sống với anh ấy một thời gian ở báo Cứu quốc quân tôi thấy anh ấy là một người sống khắc kỹ, nghiêm túc đến cứng nhắc. Một con người phủ định hết tất cả dĩ vãng. Sống với con người khô khan, xấu xí - cả làng Hương Ngải này không ai xấu đến thế. Thằng Điệp, thằng Khánh, con ông Hải Hồ còn đẹp hơn (Hạnh - con gái nhà thơ xen vào: So với Cường nhà mình thì sao ? - Cường còn là Hoa khôi !). Tôi cứ ngạc nhiên và không thể tin là anh ấy đã làm ra những dòng thơ như thế: Đưa người ta không đưa qua sông, Sao có tiếng sóng ở trong lòng. Nói chung, dạo đó, ở báo Cứu quốc quân anh ấy không thích và tự mình cũng không nhận những gì của dĩ vãng. Tôi rất lạ. Một đêm mưa, giữa rừng Việt Bắc, trong nhà sàn, nghe tiếng suối xa, tiếng mang tác, anh ấy uống mấy chén rượu men lá ngà ngà. Tôi còn trẻ định thử xem tại sao? Tôi nói liều: - Này, anh có thích nghe tôi đọc thơ không? Không kịp cho anh ấy trả lời, tôi đọc luôn cho anh ấy một bài thơ ít người biết, cũng nói về chia ly, nhưng nếu Tống biệt hành là của một cá nhân thì đây là của hai tập thể.

Tôi đọc. Anh ấy nước mắt chảy ròng ròng.

Anh thật sự kinh ngạc, tại sao một thằng thanh niên mới 18 tuổi là tôi mà thuộc lòng một bài thơ không ai thuộc, đồng cảm với một nỗi buồn lớn, một bài thơ nhiều chữ cổ như thế.
 - Tại sao ? Tại sao cậu thuộc được ? Anh ấy hỏi dồn dập. Nhưng chỉ giây phút ấy thôi. Rồi sau đó, anh ấy tuyệt nhiên xem như không có việc gì xảy ra, không bao giờ nhắc lại chuyện đó.

Một chiều, trên đường công tác, tôi nghe tin Thâm Tâm mất. Tôi buồn thật sự. Và là lần đầu tiên tự cho phép mình vào quán uống mấy chén rượu giải sầu, vừa để tưởng niệm người anh - Chủ nhiệm báo Cứu quốc quân  dạo đó. Cho đến giờ tôi vẫn nhớ nguyên cả bài Vọng nhân hành, một bài không dễ thuộc và không phải có nhiều người biết đâu:

Thăng Long đất lớn chí tung hoành

Bàng bạc gương hồ ánh mắt xanh

Một lứa chung tình từ tứ chiếng

Hội nhau vầy một tiệc quần anh…

Thơ ngâm dở giọng, thời chưa thuận

Tan tiệc quần anh, người nuốt giận

Chim nhạn chim hồng rét mướt bay

Vuốt cọp chân voi còn lận đận…

01/6/1972

Nguyễn Minh Châu: - Tớ bảo có gì cậu cứ viết quách đi. Cậu đi vào lý luận phê bình thì lạ thật. Có gì mà phải phê bình ? Con đường chưa đi mà đã thấy bế tắc. Thằng N (Vương Trí Nhàn) là nó không có thực tế, không đi đâu, nó làm phê bình còn có lý. Còn cậu thì biết nhiều như thế mà không viết cũng hoài. Cứ viết đi rồi tớ xem cho, nếu cậu tín nhiệm. Cứ viết bừa đi, đừng có thần thánh hoá quá. Trước hết hãy phang thử mươi trang đã. (Sau khi nghe kể chuyện chiến đấu ở đơn vị và đọc nhật ký).

+ Phải có một trí tuệ năng động. Biết tiếp nhận và làm nở xoè những búp hoa của đời sống trong tư tưởng, nhân lên vô cùng những hạt giống từ đời sống và trả lại cho cuộc sống.

03/7/1972

* Một kinh nghiệm là về đây, cậu phải có bản lĩnh, chủ động, chớ nương theo nếp làm việc rề rà của những người ở đây. Làm việc gì phải cật lực, cho xong xuôi dứt khoát việc đó. Để lê thê, sẽ tạo thời gian lười biếng, la cà và phân tán tư tưởng.

* Trong nghề này rất cần có một trí tuệ năng động. Một đầu óc ù lì, trơ nhẵn sẽ để cho mọi sự trôi qua không in lại được dấu vết gì, không suy nghĩ, làm giàu có hơn vốn sống của mình. Đó là một điều đáng sợ. Tính năng động không chỉ tiếp nhận những sự kiện đời sống một cách sắc sảo mà còn phải biết giữ nó lại, đào sâu những ý nghĩa góc cạnh của nó, và còn làm cho nó nở xoè ra thành những cái gì mới mẻ, sâu sắc của riêng mình.

Một ngôn ngữ mới mẻ, sinh động, một cách nhìn cuộc sống sắc sảo, thể hiện trong tả cảnh, tả người mới mẻ, đẹp đẽ. Đó là dấu hiệu đầu tiên của một người viết văn. Nhưng dừng lại ở đó quá lâu cũng không được. Phải biết đi xa, vươn tới những vấn đề sâu sắc, quan trọng của cuộc sống.

Trong lớp trẻ bây giờ, tình trạng đó đang xảy ra.

* Trong nghề văn có hai loại: Một loại phải đi nhiều, tiếp xúc với thực tế đời sống rồi viết, và viết được nhiều. Đó là kiểu của Phạm Tiến Duật. Có loại thì đời sống, tiếp xúc chỉ là một chi tiết, một sự gợi ý hay dựng vấn đề. Còn thì tất cả mọi loại nhân vật, mọi tình cảnh, mọi tư tưởng đều đã có sẵn trong cuộc sống tinh thần tư tưởng của họ. Trí tuệ họ có sẵn một thế giới mà khi viết họ xé lẻ ra trăm ngàn mảnh nhỏ để tác động, đối thoại, đối diện, đấu tranh với nhau. Không cần đi thực tế, không cần phải tiếp xúc với ai, họ vẫn có thể viết, viết suốt đời. Cuộc sống đi vào họ theo một con đường khác. Các nhà văn cổ điển thế giới là hình mẫu loại nhà văn này.

* Cái quan trọng nhất trong văn học là tình cảm đối với con người. Đó phải là lòng trân trọng, yêu quý con người, số phận con người. Thiếu điều đó, văn học không có lý do tồn tại. Triết lý ư ? Khoa học ư? Những vấn đề xã hội ư ? Đã có những khoa học về những môn đó. Văn học cần tất cả nhưng nếu thiếu tình người, sẽ không còn là văn học. Phải cho người đọc thấy trong tác phẩm của mình, con người là đẹp, đáng yêu, đáng quý. Tình cảm nhà văn phải toả ấm cho các nhân vật, phải phát hiện được cái đẹp của đời sống và bản thân văn học phải đẹp, phải là văn học. Mọi thứ kia sẽ vào con người, thấm thía, chiếm lĩnh con người khi nào nó là văn học, nghĩa là có một nội dung, một hình thức đẹp. Trong một tác phẩm, giữa tư tưởng và hình tượng, tư tưởng phải thâm nhập biến hoá, và cái tới với người đọc phải là hình tượng, là nghệ thuật cái đẹp ; tác phẩm làm người đọc say mê, thích thú, tự nguyện tiếp nhận. Lúc đó tư tưởng sẽ tự khác xâm chiếm người đọc. Ngược lại, tác phẩm sẽ không phải là văn học, sự kiện miêu tả không được công nhận, không hấp dẫn người đọc, còn tư tưởng tác phẩm người đọc có thể nhìn thấy, nhận thấy, nhưng biết vậy thôi, chứ không có sức ám ảnh buộc người đọc phải nghe theo, làm theo, như một nhu cầu không thể thiếu của chính lòng mình, lương tri mình. Và đó là đặc điểm để văn học tác động vào đời sống. Tư tưởng tác phẩm chỉ tới với người đọc bằng con đường tự nguyện, tự nguyện của từng người đọc, và có sự bắt buộc chăng là của chính bản thân người đó. Không một ai khác có thể nhồi, ấn vào cho người đọc thay tác phẩm.

* Cái khác nhau giữa một nhà văn giàu năng động và một người viết văn tầm thường là ở một người thì văn viết ra trải rộng trên một mặt phẳng, đó là một thứ hình học phẳng, người đọc chỉ nhìn thấy cuộc sống được dàn ra trên giấy và chỉ nhìn thấy một chiều, cái chiều người viết phơi bày ra. Còn ở nhà văn tài năng thì đó là một thứ hình học không gian. Cũng chỉ ngần ấy chữ nhưng sao mà đời sống hiện ra cứ lộng lẫy, rực sáng, lung linh, lấp lánh, bay nhảy theo nhiều chiều, nhiều phía. Người đọc có thể nhìn thấy một đời sống sinh động và đa dạng như chính cuộc đời. Để có một hình ảnh cụ thể về hai loại tác phẩm ấy, hãy đọc… ? (xin được không ghi tên 2 tác phẩm được dẫn chứng - N.T).

* Đọc Nguyễn Tuân luôn có cảm tưởng ông ấy không nói với mình mà nói với thần tiên hay ma quỷ đâu đâu. Sông Đà  thì bài  Sông Đà là hay. Đó là một thứ trí tuệ tài hoa tự nhiên, không lên gân, không đi tìm chữ nghĩa, cách nói. Ông viết vậy vì ông vẫn quen nghĩ vậy đó thôi.

16/8/1972

Ở nhà ông giáo Bô - Hương Ngải

Nguyễn Khải: Văn Lê Lựu xỉn: chữ nọ xọ lên chữ kia, xỉn. Dù có chữ mới !

Nguyễn Minh Châu: Chữ Lê Lựu mới nhưng quê mùa.

Nguyễn Khải: Bùi Bình Thi viết khoẻ. Đều đều nhưng có những truyện thật hay: Mùa mưa đến sớm viết thế là giỏi.

Mình tự thấy mình có tính lẩn mẩn, tỉ mỉ của đàn bà hơn là đàn ông. Không ai nhận ra điều đó.

N.M.C: Có điều người viết không chú ý là sự hay dở, hấp dẫn của tác phẩm chúng ta phụ thuộc khá nhiều vào không khí xã hội, đời sống xung quanh. Giữa những ngày chiến tranh này, đọc xong những bài Đỗ Chu viết về Cao xạ, ra đường gặp họ, thấy yêu quý họ hơn, thấy họ đẹp hơn. Nhưng ít nữa, chiến tranh qua đi, đọc những bài đó, cũng như khi gặp họ ngoài đời có thể sẽ thấy nhạt nhẽo, vô duyên. Những gì ta viết hôm nay sẽ dễ chết vì thế.

Hữu Mai: Cái hay, không hay không phải bao giờ cũng tự trong người viết. Điều quan trọng là anh có nắm được, hiểu được đối tượng phục vụ người đọc của anh không ? Không nắm, không hiểu họ, viết không thể hay được. Chính vì vậy, các cụ Nguyễn Tuân, Nguyễn Công Hoan… bây giờ hoặc sau này có viết lại cũng không hay được nữa. Đơn giản vì các cụ không biết gì về đối tượng đọc mới.

Ngô Thảo: Một tác phẩm hay phải tự mình tạo ra một thế giới nhân sinh. Rồi ra, khi không khí chính trị xã hội, không khí báo chí, văn hoá chiến trận qua đi, tự tác phẩm phải làm tất cả, phải mang trong mình tất cả nếu anh muốn tồn tại với tư cách một nhân chứng của thời đại. Anh không sống gửi, sống nhờ. Tự anh phải xác định được chỗ đứng vững vàng trên mảnh đất của đời thực. Tự anh mang tới cho người đọc ý thức về không khí, những ước ao, nỗi niềm, hy vọng và tình yêu, thị hiếu và thói quen của thời chiến trận. Những thứ dựa dẫm không khí xã hội để được tung hê, mà bản thân tác phẩm không có đủ những nhân tố có sức chịu đựng bền bỉ, vượt qua thử thach của thời gian, thì khi ngọn gió qua đi, tác phẩm sẽ như cánh diều đứt dây, sa vào đáy vực của sự quên lãng. Nếu tác phẩm anh là con chim bằng thật, thì khi có gió nó sẽ bay cao, bay xa. Nhưng lúc trời yên biển lặng nó vẫn đủ sức chao liệng trên bầu trời.

19/8/1972

N.M.C: Trong các thể loại văn học, theo tôi, ký sự là loại thử thách năng lực ngòi bút rõ nhất. ở đó, mọi sự phải rõ ràng, chân thực. Còn đã là truyện là bịa đặt, nói láo tha hồ, không có giới hạn nào.

H.M: Bây giờ viết truyện ngắn thấy khó. Viết một cái thì không biết đặt vào đâu. Mà viết một loạt thì không phải dễ.

N.M.C: Muốn thế, phải để ít nhất 6 tháng. Mà 6 tháng thì để viết một cái gì dài dễ hơn. Dấu chân người lính lúc đầu có tên là Trong khói lửa; nhưng sau tôi thấy khói lửa đã mù mịt cả nên đổi tên. Ngày trước nghĩ được cái tên: Mảnh trăng cuối rừng tôi thích lắm, tự cho là hay. Giờ nghĩ lại thấy thối!

N.K: Thì dạo đó chúng tôi đã chê là cải lương, ông lại tự ái!

N.M.C: Cái ký về Vĩnh Linh vừa rồi - Tiếng gọi hai bờ đất  cũng cầu kỳ thế nào ! Thằng Chu (Đỗ Chu) có những đầu đề cũng thối ! Gió qua thung lũng đã khó chịu lại còn Đám cháy trước mặt.

N.K: Vẫn hơn tôi, Mùa lạc nghe ra sách nông nghiệp. Xung đột ra sách chính trị. Lại còn Chủ tịch huyện nữa chứ. Tôi đặt tên không hay

N.M.C: Tôi chỉ muốn truyện hay mà đầu để dở như của ông !

N.K: Nội dung sách ông Xuân Sách thì rất hiện đại, rất Nga mà tên sách nghe rặt mùi Tàu ! Pháo hiệu đường Chín, Trong lửa đạn. Còn tập thơ mới chưa biết chọn tên gì ?

H.M: Chiến sĩ của ông Khải tôi nói phải 300 trang. Ông ấy chỉ bản đánh máy có 230 trang, bảo tôi: Chỉ có thế. Tôi không tin. May hôm nọ ông Uyển (Biên tập viên NXB Quân đội N.D) lên nói lại, ông mới chịu.

N.M.C: Dấu chân người lính tôi đã viết xong, thấy một tập dày lắm. Đến khi đánh máy có hơn 400 trang, tôi như thằng mất tiền.

Lại nói chuyện vui: Ông Phương (Hồ Phương) ạ, hôm nọ vắng ông, không biết các ông nói câu này có ý khen hay chê ông:

- Tới nhà ông Phương thì miếng ngon bao giờ cũng dành cho khách.

Xuân Sách: Nó nói có một vế

Hồ Phương: Thế còn đi đường thì sao ? Sao lại dấu ?

X.S: Đâu phải. Nguyên văn là thế này: Thằng Hữu Mai nhận xét tới nhà ông Phương thì bao giờ miếng ngon cũng mời khách. Thằng Châu bảo: Còn ăn tập thể thì bao giờ ông cũng dành miếng ngon. Ông H.M nói thêm: khách đến nhà mà dành ăn với khách thì ra con chó chớ đâu phải người.

H.M: ấy chết. Ông nói thế thì chết tôi: Câu đó là của ông Châu. Ông Châu nói: khách đến nhà mà đấu đũa với khách thì là con chó à !

N.K: Các ông nói thế thì cũng là oan cho thằng Châu. Ông Phương bực, ông ấy lại cho nó đi thì tội. Nguyên là nó tự nói nó thôi. Nó nói câu đó khi ông Hữu Mai, ông Uyển với hoạ sĩ Quang Thọ tới nhà, bà Doanh (vợ ông Châu) giết hai con gà. Ăn xong nó mới nói thế.

N.M.C: Các ông là nhà văn có khác. Có một chi tiết mà mỗi ông vẽ ra một cách thì ai biết đâu mà lần.

H.M: Ông Châu thì vốn hiếu khách rồi. Thân như ông Thanh Tịnh mà tết mời tới nhà không có gì cho ăn !

N.K: Thì đã mấy ai được như Hữu Mai, được ăn những hai con gà !

N.M.C: Không phải thế ! Tôi nói có ngọn đèn, chuyện ông Thanh Tịnh là hôm trước, nhà đã giết gà. 10 giờ tôi lên mời ông ở số 4 (Lý Nam Đế), ông lại đi đâu. Hình như có ai mời ăn. Hôm sau, ông xuống không đúng Chủ nhật, vợ tôi đi làm. Tôi phải nói:

- Anh Tịnh ơi, anh Tịnh, anh xuống, thì sang nhà chị Trang (nhà văn Nguyễn Thị Như Trang, có chồng là Đại tá, Phó Chính uỷ Cục quân y ở cùng tập thể K800) ăn thịt vịt rồi về nhà, ta uống nước. Ông Tịnh bảo: Thì mang cả cháu Tâm, cháu Mai, cháu Mi cùng đi (*)

Tất cả cười ồ !

* Nhà văn Hải Hồ và Nguyễn Minh Châu đều có 3 người con, không nhớ Xuân Sách hay Xuân Thiều có đôi câu đối.

Ơ cái Mơ, cái Mai, cái Tâm hãy đi theo Dấu chân người lính

Bớ thằng … chớ rơi vào Thảm cảnh hang Giơi

N.K: Nhưng có gì làm bằng là hôm trước ông giết gà chờ ông Tịnh ?

N.M.C: Thì tôi lấy lương tâm tôi bảo đảm rồi (cười)

N.K: Hôm qua, thằng Bùi Bình Thi rặt nói láo. Nó nói chính mắt nó thấy 6 B52 bị bắn rơi một lúc trên bầu trời thị xã Quảng Trị. Mình phải hỏi ngay: Ông thấy thật hay bịa ? 53 trang ký sự của nó mà cứ bịa kiểu ấy thì chết thật. Thằng này nói khó tin lắm.

N.M.C: Thì ông chả từng bịa là gì ? Nhà văn mà đi tới đâu thấy cái gì mới viết, không bịa gì cả, thì các ông có mà hết nghề ! Còn những chi tiết loại đó thì tôi du dú một cái kho nào thì còn gì mà không biết! Bao nhiêu thằng lính ở khắp nơi về lấy gạo, thực phẩm là có bấy nhiêu chuyện ly kỳ làm quà…

Bùi Bình Thi: Đỗ Chu vừa viết xong Đám cháy trước mặt. Nhưng NXB Thanh niên chê lắm ! Quá nhiều tự sự, suy tư dài dòng, quẩn quanh chỉ một (Đại đội) cao xạ ở Nhân Trạch. Nó không biết dựng chuyện. Đem kiểu viết truyện ngắn ngày nào vào truyện dài là bỏ mẹ rồi.

17/7/1972 

Ở báo Văn nghệ: 51 Trần Hưng Đạo với Phạm Hổ - Nguyễn Duy (Nhuệ).

Xuân Diệu (X.D) (Tóc nhuộm, lấp lánh màu tím ánh xanh, đẹp mà thương lạ. Nhớ thuở xưa nào: Tóc như mây vướng trên đài trán thơ ngây).

- Suy nghĩ, triết lý của lớp trẻ dễ buồn cười. Người già, 40, 50 có suy nghĩ, có triết lý là vì cuộc sống, kinh nghiệm sống, sự từng trải, lăn lộn buộc họ phải như vậy.

Không như vậy sao được, khi có những người bạn tưởng có thể đi suốt đời, bỗng quay ra phản bội những lý tưởng đẹp đẽ ngỡ dẫn mình tới thiên đường, bỗng không còn như thế!

Các anh còn trẻ thì có gì bắt phải như vậy? Anh cứ làm bộ, bóp trán để nghĩ thì hoặc là nghĩ những điều không đáng nghĩ, hoặc nghĩ những điều rất trẻ con, buồn cười lắm (Nhân nói thơ của Tuấn, con giáo sư nhà phê bình Lê Đình Kỵ gửi về).

Và chăng, cái hay trong thơ, không ở triết lý.

Thơ là xúc cảm. Nhà thơ là người lấy ý của người khác, chuyện của người khác mà mình nói lại với cảm xúc của mình. Nguyễn Du lớn, Nguyễn Du thi sĩ là ở chỗ đó. Cốt Truyện Kiều là của người ta, chuyện đã có sẵn. Ông Nguyễn Du vẫn vĩ đại, vẫn là Nguyễn Du vì ông nói lại với tất cả rung cảm sâu xa của một thi sĩ.

Thơ cần sự say sưa, chân thực. Những loại thơ hợp mốt, tung ra theo thời thượng được đăng báo, được nhuận bút nhưng rồi sẽ là bèo bọt, rác rưởi hết. Cái gì thực sự nghệ thuật, thực sự thi ca, thì bất chấp tất cả, sẽ còn lại mãi mãi. Rồi đời sống sẽ chứng nhận ai là thi sĩ và sẽ giữ người đó lại. Còn những người lấy thơ làm phương tiện nhằm đạt những mục đích khác, thì khi đạt mục đích, phương tiện cũng không còn ý nghĩa.

Anh thực là nghệ sĩ, bao giờ cũng hơi ngây ngô trong đời một chút. Và theo đuổi sự nghiệp văn chương, lắm khi anh phải biết và sẵn sàng hi sinh những hưởng thụ, đòi hỏi thường tình. Anh không đòi cấp bậc, chức vụ, lương bổng, anh tránh nó để chạy theo cái say sưa lớn nhất: Nghệ thuật. Còn cái anh luôn luôn nhằm nhè tăng lương, lên chức, sao có thể gọi là nghệ sĩ ?

Phạm Hổ (P.H): Số vừa rồi, Văn nghệ có đăng bài Đào Xuân Quý bình bài thơ Pitar Rôđrighết: Nếu thế giới này tạo được nhiều Việt Nam.

X.D: Ừ! Nhưng bây giờ thì khó quá. Có ai theo Việt Nam nữa đâu.

Ông Triều Tiên cũng chạy theo cách hoà giải của ông ấy. Theo Việt Nam may ra còn có Cuba. Khó tạo được nhiều Việt Nam hơn nữa lắm.

* Bạn đọc cần thơ là cần cảm xúc người nghệ sĩ. Chớ lầm cần nữ tính với cần người đàn bà! Người ta cần nữ tính và vì cần nữ tính mà cần người đàn bà. Anh đưa ra một người đàn bà mà không có nữ tính thì ai còn cần. Chớ có lẫn.

Người đọc họ thông minh, tinh tường lắm. Cần suy tưởng, triết lý nhưng qua cảm xúc, trong cảm xúc, chớ không nhầm triết lý Trình Di, Trình Hạo. Đó không phải là thơ. Anh em trẻ hay giản đơn điều đó.

Một người kể: Các công trình nghiên cứu ở miền Nam như từ điển Thanh Nghị, sách Nguyễn Hiến Lê, và Việt Nam Tân tự điển dầy hơn hai ngàn trang, trích 80 lần thơ Xuân Diệu.

- Cuộc sống công bằng sẽ biết giữ gìn những gì thật là ngọc, thật là vàng. Một thứ giả trá sẽ bị gạch bỏ hết, chẳng thể vội vàng.

- Nói chung, về chuyện này, tôi không hay nói! Nhưng có lúc cao hứng nói cho vui. Các bạn trẻ bỏ qua cho sự quá lời.

Nguyễn Khải (N.K): Tháng 5/1972: Bản thảo của tôi chữa rất nhiều. Không thể tìm trong bản thảo tôi thấy hai dòng không có chỗ phải sửa.

Chiến sĩ chỉ độ hơn 300 trang, dài hơn tôi cũng cắt. Tôi chỉ sợ viết đến một lúc nào đó không thể viết được nữa. Chuyện thì vẫn còn. Cái để nói cũng sẽ còn, thậm chí còn nhiều, nhưng cái được viết ra cứ rời rạc, chữ nghĩa không còn dính kết được vào nhau, nó mất đi cái phấn sáp của văn chương. Nghĩ đến lúc đó mà sợ.

Tôi chỉ mong viết được đến 60. Bắt đầu viết liên tục từ năm 26 đến giờ đã thấy cạn. Viết cái gì nữa thật khó!

Ông Vũ Tú Nam giờ là như thế. Cái gì viết ra cũng nhạt nhẽo, vô duyên.

N.T: Thì Con đường mòn ấy cũng một loại như thế.

N.K: Tôi không ngờ là ông Đào Vũ lại viết được Cái sân gạch.

Con người không bao giờ nói được một câu cho ra hồn, mà viết được một cuốn sách như thế thì thật lạ. Dạo đó, tôi về ở một làng Nam Sách - Hải Dương, ở chân cầu Phú Lương ấy, nơi tôi viết Hai con trâu húc nhau. Đào Vũ cũng đưa một số Nhân văn - Giai phẩm đi lao động cải tạo. Thế mà một thời gian lại viết được Cái sân gạch. Tôi có đọc từ trong bản thảo, và cứ lạ mãi.

(Còn những thứ khác mới thật là Đào Vũ: Nhạt nhẽo, vô duyên, bộc tuệch, xuê xoa).

18/6/1972

Những ngày vắng vẻ này mà không có cái gì viết thì thật buồn. Mình có cuốn Chiến sĩ thì vừa viết xong mất rồi.

- Vậy thì anh viết cho phần Bình luận văn nghệ một bài gì đây?

- Viết gì được?

- Có thể về lực lượng trẻ hay về quan niệm của chính anh trong tiểu thuyết mới này?

- Tôi thấy lý luận bây giờ khó nói lắm ông ạ. Không phải họ không biết mà chính là họ không nói ra cái điều họ nghĩ.

Dạo nọ, tôi có viết một bài không ra văn học, không ra lý luận về chuyện nói dối ? Ý nói, Đảng không yêu cầu anh nói dối, cấp trên cũng không yêu cầu anh. Ai cũng phản đối chuyện nói dối. Vậy mà vẫn có hạng người nói dối. Có rất nhiều kiểu, nhiều loại. Tại sao? Nó nguy hiểm thế nào? Tôi đưa ông Hoàng Tùng (Tổng biên tập báo Nhân dân) đọc. Ông Tùng xem xong, nói: Cậu viết được đấy nhưng không đăng được. Vì dù sao đây là mặt không phổ biến của chúng ta. Vậy mà rất nhiều người muốn đọc, bực quá, tôi xé mẹ nó đi!

Còn tiểu thuyết ư? Bây giờ ta chưa có gì gọi là tiểu thuyết được cả. Chẳng qua là tìm cách chắp nối, dắt dẫn chuyện này với chuyện kia cho mạch lạc một tí, thế thôi. Chẳng làm sao có số phận, tâm trạng được. Nói số phận tâm trạng là số phận, tâm trạng của một tư tưởng, một quan niệm sống, một lối sống nào đó. Nhưng chúng ta làm gì có? Chẳng hạn, tiểu thuyết có bốn nhân vật thì mỗi nhân vật phải có một quan niệm, một cách sống nào đó! Chúng nó đấu tranh với nhau và cuối cùng anh phê phán lối sống nào, ủng hộ lối sống nào, lối sống nào thắng? Chúng ta chưa thể nói như thế. Làm gì có những quan niệm sống khác nhau mà tồn tại được ở nước ta? Lý luận cứ đi xa đời sống, xa thực tiễn, nói những chuyện đâu đâu ấy, thật khó viết quá!

Tôi nói thật, loại văn chương Bảo biển ta đề cao chứ nó có ra gì? Vấn đề nội bộ công giáo, giữa bọn đầu cơ, lợi dụng tôn giáo với cán bộ Nhà nước không còn ý nghĩa thời sự nữa rồi. Đã từ lâu, công giáo cũng chuyển hướng vào đời, đi vào nhân dân, mị dân. Cha cố bấy giờ rất trẻ, đẹp giai, có văn hoá, rất gần gũi thanh niên, được thanh niên mê. Chứ đâu còn những cha xứ, mõ già lụ khụ nữa. Họ làm như vậy là trên cơ sỏ phân tích tình thế xã hội, con người bây giờ? Chủ nghĩa tư bản xấu xa làm người ta mất lòng tin. Nhưng người ta cũng không tin hẳn vào chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản bởi nó luôn bộc lộ những mặt không hoàn thiện của nó.

Như vậy là thế kỷ XX, con người vẫn khủng hoảng lòng tin. Chính đó là kẻ hở để tôn giáo tồn tại. Những vấn đề mới của tôn giáo có nhiều chuyện hấp dấn, phong phú lăm, chứ đâu phải xưa cũ như Bảo biển! Còn vể văn chương, đó là loại văn báo chí, văn biền ngẫu những năm 1936 - 1937. Có vị lãnh đạo khen (T.C) là do từ dạo ấy các ông ấy bị cắt đứt với đời sống văn học, có đọc văn học bây giờ đâu để biết văn chương hôm nay thế nào?

Hiện nay chưa thể có một quan niệm mới nào về tiểu thuyết đâu.

* Các người viết trẻ hôm nay hình như họ ngơ ngác, ngớ ngẩn thế nào! Cũng không phải vấn đề của riêng họ mà là vấn đề chung của xã hội. Sự mất lòng tin nói chung ở thực tế, ở đời sống đó thôi.
Tôi có đọc một số tiểu thuyết miền Nam. Nói chung là rất chán. Nó ăn khách ở chỗ nói những chuyện thật, rất gần gũi với một thứ triết lý thiển cận khá rẻ tiền. Những tay viết tiểu thuyết cự phách đều ở miền Bắc ta cả. Họ không được viết tự do đấy thôi. Cái hay của tiểu thuyết còn ở những triết lý xa rộng của nó.

* Một tác phẩm hay không cần giải thích, quần chúng vẫn hiểu. Bởi vì đời sống là cái hay nhất. Tôi không thích một số ông cứ phải đi giải thích tác phẩm của mình, vì sợ người đọc không hiểu.

* Nhiều thứ rồi sẽ chết, sẽ bị lãng quên. Tôi chỉ mong viết đến 60 tuổi mà còn lại được một cuốn người đời sau còn đọc.

* 5 năm ở chiến trường thì đừng để phí. Cậu cứ viết đi. Viết cho chân thực. Đừng có suy nghĩ. Thiên tài cũng bị mai một nếu cứ suy nghĩ và chỉ suy nghĩ mà không chịu làm. Cứ viết, chữa, rồi viết. Liên tục như vậy nó sẽ lên tay. Người nói giỏi cũng do nói nhiều mà giỏi. Viết cũng vậy, phải viết nhiều. Hành động chứ không phải suy nghĩ xác định vị trí một con người, hay đó chính là chỗ từng người khẳng định vị trí của mình.

* Bây giờ cứ viết. Nhưng viết cái gì thật. Có thể không được hoan nghênh, nhưng không nên viết kiểu tuyên truyền. Có thể có những cái không tiện, ta chưa viết, ta không viết, nhưng cái gì đã viết thì phải cho thật.

+ Bây giờ chúng ta cứ huyễn hoặc nhau, lấy cái giả làm cái thật, thì tất cái thật bị xem là giả.

+ Nếu được nói thật, thì chỉ câu chuyện của một người đi chiến trường thật là có thể đánh đổi tất cả những tác phẩm viết về chiến tranh.

Vũ Cao (V.C): Những năm này, tâm trạng con người Việt Nam phức tạp, phong phú lắm. Tiểu thuyết hàng ngàn trang cũng không nói hết được. Vậy mà, những gì đã viết ra cứ nông cạn, nhạt nhẽo, ấy là do ta né tránh, ta tự dối nhau, một sự nói dối rất tự nguyện, tự kiểm duyệt mình khi nói về sự thật đời sống một đất nước đang có chiến tranh.

N.K: Thứ văn chương chạy theo thời sự, tuyên truyền sẽ có lúc chết, vì đó là cái gì rất thay đổi, nên chỉ thay đổi nội dung tuyên truyền là tác phẩm ta chết rồi. Chúng ta sẽ được chứng kiến số phận Thời sự hè 1972, bình luận…

Tại sao lại tự đề cao mình, lại đi chê bai các dân tộc khác ? Các đất nước khác?

Cá nhân tự đề cao mình, chê bai hạ thấp người khác, đã là không đúng rồi. Chê bai một dân tộc, miệt thị họ càng là một điều sai trái, thậm chí ngu ngốc. Và đó là khởi đầu một sai lầm khác.

* Chúng ta sống quen với những chuyện nói dối lẫn nhau đến giờ không còn biết đâu là sự thật mà đi tìm. Và đến lượt sự thật bị người ta hỏi cũng không dám nhận vì cứ tưởng mình là dối trá. Đó là một điều gì rất khủng khiếp.

28/7/1972

(Sau khi đọc bài phê bình Chủ tịch huyện của Nguyễn Văn Hạnh).

- Nếu phải nói quan niệm của mình thì thật ra tôi không thích, không chịu được loại văn chương rề ra, con cà con kê những phong cảnh, tâm tình, phong tục, tập quán, dẫu đi hết trăm trang mà chưa nói được gì. Đó là lối văn chương lo chải chuốt, làm duyên làm dáng, bôi son trát phấn, như các bà, làm hàng quà bọc rất nhiều lớp võ nhưng bóc  mãi, bóc mãi, chỉ còn lại một tý nhân bằng cái lưỡi mèo.

- Tôi bao giờ cũng thích đi thẳng vào vấn đề, nói ngay những điều mình muốn. Có ít phong cảnh, mây gió nào là để phục vụ cho điều phải nói, chứ không cần thị vị. Khi đã hết vấn đề, nói được điều muốn nói là chấm dứt chuyện ngay, không che dấu, ẩn ý gì cả.

Vấn đề người viết phải quan tâm nhất là điều mình nói có tới được với người đọc không? Anh viết sao để người đọc cảm nhận được, bằng đường này đường khác họ hiểu ý anh, họ phải suy nghĩ phải băn khoăn, đặt ra trong đời họ một vấn đề gì đó, vậy là được. Cần làm cho người đọc tỉnh táo, làm sao cho họ tự chủ, làm chủ được vận mệnh của mình.

Có những vấn đề trong tác phẩm cần có nhà phê bình phân tích, dẫn dải người đọc mới hiểu - nhưng cho đến nay chưa có nhà văn nào viết được như thế. Nhưng cũng có những vấn đề nhà văn trực tiếp nói với người đọc, và họ chấp nhận, không cần qua bất cứ khâu trung gian nào. Trường hợp này người trung gian bao giờ cũng làm rơi vãi, mất mát, méo mó đi ít nhiều điều nhà văn thể hiện.

* Anh em có ý phê bình tôi tỉnh táo quả, thiếu cái say mê cần thiết. Nhưng thực ra, say sưa là thế nào? Phải hiểu hoàn cảnh xã hội mình đang sống và viết chứ. Muốn hay không, tự ta phải có những hạn chế mình (chịu một sự lưng chừng nhất định). Chưa thể say được. Anh chỉ có thể say khi anh nói rõ được cái yêu và cái ghét và truy kính đến cùng cái anh phản đối. Bây giờ không thể như thế, không thể đẩy được đến tận cùng cả yêu cũng như ghét của ta. Vậy thì làm sao say sưa được?

* Còn thực ra, không say sưa không viết được. Tôi luôn luôn bị sự thôi thúc nôn nóng nói những điều mình nghĩ cho mọi người. Rất có thể điều mình nghĩ cũng như điều mình nói không đến nơi đến chốn, nhưng ít ra nó cũng gợi cho người đọc suy ngẫm thêm. Tôi tin người đọc. Người đọc của chúng ta bây giờ thông minh lắm. Họ thừa tri thức để đẩy lên cao hơn đến mức cần thiết những gì người viết chỉ mới gợi ra.

Những gì còn mất, ta không phải bàn hôm nay. Thời gian sẽ làm công việc chấp nhận hay đào thải. Anh có võ đoán cũng không được. Vả chăng chưa có những chứng cứ chắc chắn để võ đoán như thế. Những cái hôm nay ta cho là chân lý liệu ít nữa có còn là chân lý độc tôn không?

* Hư cấu? Có thể nào gọi là tác phẩm văn học mà không hư cấu? Phàm đã cầm đến viết là phải hư cấu. Không hư cấu làm sao viết được. Anh không thể viết được mọi thứ, ngay cả một bản báo cáo thành tích là trung thực nhất, chứ gì? Thì cũng phải sắp xếp, thêm cái này, bớt cái kia, tập trung để làm nổi bật điều muốn nói, như vậy là hư cấu !

Nói cách khác, là biết cô lập một vấn đề từ thực tế, rồi cường điệu tô vẽ nó lên làm cho nó sáng tỏ hơn, đầy đủ ý nghĩa hơn, thì thế là hư cấu. Mà mỗi cuốn sách cũng chỉ tìm đường đến với bạn đọc, theo lối ấy mà thôi.

+ Vả chăng, cũng nên quan niệm cho đúng sự say mê. Đúng là những tác phẩm văn học vĩ đại, tác giả cũng như nhân vật của họ theo đuổi những điều say mê lớn lao thật. Nhưng người Việt Nam có niềm say mê khác, đúng hơn là biểu hiện niềm say mê khác, với người Châu Âu, khác những nhân vật của Tolstoi Goorki, Ta theo đuổi sự nghiệp cách mạng gần 30 năm nay, ai bảo ta không say mê, không say mê sao có thể tiếp tục được với tinh thần, khí phách như vậy? Nhưng nhìn ra thì người nào cũng tỉnh táo, đàng hoàng và thật ra thì cần sự tỉnh táo hơn là sự say mê. Hình như ta đã quá mê say rồi. Nhà văn không nên tiếp tục làm cho người đọc mê muội thêm nữa.

+ Mỗi người phải sáng suốt, biết tự đặt mình trong những tiêu chuẩn đo lường của cuộc sống, không theo đuôi ai, vì ai cũng Marxit cả đấy thôi mà nào có ai giống ai đâu.

+ Tôi nghĩ người viết được nhiều, được lâu dài là người có những tư tưởng lớn, có những chủ đề ôm ấp, quán xuyến trong mọi tác phẩm. Cống hiến một sự nghiệp văn chương là cống hiến cho xã hội một kiến nghị về cách sống nào đó, có khi chỉ cần một điều đó thôi. Có người là niềm say mê lớn mà cũng có người là sự tỉnh táo, sáng suốt. Mọi đề tài anh chọn, mọi tác phẩm anh viết đều nhằm khẳng định một sự lựa chọn đó.

Ở nhà văn tài năng, người ta khó nhận ra hơn, nhờ lối thể hiện thấu đáo, thâm trầm, ở người viết vụng về thì người ta sẽ dễ nhận ra bởi để tư tưởng đó nổi lều bều bên trên tác phẩm.

Người đọc phải tỉnh táo, đừng để cho nhà văn lỡm.

+ Họ viết ra không quan tâm bị đánh giá hay dở, miễn sao điều mình cần và muốn nói tới được với người đọc, giúp bạn đọc một định hướng giữa bao nhiêu khả năng buộc người ta phải lựa chọn.

Tôi chưa nghĩ, mà tôi cũng không tin lúc này ta đã có thể có những tác phẩm lớn, với nghĩa tổng kết cả một giai đoạn lịch sử dài kiểu biên niên sử, bởi vì còn thiếu một cái gì là cái gốc, là cơ sở để nhìn nhận, định giá. Xã hội còn thay đổi nhiều. Rất nhiều thước đo, chuẩn mực hôm nay sẽ phải thay đổi. Chưa thể tổng kết ngay được nếu không muốn làm một việc hồ đồ.

Đất nước đang thời kỳ cách mạng, chiến tranh, các quan niệm luôn luôn biến động cho phù hợp với tình thế - nó là những cái đáp ứng yêu cầu phục vụ nhiệm vụ trước mắt. Có cái là chân lý nhưng nhiều cái không hoàn toàn là chân lý, nhưng phải nêu cao vì cần thiết cho chiến thắng. (Thù muôn đời muôn kiếp không tan/ Ngu xuẩn nhất nhì là tổng thống Mỹ…)

Có thể có nhà văn nhìn đúng được tầm xa, có nhà văn chỉ đúng trong tầm nhìn gần, không thể tự cho mình sẽ luôn luôn đúng.

* Người lãnh đạo nào cũng muốn điều mình nói, việc mình làm là chân lý tuyệt đối, là chân chính cách mạng. Nhưng ai cũng Marxit, cùng cách mạng sao nhiều nước lại khác nhau? Ai là người cách mạng chân chính nhất? Liên Xô bảo họ đúng, Triều Tiên lại càng tự hào về sự đúng đắn. Với họ Kim Nhật Thành là lãnh tụ vĩ đại nhất. Trung Quốc luôn bảo mình mới là cách mạng chân chính, toàn thế giới là sai? Ai cũng nghĩ: Toàn thế giới sai hết rồi, chỉ nước họ là đúng. Ai có quyền phân phải trái? Nay mai sự phát triển thực tế mới giúp họ nhìn ra và lịch sử sẽ có sự phán xét!

* Tôi luôn luôn trung thành với những vấn đề thời sự. Đặt cách nghĩ đạo đức cho người ta tỉnh táo, biết điều làm được và điều chưa thể làm được, điều đúng và điều sai. ấy là cách kéo dài đời sống cho nhân vật văn học, 5, 10 năm sau, có thể điều tôi khẳng định bây giờ sai, nhưng cách đặt vấn đề đó vẫn còn sống.

* Không nên chỉ viết cái gì với ý chờ lời khen cấp trên, không nên quá vội vàng mong nổi tiếng. Không nên viết cái gì để phải ân hận, để có lúc người đọc tỉnh ra sẽ chê anh đã giúp vào sự dối trá. Nếu anh muốn vậy, thì dù là vấn đề khó khăn, nhưng lương tâm nghề ngập, sự từng trải sẽ giúp anh viết được.

* Chẳng nên lý tưởng hoá hiện thực, cần kiên trì góp sức mình vào, cần cù đóng góp để cải biến hiện thực, đồng thời cũng là để cải tạo gột rửa mình, cho thành một con người hiện thực hơn (Người trở về: Vỡ mộng, tự đánh giá mình cao, không có gì phải thay đổi nữa - đây sẽ là vấn đề lớn của đời sống cũng như của văn học thời hậu chiến).

* Trong Ra đảo tôi có viết mấy trang rất lý thú mà ít ai chú ý: Trong chiến tranh không có ai hoàn toàn chắc thắng, không ai có thể dự kiến đầy đủ mọi việc sẽ xảy ra. Ví như không bao giờ họ dám hoàn toàn yên tâm về một kế hoạch nào đó, dẫu đã được chuẩn bị chu đáo đến từng chi tiết… Rất nhiều trường hợp xảy ra đều chứng minh rằng, trong chiến tranh phải rất coi những trở ngại bất ngờ… bởi xét cho cùng, vẫn không có cách gì loại trừ được hết chuyện bất ngờ. Những cán bộ Vĩnh Linh đã làm như thế, thì đó là vừa nói về cấp dưới, vừa nói với những cán bộ cấp trên, vừa muốn nói đến cách tuyên truyền một chiều của ta.

* Ở Chủ tịch huyện tôi gửi gắm ở mỗi nhân vật những suy nghĩ nhận xét của mình.

- Tài giỏi mà tự cao tự đại là một mối nguy lớn (An)

- Làm cán bộ phải có vấp váp, sai lầm mới tỉnh ngộ ra (Hạ)

- Loại người không có chính kiến, ba phải, dung hoà mọi ý kiến là rất nguy hiểm, chỉ có thể dìm phong trào xuống.

- Quang là loại cán bộ Tỉnh biết nắm tình hình, tác phong thực tế, không huênh hoang, không ham việc to tát, biết chú ý những việc tầm thường cần thiết, chứ không chỉ chạy theo toàn chuyện chiến lược viễn vông.

- Hiệp là ý loại cán bộ bây giờ, trong điều kiện mới, anh làm chủ, có chính quyền trong tay, anh lại xa rời quần chúng, do đó không còn thấy gần gũi quần chúng là một vấn đề sống còn như xưa nữa. Nhưng anh ta còn là một cán bộ tốt, đã cảm thấy mình bắt đầu xa quần chúng, biết phẫn nộ với kẻ xấu, cái xấu và yêu mến người tốt. Biết tự kiểm điểm mình, nhận ra lẽ phải, có những băn khoăn thật sự trước nhiều vấn đề đang đặt ra từ thực tiễn. Đó là một con người rất đáng quý. Còn khuyết điểm, thì đã làm cán bộ mấy ai không có!

Chép lại 06/4/2008

Tròn 40 năm ngày đơn vị đi B

(Văn nghệ Quân đội)

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác