Đường về luân lý



Những phác thảo đạo đức học sơ khởi nhìn từ văn học Việt Nam thời kỳ huy hoàng

I.

(Toquoc)- Mối quan hệ giữa văn chương và đạo đức học, phản ánh đặc trưng quy chiếu biện chứng giữa luân lý (Morality) và trách nhiệm của nhà văn với xã hội. Mỗi giai đoạn khác nhau của biến thiên xã hội, thì đạo đức học cũng thay đổi theo các chuẩn mực khác nhau mà thời đại ấy quy định. Văn chương trong mối quan hệ với đạo đức học, không chỉ theo đuổi phản ánh những động thái tích cực, biểu hiện sự tương thông giữa luân lý cá nhân và việc thực thi nhiệm vụ xã hội, mà nó phải can dự trực tiếp bằng một cách thức nào đó để giải quyết triệt để mối quan hệ ấy.

Đi tìm câu hỏi cho vấn đề Đạo đức học là gì?

Nói một cách dễ hiểu, đạo đức học (Ethics) là hệ thống lý thuyết giải quyết vấn đề cái Thiện, dựa trên các nguyên tắc do xã hội đặt ra. Đạo đức học của người phương Tây hay thuyết tính Thiện của người Phương Đông có thể xem như nền tảng của mỹ học. Nó biểu hiện cao nhất trong nghệ thuật và văn học. Nhưng Thiện là gì? Cũng như luân lý là gì? Nó là phẩm chất hay hiện tượng? Nếu là phẩm chất thì hiển nhiên nó là nền tảng của những tác động tích cực đến xã hội. Mạnh Tử là người đi theo hướng này. Song nếu là phẩm chất thì dù xã hội có đổi thay thế nào thì cũng không làm mất đi căn tính thuần khiết của sự Thiện là vị tha, bao dung và nhân ái. Tuy nhiên, quan điểm đó sẽ đổ vỡ khi loài người đặt chân lên xã hội của thị trường hóa. Đạo đức học phương Tây thì xem cái Thiện vừa là phẩm chất nhưng cũng vừa là hiện tượng. Bản chất Thiện của con người chỉ được thực hiện khi nó được đặt trên nền tảng của các quy tắc cụ thể mà xã hội đó tạo ra. Đây là quan điểm biện chứng chặt chẽ, giải quyết triệt để mối quan hệ giữa tính người và xã hội. Vladimir Soloviev và Max Weber là những người chủ trương đi theo hướng này. Nó sẽ đúng khi văn chương can dự vào đạo đức học như một công cụ hữu hiệu, giải quyết vấn đề tính Thiện trong bối cảnh đương đại của nền công nghiệp hóa, kỹ thuật hóa và toàn cầu hóa.

Tính thiện chỉ được phát huy và đánh giá đúng mức khi đặt mình trong mối quan hệ với các nguyên tắc mà thời đại ôm chứa nó đặt ra. Mỗi thời đại thay đổi sẽ kèm theo nó thái độ, cách ứng xử và mục tiêu mà con người hướng đến, dựa trên thước đo và thị hiếu thẩm mỹ của con người thời đại ấy. Sự Thiện dù tồn tại trong thời đại nào, thì nó cũng không thể tách rời với căn tính của nó là phẩm chất Chân thực, và mục đích hướng đến của nó là cái Đẹp. Người Phương Đông đi sớm nhưng về muộn so với người Phương Tây ở điểm này, khi họ đặt ra thước đo chung đối với con người phải đạt được tính chất xuyên suốt của Chân - Thiện - Mỹ trong khi quan sát thế giới hiện tượng. Tuy nhiên, người phương Đông không chỉ ra đặc trưng thế nào gọi là Chân của cái Thiện và đích đến Cái đẹp là gì của Cái Thiện. Sự giới hạn đó của người phương Đông lại là điểm mạnh của người phương Tây, khi họ đã xây dựng cho mình một hệ hình mỹ học và tu từ học tương đối hoàn chỉnh,nhằm để đo cái Thiện ấy.

Sự bao dung, vị tha và nhân ái chỉ có được khi nó khởi phát từ giá trị chân thực của cuộc sống, nhằm hướng đến xây dựng đời sống lành mạnh cho con người. Không thể có cái Thiện, nếu như cái thiện ấy là sự giả dối, không thể có cái thiện chân thực nếu như cái thiện ấy không hướng đến đời sống thẩm mỹ như một khoái cảm tinh thần. Với lý do ấy, chúng ta sẽ thấy văn học nghệ thuật hướng đến cái Thiện như một cứu cánh cho con người, nghĩa là nó chỉ ra đặc trưng nhân tính cố hữu. Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại ở mức độ giải thích và tìm lý do dẫn đến các nguyên tắc đạo đức xã hội, thì hẳn rằng, so với đạo đức học, văn học nghệ thuật sẽ không triệt để. Điểm gánh cho văn học nghệ thuật vượt qua đạo đức học trong khi giải quyết vấn đề tính Thiện ở điểm: nó đi tìm cách nói cho con người về những vấn đề nhức nhối mà thời đại đặt ra, hơn là áp đặt lên con người các quy tắc đạo đức do xã hội yêu cầu như đạo đức học đã làm. Nếu xem tính Thiện là phẩm chất của con người trong mối quan hệ biện chứng với xã hội, thì hẳn rằng, việc đi tìm cách nói cho con người bằng hình tượng nghệ thuật và bằng tu từ học là con đường ngắn nhất khai phóng sự bao dung, vị tha của nhân loại.

Nếu văn học thời phong kiến, với đặc trưng quan phương hóa trong diễn giải, là “vua hiền tôi sáng” như một quy tắc đạo đức trong ứng xử thì phẩm chất đạo đức sẽ dẫn đường cho con người đến cái Chân là “Bui có một tấm lòng trung lẫn hiếu/ Mài trăng khuyết nhuộm trăng đen”, dẫn tới cái đẹp trong khi biểu đạt của cái Thiện là “thuật nhi bất tác” trước “lời Thánh”, từ đó nảy sinh hai hạng người để phân biệt giữa thiện và phi thiện tương ứng: Quân tử và Tiểu nhân. Đến thời văn chương tự chủ, thì nguyên tắc đạo đức tối thượng là “Dân là dân nước, nước là nước dân”, do đó, cái Chân của đạo đức chuyển di từ “Thánh hiền” xuống “Dân đen”, là “dựng cần trúc ngọn cờ phấp phới”. Với văn học thời kỳ kháng chiến chống mỹ thì sự chân thực của cái Thiện: “Là Việt Nam chống Mỹ”, cho nên cái đẹp của đạo đức xã hội sẽ tương ứng: “Chúng tôi gánh trên vai hành trang nặng nề của thế kỷ/ Để bạn bình tâm bước vào ngưỡng cửa Tự do” ... Tuy nhiên, có hai dòng văn học mà tôi gọi là thời kỳ huy hoàng và thời kỳ khủng hoảng: văn học giai đoạn 1900 - 1940 và giai đoạn 2000 - 2010 sẽ được dừng lại bàn kỹ về tính Thiện trong mối quan hệ với các quy tắc xã hội. Trong bài này, tôi sẽ tập trung giải quyết vai trò của các tác giả văn học giai đoạn 1900 - 1940, giai đoạn đỉnh cao của văn học Việt Nam tính đến thời điểm hiện tại trong việc tìm lối nói cho con người về vấn đề tính Thiện như một quy tắc đạo đức xã hội. Để từ đó thấy rằng, việc chống suy thoái đạo đức (nghĩa là, chống sự xuống cấp của cái Thiện) mà các nhà văn đã làm, vượt lên hẳn vai trò của nhà đạo đức học như thế nào.

Như trên đã chỉ ra, cái Thiện ở mỗi giai đoạn xã hội sẽ có những quy tắc tồn tại riêng. Đó là lý do giải thích tại sao chuyện tự do tình ái trong giai đoạn Phong Kiến dưới cái nhìn của nhà Nho là sự suy thoái nghiêm trọng về mặt đạo đức, nhưng đối với con người hiện đại thì nó là một nhu cầu tất yếu của đạo đức xã hội… Nói điều ấy để thấy rằng, đạo đức xã hội là vấn đề linh hoạt. Và văn học khác với đạo đức học ở chỗ đã nắm bắt được cái linh hoạt ấy để tìm ra hướng đi khai phóng hữu hiệu các giá trị, mà không chỉ giải thích hay đi tìm nguyên nhân nảy sinh sự xuống cấp của đạo đức. Các nhà văn sử dụng hình tượng nghệ thuật để vạch trần và tấn công trực diện vào những suy thoái nghiêm trọng ấy. Tất nhiên khi đã vạch trần và tấn công trực diện vào sự suy thoái đạo đức đó, thì văn học phải tìm cho nó con đường khai sáng, hướng đến cái Thiện khác chân thực và đẹp hơn, vượt thoát khỏi sự xuống cấp của cái Thiện đang hiện hữu.

Thời kỳ huy hoàng mà tôi nhắc đến ở đây xoay xung quanh những tranh luận nảy lửa, giải quyết các vấn đề của văn học và thời đại. Nhưng tựu chung vẫn là những quan niệm về đặc trưng Chân - Thiện - Mỹ dưới cái nhìn khác nhau, và ở những bình diện khác nhau. Trong lời mở đầu, ra năm 1935, tờ Bắc Ninh tuần báo đã lược khảo các tranh luận ấy như sau: “Năm năm nay trong văn học giới đã có nhiều cuộc biện luận rất có giá trị. Cuộc thứ nhất biện luận về Nho Giáo nổi lên giữa hai ông Phan Khôi và Trần Trọng Kim, cuộc thứ hai cũng biện luận về Nho Giáo giữa hai ông Quảng Văn Tử và Trần Trọng Kim, cuộc thứ ba biện luận về Quốc học giữa ông Phan Khôi và Lê Dư, cuộc thứ tư biện luận về Cha chết có làm được thơ không? Giữa hai ông Phan Khôi và Chu Quế Long, cuộc thứ năm biện luận về chữ Phong Kiến giữa hai ông Phan Khôi và Phan Văn Hùm, cuộc thứ sáu biện luận về vấn đề Bình Đẳng giữa cụ Huỳnh Thúc Kháng và ba anh Sơn Trà… và Hồ Xanh. Đến cuộc thứ bảy hiện ra chưa dứt là câu chuyện văn chương là văn chương hay chủ nghĩa nghệ thuật vị nghệ thuật giữa hai anh Hải Triều và Phan Văn Hùm với ông Hoài Thanh”. Trong khuôn khổ vấn đề đang bàn về mối quan hệ giữa văn chương và đạo đức học, tôi xoay quanh ba tranh luận lớn không được Bắc Ninh tuần báo nhắc đến là: Tranh luận về quốc học, tranh luận về truyện kiều tranh luận về dâm hay không dâm (đối với tranh luận thứ ba, chúng tôi xin đề cập trong phần 2 của bài viết: Đường về luân lý - Những vấn đề đạo đức học văn học nhìn từ văn học Việt Nam thời kỳ khủng hoảng) để từ đó cho thấy, ngay trong một giai đoạn cụ thể của văn học, việc quan niệm về các vấn đề đạo đức được đánh giá không giống nhau, dựa trên các quy tắc và cách nhìn khác nhau.

II.

Vấn đề quốc học: Sự đối kháng đầu tiên giữa giữa đạo đức khoa học và đạo đức cựu học

Trong lịch sử học thuật nước ta, có lẽ, cuộc tranh luận xung quang vấn đề Quốc học là tranh luận đầu tiên về vấn đề đạo đức học thuật, trong đó đáng chú ý là bài của Ngô Đức Kế với Nền quốc văn trên báo Hữu Thanh (số 12/1924), Trịnh Đình Rư với Văn thơ với nữ giới trên tờ Phụ nữ tân văn (số 18 - 19 - 24 - 33/1929), Nguyễn Du Thanh với Muốn cho tiếng An Nam giàu trên tờ Phụ nữ tân văn (số 21/1929), Phan Khôi với Chữ quốc ngữ ở Nam Kỳ với thế lực của phụ nữ trên tờ Phụ nữ tân văn (số 28/1929), Lê Vinh Diệu với Muốn viết chữ Việt Nam cho đúng phải phát âm cho đúng trên tờ Phụ nữ tân văn ( số 34/ 1929), Phạm Quỳnh với Bàn về quốc học trên tờ Nam Phong (số 163/ 1931), Huỳnh Thúc Kháng với Lối học khoa cử và lối học của Tống Nho có phải là học đạo Khổng Mạnh không? trên tờ Tiếng dân ( số 10 - 11/1931), Nguyễn Trọng Thuật có bài Điều đình cái án quốc học trên tờ Nam Phong (số 167/1931), Nguyễn Tiến Lãng góp tiếng nói với Nghĩa vụ bạn tân học với quốc văn trên tờ An Nam (số 31 -32 -33 - 34 -35/1932), Nguyễn Thị Kiêm với Về vấn đề nữ lưu và văn học (số 131/1932)... đặc biệt là bài của hai ông Phan Khôi: Thanh niên với Tổ quốc - Kẻ thanh niên tân học nước ta muốn giúp ích cho Tổ quốc phải làm thế nào trên tờ Phụ nữ tân văn (số 172/1932) và Hoài Thanh với Vấn đề học thuật nước ta chỉ là một vấn đề tâm lý và luân lý trên tờ Sông Hương (số 1/1939).

Các tác giả tham gia tranh luận xung quanh chủ đề Quốc học với ba vấn đề lớn được đặt ra: Quốc học như một phẩm chất tìm tòi hay chỉ mang tính thực dụng của việc giáo huấn?; Vấn đề nữ lưu với nền quốc học cần giải quyết thế nào?; và xét đến cùng, nền quốc học ở ta là nền quốc học luân lý hay nền khoa học đúng nghĩa? “Kiện tướng khăn đóng” Ngô Đức Kế là người tung những thế cờ đầu tiên nhằm phá vỡ những cơn mộng mị mù mờ và tự phụ về nền quốc học của giới trí thức, học giả bấy giờ, với những phê phán như xoáy vào xương sống của nền giáo dục khoa cử: Học để làm quan hay học để làm người. Bước đi thận trọng ấy của vị tướng cầm quân đã mở ra vấn đề đạo đức trong giáo dục Việt Nam. Có lẽ, đây là lần đầu tiên giáo dục Việt Nam được đưa ra mổ xẻ với những cú “phản pháo” sắc sảo và trúng đích, theo đó thì: “Người nước mình từ xưa đến nay, cái tâm lý đối với việc học là cốt học mà đi thi, đi học cũng như đi buôn bán hay làm nghề, cái mục đích cầu lợi mà thôi. Tiếng rằng nước mình tôn sùng đạo Khổng, song đó là vì học đi thi mà tôn sùng, chứ không phải tôn sùng mà phải học” (Ngô Đức Kế, Nền quốc văn trên báo Hữu Thanh (số 12/ 1924)), để rồi sau 15 năm với những tranh cãi nổ lửa vấn đề “tưởng cũ mà mới” ấy ngã ngũ với “khẩu thần công” Hoài Thanh. Trong Vấn đề học thuật nước ta chỉ là một vấn đề tâm lý và luân lý, Hoài Thanh đã tiếp lời của Ngô Đức Kế, để chỉ ra nhược điểm của nền quốc văn Viêt Nam: “Quang cảnh học giới ta buồn tẻ tiêu điều làm sao! Dễ thường thế giới không có nước nào mà những người tự nhận là học giả lại lạnh lùng với việc học như ở nước mình. Người mình vẫn được tiếng là hiếu học, nhưng đúng ra chỉ là hiếu lợi và hiếu danh. Khi sự học không đưa đến cho mình lợi và danh thì ít ai còn thèm màng đến nó nữa. Ít ai biết học vì sự học. Cái nguy là ở đó. Một người viết văn không vì cái hứng thú văn chương, một người đá bóng không vì cái hứng thú đá bóng, thì không bao giờ có văn chương hay, đá bóng giỏi… Nói như vậy cũng đúng nếu người mình đời đời chỉ là những cậu học trò dễ bảo ngày đêm lo học lại những điều người ta đã phát minh ra. Nhưng nếu ngoài sự hấp thụ văn hóa của người, mình cũng muốn phát minh, cũng muốn sáng tạo thì không thể không làm một cuộc cải cách lớn về tâm lý và luân lý” (Hoài Thanh, Vấn đề học thuật nước ta chỉ là một vấn đề tâm lý và luân lý trên Sông Hương (số 1/1939)).

Qua những đòn “nổ lửa” tiêu biểu của Ngô Đức Kế và Hoài Thanh, thì đạo đức trong học thuật đồng nghĩa với sự sáng tạo, vì “cái học” cho sự sáng tạo. Theo đó các nguyên tắc được xác lập giữa đạo đức học và văn học nằm ở sự phá rào, mở lối hướng đến đặc trưng “lập thức”. Sáng tạo trong trường hợp này được xem là Thiện và đặc trưng quy định sự Chân thực là suy tư từ cái sở học, mục đích hướng đến cái đẹp của sự Thiện là gạt bỏ tính thực dụng trong một nền giáo dục. Nền giáo dục ấy phải hướng dẫn công dân đến một thế giới tự lập dựa trên đôi chân và trí tuệ từng cá nhân, nơi đó không có khoảng cách giữa nữ lưu và nam giới. Một nền giáo dục như thế sẽ hướng đến nền tảng của tự do và dân chủ trong tranh luận, đối thoại. Và đó là nguyên tắc tối thượng của cái Thiện trong khoa học, nghĩa là của đạo đức học khoa học/ văn học.

Một nền giáo dục mà chỉ dạy các công dân đi lại những gì đã trở thành nhàm chán và quen thuộc, là một nền giáo dục lạc hậu, phi sáng tạo, là mờ mịt trước thế giới quanh nó. Nền giáo dục như thế sẽ đồng nghĩa với việc đề cao cái xấu/ cái ác, là bác bỏ cái Chân, là phủ nhận cái Đẹp, là nền giáo dục chống lại sự Thiện, chống lại các nguyên tắc đạo đức khoa học tiến bộ vì con người. Do đó, những tranh luận ấy của ngày hôm qua dường như vẫn tinh khiết mùi “cảo thơm” của ngày hôm nay. Ngày hôm nay, giáo dục Việt Nam cần nhìn lại những thành tựu tranh luận của “ngày hôm qua” ấy, để thấy rằng, nền giáo dục hiện thời của ta vẫn là “ẩn số nghi ngờ”, có hướng chống lại cái Thiện thuần khiết của khoa học/ văn học, từng được rấy lên đầu thế kỷ XX.

Vấn đề Truyện Kiều: Sự đối kháng bất khả cưỡng giữa luân lý Nho học và luân lý tự do

Đề cập đến Luân lý Nho học và Luân lý tự do là hướng đến một nền đạo đức học khai phóng quyền làm người của nhân loại. Thật ngạc nhiên, ngay từ đầu những năm 1920, các học giả nước ta đã dội lên nền luân lý thủ cựu nước nhà gầu nước lạnh, thức tỉnh nhân thời hướng đến cái Thiện đích thực cho con người, dựa trên những quy tắc của tự do và dân chủ. Đó là cuộc cách mạng đầu tiên về đạo đức học nhân bản ở Việt Nam, thế nhưng, dường như cuộc cách mạng ấy đang dần bị lãng quên trong nhận thức thường ngày của hiện thực khủng hoảng đương thời. Đó là vấn đề mở ra truy vấn nghiêm túc đối với những nhà văn, nhà đạo đức học, nhà mỹ học về lý do dẫn đến sự “khủng hoảng đạo đức” trong tình cảnh Việt Nam thập niên đầu thế kỷ XXI này.

Tranh luận về vấn đề luân lý trong Truyện Kiều có thể kể đến Phạm Quỳnh với Bài diễn thuyết quốc văn trên Tạp chí Nam Phong (số 86/1924), Vũ Đình Long với Văn chương truyện Kiều trên tạp chí Nam Phong (số 81 -83 -87/ 1924), Ngô Đức Kế với Luận về chính học cùng tà thuyết Quốc văn - Kim Vân Kiều - Nguyễn Du trên báo Hữu Thanh ( số 21/1924), Nguyễn Tường Tam với Mấy lời bình luận về văn chương truyện Kiều trên tạp chí Nam Phong (năm 1924), Phan Bội Châu với Về chủ ý của truyện Kiều (năm 1926, sau đó đăng lại trên báo Trung Lập năm 1931), Bùi Kỷ với Truy điệu Nguyễn Du trên tạp chí Nam Phong (số 120/1927), Trần Trọng Kim với Một cái nghĩa mới về truyện kiều trên báo Phụ nữ tân văn (số 17/1929), Huỳnh Thúc Kháng với Chánh học cùng tà thuyết có phải là vấn đề quan hệ chung không? Trên báo Tiếng dân (năm 1930), Lưu Trọng Lư với Mấy lời chiêu tuyết cho Vương Thúy Kiều trên Phụ nữ thời đàm (số 13/1933)… và đặc biệt là bài Văn chương và luân lý truyện Kiều của Hoàng Ngọc Phách ấn hành năm 1935.

Phạm Quỳnh - người đã nổ phát súng đầu tiên với đích đến là Bài diễn thuyết bằng quốc văn, mở ra những tràng hoa ngữ rôm rả: “Văn chương người ta thiên kinh vạn quyển, dẫu có thiếu mất một quyển cũng chẳng hại gì. Văn chương nước mình chỉ có độc một quyển, vừa là kinh, vừa là truyện, vừa là Thánh thư Phúc âm của cả một dân tộc, ví lại khuyết nốt thì dân tộc ấy thế nào?”, và Truyện Kiều, theo ông là kinh Phúc âm của người Việt Nam, nó dung hòa những tinh hoa của tính Thiện hai miền Đông Tây “về đường tinh thần thì trong văn học Pháp có hai cái tinh thần khác nhau, là tinh thần cổ điển và tinh thần lãng mạn. Tinh thần cổ điển là trong lề lối, sự phép tắc; tinh thần lãng mạn trong sự khoáng đãng, sự ly kỳ. Truyện Kiều gồm được cả hai cái tinh thần ấy, vì vừa có cái đạo vị thâm trầm của Phật học vừa có cái nghĩa lý sáng sủa của Nho học vừa có cái phong phú tiêu dao của Lão Trang, lấy lẽ phải của ông Khổng mà chế lại sự thần bí của nhà chùa, sự khoáng dật của hai họ”.

Phạm Quỳnh đã xem nguyên lý căn bản để cái Thiện tồn tại như một quy tắc đạo đức xã hội, khi nó có sự dung hòa giữa tinh thần tự do và trí thức giáo dục từ văn hóa truyền thống, giữa việc xem lí trí kiểm soát bằng tri thức và sự cởi mở trong khi tiếp nhận thế giới xung quanh. Cái Thiện chỉ có được sự hoàn hảo, khi nó hội tụ đầy đủ giữa nhận thức khách quan và bản sắc chủ quan. Theo đó, Truyện Kiều được xem như là phổ hệ luân lý mang tinh thần hiện đại trong khi xác lập quan niệm về sự Thiện. Cái kiếp đoạn trường 15 năm kia, theo Phạm Quỳnh chỉ là một bi kịch nữ nhi, tuyệt nhiên nó không vi phạm các nguyên tắc đạo đức. Truyện Kiều vẫn giữ được giá trị luân thường, bởi vì, nó giữ được quy luật lựa chọn các nguyên tắc đạo đức là tính “phổ thông”: “Vì Truyện Kiều có một cái đặc sắc mà những nền kiệt tác trong văn chương Pháp không có. Đặc sắc ấy là sự “phổ thông”… Thử hỏi cổ kim Đông Tây đã có một áng văn chương nào cảm người được sâu và được rộng như thế chưa” (Phạm Quỳnh). Theo đó, “phổ thông” được xem là nguyên tắc cao nhất của đẹp và chân, đồng thời, nó cũng là nguyên tắc cơ bản của sự Thiện. Tuy nhiên quan niệm này của Phạm tiên sinh đã bị lão tướng Ngô Đức Kế “phản pháo” ngay sau đó ít lâu, với những lời lẽ nặng nề, thậm chí, ông còn gọi Truyện Kiều là cuốn “dâm thư”, nghĩa là cuốn sách chống lại sự Thiện, chống các nguyên tắc đạo đức do xã hội đặt ra.

Trong Luận về chính học cùng tà thuyết Quốc văn - Kim Vân Kiều - Nguyễn Du trên báo Hữu Thanh (số 21/1924), Ngô Đức Kế thẳng thắn chỉ ra điều ấy như sau: “Vận nước thịnh hay suy quan hệ tại đâu? - Tại nhân tâm thế đạo. Nhân tâm thế đạo xấu hay tốt, cội gốc tại đâu? Tại học thuyết tà hay chính”. Trong quan niệm của Ngô Đức Kế thì sự tồn vong của một quốc gia gắn liền trực tiếp với nền tảng đạo đức dân tộc, mà căn rễ quy định trực tiếp nền đạo đức ấy là tư tưởng (“học thuyết”) về chính/ tà, thiện/ác. Vậy tư tưởng mà Ngô Đức kế dùng làm nền tảng để xác lập quan niệm cá biệt về đạo đức xã hội của ông như thế nào? Trong bài báo nêu trên có đoạn: “Thầy Mạnh Tử sinh ra đời chiến quốc, vì lúc ấy cái học thuyết họ Dương, học Mặc, thịnh hành trong thiên hạ mà ngài phải lo cự họ Dương, họ Mặc; giảng minh cái học Chu, Khổng, để chữa đổi lòng người. Đời sau khen ngợi cái công thầy Mạnh tịch tà thuyết, chính nhân tâm không thua gì công vua Vũ tháo nước lụt đuổi muông dữ để cho thiên hạ được an cư lạc nghiệp. Vì sao mà nói thế? Là vì cái hại tà thuyết mê đắm lòng người có kém gì cái hại nước lụt trôi người, muông dữ ăn người đâu mà lại thậm hơn nữa”, điều này cho thấy, Ngô Đức Kế lấy cơ sở Nho học Khổng - Mạnh để xác lập các quy tắc sự Thiện, đặt lên nền tảng luân lí những ý niệm “khắc kỷ phục lễ là gốc của nhân”, thì việc đón nhận giá trị của tự do như phẩm tính quy định đặc trưng Chân và Mỹ của Thiện như Phạm Quỳnh tuyên ngôn chỉ còn là “cái tà thuyết làm sa đắm lòng người không biết đâu mà nói” (Ngô Đức Kế).

Quy tắc nhằm xác lập sự Thiện trong văn học gắn liền với quy tắc dựng xây tư tưởng nhân sinh, nó luôn nảy sinh tinh thần đối kháng ngay trong lúc phát tiết đến đỉnh cao của nhận thức huy hoàng. Sự đối kháng giữa Phạm Quỳnh và Ngô Đức Kế không thể xem là đối kháng về bản chất khi quan niệm về sự Thiện như là trung tâm của đạo đức học. Những tranh luận của họ thực ra chỉ là sự đối kháng về mặt hiện tượng, khi mà thực tiễn văn học nơi họ đứng vẫn còn dính líu chưa phân tách rạch ròi giữa cũ và mới, giữa cách mạng và phản động, mà phải chờ đến giai đoạn khủng hoảng của văn học Việt Nam (2000 - 2010) mà chúng tôi đề cập trong phần hai: Đường về luân lý - Những vấn đề đạo đức học văn học nhìn từ văn học Việt Nam thời kỳ khủng hoảng, thì sự phân tách ấy về bản chất của Chân - Thiện - Mỹ mới thực sự rõ ràng. Tuy nhiên, qua tranh luận của hai học giả họ Phạm và họ Ngô đã hé mở cho chúng ta vấn đề nhận thức bản thể, khi xem văn học là phương thế giải quyết hữu hiệu các vấn đề đạo đức học. Chỉ thông qua sáng tạo, thông qua thế giới nghệ thuật, thì những quy tắc đạo đức xã hội mới được mổ xẻ, phân tách rạch ròi trước những giới hạn của nền đạo đức cũ và những tích cực hay tiêu cực trong khi tiếp nhận các quy tắc đạo đức mới bên ngoài. Theo đó, quan niệm về các quy tắc đạo đức xã hội là quan niệm mở, tạo ra sự dân chủ tự nguyện trong khi tiếp nhận các quy tắc ấy.

Chỉ khi nào các công dân tự nguyện xem những quy tắc đạo đức mà xã hội xác lập phù hợp với bản chất Chân - Thiện - Mỹ trong mình, thì khi ấy, đạo đức học mới thực sự đi vào lòng người. Văn học sinh ra không phải để áp đặt lên con người các quy tắc đó, mà là gợi một dấu hỏi để con người tự nguyện đi vào thế giới mơ mộng, vừa như xa lạ vừa gần trước mắt, tháo gỡ dần những dấu hỏi tù mù trên con đường nhận thức nghệ thuật, hướng đến cái đích của sự tiếp nhận. Hãy nên nhớ, chỉ có sự tự nguyện mới giúp cho con người ý thức về sự Thiện như một đới cực chống lại cái ác, chống lại sự suy thoái nhân cách trầm trọng. Và cũng hãy nhớ, văn học là một hình thái ý thức tự nguyện, nó gieo vào con người niềm tin có lý trí, vượt lên chính mình trong vai trò người khác. Một nền quốc học mà yếu về văn học là một nền quốc học nặng về giáo dục áp đặt, nơi đó sẽ không có chỗ cho sự tự nguyện học tập và giảng huấn những giá trị chân, mỹ của sự thiện. Một nền giáo dục thiếu định hướng nhân văn là một nền giáo dục chống lại sự Thiện, nhường chỗ cho cái ác, cái xấu, sự suy đồi ngự trị. Một nền giáo dục đạo đức học tự nguyện là một nền giáo dục đem đến cho con người sự tự do trong khi học tập các giá trị đạo đức.

Văn học đã cho con người quyền tự do ấy…

Ngô Hương Giang

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác