Dương Hiền Nga bình bài thơ “Qua hàng trầu nhớ mẹ”


Qua hàng trầu nhớ mẹ

 

Gian hàng trầu vỏ quen một thuở

Cau tươi, vỏ thắm lá thơm cay

Đi chợ con bớt dăm đồng vặt

Mua để mẹ ăn mỗi thường ngày

 

Quết trầu đỏ thắm làn môi mẹ

Sau bữa cơm đèn trải chiếu hoa

Mẹ ngồi thong thả bên hè mát

Hàng xóm sang chơi ấm cửa nhà

 

Nhưng rồi hình bóng về xa khuất

Mẹ chẳng còn ăn những miếng trầu

Chiếc cơi trống vắng hơi đồng lạnh

Con đặt tay vào ngón buốt đau

 

Mẹ ơi!

Thơm cay một miếng trầu xưa

Mà con phải bớt tiền mua vì nghèo

Bây giờ đã hết gieo neo

Lại không còn mẹ mà chiều. Khổ không!

 

Từ ngày đưa mẹ ra đồng

Qua hàng trầu vỏ con không dám nhìn.

Nguyễn Thị Mai

 

Lời bình của Dương Hiền Nga:

Bài thơ “Qua hàng trầu nhớ mẹ” của nhà thơ Nguyễn Thị Mai là tiếng lòng của người con hiếu thảo khi mẹ đã qua đời làm rung động trái tim người đọc. Người con đã trưởng thành, không còn trong cảnh nghèo khó bần hàn vẫn luôn nhớ về người mẹ với bao hình ảnh gắn bó thân thương cùng sự day dứt, xót xa, tiếc nuối khôn nguôi.

Bài thơ kết cấu theo trình tự thời gian từ khi mẹ còn sống cho đến khi mẹ qua đời, từ những kỷ niệm thuở xưa cho đến những tâm sự tự đáy lòng hôm nay, dẫn người đọc qua từng chặng thời gian và cảnh đời, chuyên chở những cung bậc của cảm xúc cùng sự trăn trở vô cùng da diết. Hình ảnh gắn liền với mẹ hiền thân thương là: Gian hàng trầu vỏ quen một thuở, đây là nơi nhà thơ gửi gắm tâm sự, là nơi con vẫn ghé vào mỗi ngày để mua: Cau tươi, vỏ thắm, lá thơm cay” “để mẹ ăn mỗi thường ngày”. Người đọc lặng đi trước cảnh: đi chợ con bớt dăm đồng vặt”, cuộc sống vô cùng khó khăn, phải tính toán co kéo từng tý một, “dăm đồng vặt” kia mang nặng tình thơm thảo dành cho mẹ. Người đọc cùng nhà thơ ngược thời gian tìm lại hình ảnh giản dị nhưng không thể nào quên: “Quết trầu đỏ thắm làn môi mẹ”. Những ai đã sống qua cái tuổi “tri thiên mệnh” mới thấu hình ảnh quen thuộc và đẹp đến mức khó quên về những bà mẹ ăn trầu ấy. Hiện thực giản dị thân thương nuôi dưỡng mạch nguồn sáng tạo của nhà thơ, để rồi câu thơ tự nhiên tuôn chảy, chan chứa một nỗi nhớ sâu lắng, dâng nghẹn trong lòng: “Sau bữa cơm đèn trải chiếu hoa/ Mẹ ngồi thong thả bên hè mát/ Hàng xóm sang chơi, ấm cửa nhà”. Người mẹ Việt Nam cùng tình làng nghĩa xóm xưa cao đẹp như vậy đấy, vật chất tuy thiếu thốn nhưng đầy ắp tình người, người mẹ chân chất giản dị như một điểm tựa vững vàng  ấm áp cho gia đình và cũng vì vậy khi vắng mẹ cửa nhà trống vắng đến lạnh lòng, nỗi đau vỡ òa đến khôn cùng: “Nhưng rồi hình bóng về xa khuất/ Mẹ chẳng còn ăn những miếng trầu”. Có ai không rưng rưng đắng nghẹn trong lòng trước hình ảnh: “Chiếc cơi trống vắng hơi đồng lạnh/ Con đặt tay vào ngón buốt đau”. Nỗi đau không chỉ thấm vào da thịt mà hơn thế như xuyên vào trong tâm. Vẫn biết đấy là quy luật của tạo hóa nhưng  mất mát quá lớn, câu thơ như nén hương lòng thơm ba cõi, như thốt lên trong tiếng nấc: “Bây giờ đã bớt gieo neo/ Lại không còn mẹ mà chiều. Khổ không?”. Dấu chấm ngắt câu  cùng từ “khổ không?” và dấu hỏi chấm như sự dồn nén đến tột cùng xót xa của người con hiếu thảo. Hai câu thơ cuối khiến người đọc thấm  thía dư vị đắng cay toát ra từ nỗi lòng của người con thương mẹ tha thiết, đôi nơi cách trở âm dương nhưng gian hàng trầu vỏ như một địa chỉ thiêng liêng của tình mẫu tử... chỉ có con và mẹ hiểu: “Từ ngày đưa mẹ ra đồng/ Qua hàng trầu vỏ con không dám nhìn”  bởi hình ảnh thân thuộc ấy lại gợi nhớ về bao kỷ niệm khát khao và tiếc nuối và cũng là nỗi đau thầm lặng khi phải mãi cách xa một người thân yêu nhất trong đời!

Bài thơ tự nhiên như hơi thở, cảm xúc chân thực, hình ảnh ấn tượng, chỉ một việc tưởng chừng rất nhỏ mà khái quát được một tình cảm lớn, nhà thơ không chỉ nói lên tâm tư của riêng mình với mẹ thân yêu mà còn gửi đến mỗi chúng ta một thông điệp mang tính đạo lý tự ngàn xưa: “Công cha như núi Thái Sơn. Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”.  

Hà Nội 10.2013

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác