“Đồng Lộc mang giấc mơ hoa tím”


 

(Toquoc)- Chớp được một câu thơ có khả năng chi phối toàn bộ cách nghĩ, cách cảm, định hướng được chủ đề tác phẩm, toát lên ngay tính mỹ học thi ca của tác phẩm là một điều rất khó. Đối với một bài thơ đã khó. Đối với một trường ca càng khó. Ấy thế mà với Trường ca Đồng Lộc, trường ca 5 chương, được nhiều báo và Tạp chí giới thiệu, nhà thơ Nguyễn Ngọc Phú đã có được cái may mắn đặc biệt. Ông chớp được câu thơ: “Đồng Lộc mang giấc mơ hoa tím”. Nó gần như linh hồn của cả tác phẩm. Nếu không vượt qua thi pháp trực cảm, nhiều khả năng sẽ bắt đầu bằng các câu thơ mô tả, diễn giải, xưng tụng, hoặc dựng lại một cuộc chiến khốc liệt của bom đạn. Ở đây, tác giả bắt đầu bằng một loài hoa tím. Cao hơn thế, đó là “giấc mơ hoa tím”. Thực và ảo. Hiện hữu và ẩn dụ. Mộc mạc, giản dị nhưng thanh lịch, dịu dàng, đằm thắm. Chỉ gió lào, nắng cháy, đồi trọc khô cằn sỏi đá nhưng sức sống bến bỉ, can trường, mãnh liệt. Đội giông dội bão mà lên. Đội bom đội đạn mà lên. Xanh tươi trong dữ dội. Hương sắc trong dữ dội. Đau thương nhưng lãng mạn. Gần gũi nhưng siêu thoát. Có lẽ thấm được tất cả mọi phẩm chất ấy của loài hoa mua, hoa sim tím đặc hữu của quê hương Hà Tĩnh nên câu thơ có sức khái quát, có sức gợi, có sức biểu cảm, có sức lan tỏa râm ran trong lòng người đọc. “Giấc mơ hoa tím” là một ẩn dụ ám ảnh mà trái tim vô cùng nhạy cảm của nhà thơ nắm bắt được trong khoảnh khắc xuất thần. Không phải ai có sự từng trải, có vốn sống, có tri thức, có tay nghề vững là viết được câu thơ hội tụ được các mạch vỉa văn hóa, lịch sử đặc trưng vùng đất. Chính sự nhập hồn của tác giả vào cái linh thiêng, linh khí đầy tâm linh nên ngòi bút được mách bảo để kết tụ các yếu tố đẹp nhất hòa quện giữa con người, vùng đất, lịch sử và thời đại một cách linh diệu. Không phải ngẫu nhiên nhà thơ Nguyễn Ngọc Phú mở đầu Trường ca Đồng Lộc bằng câu thơ có vẻ đẹp và tầm vóc tổng phổ ấy. Về hình thức, hoa mua là loài hoa tự nhiên, biểu hiện sức sống kiên cường, dẻo dai, bền bỉ trước thiên nhiên, bất khuất trước bom đạn trên vùng đất Ngã Ba Đồng Lộc.

Trong Trường ca, hoa mua là hiện thân của mười cô gái Thanh niên xung phong (TNXP) phá bom, san lấp hố bom, mở đường dưới mưa bom bão đạn của giặc Mỹ, đỉnh điểm trong những năm 1965-1972 cho những đoàn quân, những đoàn xe ra tiền tuyến. Hoa mua, hương sắc hoa mua chính là hình ảnh các chị, linh hồn các chị. Các chị đẹp như màu hoa tím bất tận của Đồng Lộc. Chỉ có lý giải theo chiều hướng ấy ta mới tiếp cận gần hơn vì sao Nguyễn Ngọc Phú mở đầu Trường ca bằng Chương I “Hồi ức hoa mua”. Không tái hiện bom đạn, không tái hiện vất vả thiếu thốn, hiểm nguy, Nguyễn Ngọc Phú tái hiện một vùng quê nghèo khó đầy nỗi niềm “Trời thổi rỗng tháng ba ngày giáp hạt/ Hoa sầu đông nhợt nhạt nước da xanh”/…/ “Xếp vạt áo vào sau lá cọ/ Khép chân trời âm ỉ những cơn giông”. Sinh ra trên vùng đất khốc liệt “Củ khoai vùi sượng cả mùa đông”, hơn ai hết, ông hiểu cái giá làm người, cái thử thách ý chí, nghị lực con người, tôi luyện trong cam go để tồn tại, để vượt lên số phận, chiến thắng số phận, chiến thắng hoàn cảnh khẳng định mình: “Tuổi thơ em quăng quật gió lào/ Áo khô cứng như bánh đa đem nướng/ Những cành mua nắng táp (“nắng táp”- chữ của NMK) giữa đồi cao”. Các chị sinh ra và lớn lên trên mảnh đất “Câu ví dặm chắt từ trong bão cát”… “Châu chấu cào cào nhịp chày giã trấu/ Bài thuộc lòng quay chong chóng cối xay”, được nuôi dưỡng bằng tinh chất của cát, đá, sỏi, bão giông và nắng cháy của “Truông Bát, Khe Giao, Bãi Vọt, Cầu treo/ Những cái tên mang dáng người tất bật” … “Gió Lào thổi cong cả mái chùa làng”. Khi vào TNXP, các chị lại bám trụ ngay trên mảnh đất “Đồng Lộc chỉ toàn đá sỏi/ Con bò già thèm cỏ nhấm vào mưa/ Tóc con gái he vàng khét nắng”. Các chị đến đây đương đầu với mưa bom bão đạn khi tuổi mười tám đôi mươi. Độ tuổi ấy đang tràn căng sức sống, tràn căng mơ ước, tràn căng khát vọng, tràn căng tình yêu đôi lứa và tình yêu cuộc sống. Tất cả sức trẻ, sức khỏe, tràn căng khát vọng và mơ ước ấy các chị đã hiến dâng trọn vẹn cho Đồng Lộc, cho cuộc chiến đấu và chiến thắng. Với cách lý giải ấy, các chị không bao giờ chết. Các chị đi vào cõi bất tử. Chính vì vậy tác giả vẫn dành những câu thơ đẹp nhất cho các chị “Em hong tóc trước thềm giàn giụa ánh trăng quê”. Các chị lung linh trong màu hoa tím của Đồng Lộc, của quê hương Hà Tĩnh.

Điều khẳng định được là, Trường ca Đồng Lộc viết về cái ác liệt, viết về sự hy sinh của mười cô TNXP ở Ngã Ba Đồng Lộc. Ấy thế mà đọc toàn bộ Trường ca, cái cảm giác hy sinh, cái cảm giác đau thương, mất mát không chi phối người đọc nặng nề. Thay vào đó, cái cảm giác các chị đang sống, đang làm việc, đang cười nói lại hiện hữu trước mắt chúng ta, trong tâm tưởng chúng ta. Các chị sống như thế, mãnh liệt như thế, can trường như thế, dũng cảm như thế, yêu đời như thế, trẻ trung như thế, đẹp như thế, các chị chết làm sao được? Các chị không thể chết. Các chị còn mãi với gia đình, với quê hương, với mẹ, với con đường, với đồng đội. Cái triết lý giàu chất tâm linh, đậm chất nhân sinh, đầy chất nhân văn ấy được thể hiện sâu sắc qua bút pháp trữ tình ấn tượng của nhà thơ Nguyễn Ngọc Phú. Ông nói về cái chết, cái mất mát, cái hy sinh, cái đứt gan đứt ruột nhưng không bi lụy, không tan vỡ. Ông nhìn thấy trong cái tan vỡ có cái hội tụ, nhìn thấy trong cái không còn có cái vĩnh cửu, cái lụi tàn có cái sinh nở, cái mới. Chính vì thế, Chương II, với tiêu đề Hy sinh nhưng ta đọc lại thấy các chị đang sống, sống sinh động hơn bao giờ hết. Các chị là “Hạt thóc nằm ngủ ngon/ Trên những tấm ni lông phơi vội vã/ Quần sắn gối lấm bụi đường đỏ quạch/ Hạt thóc nằm mơ mùa vàng thao thức/ Hạt thóc nằm mơ cổ tích/ Nở ra bao nhiêu điều lạ”. Từ “mười”- Tức mười cô gái Đồng Lộc được lập đi lập lại nhiều lần như mười nốt nhạc, âm chủ của Trường ca âm vang trong lòng người đọc. Cái day dứt, cái bi thương thì ít mà khẳng định cái hiện hữu, cái bất tử trong tâm khảm người đọc thì nhiều. Hình ảnh “Tiểu đội 10 cô gái” hay biến thể thành “tiểu đội 10 người” thì từ “mười” ở đâu cũng là hạt nhân, là lõi cho một cấu trúc câu hoặc cho cách lập ý của cả một đoạn thơ. Tôi chưa bắt gặp trường hợp nào, trong một chương của Trường ca mà một từ, một cụm từ được tác giả sử dụng với mật độ dáy đến thế. Nguyễn Ngọc Phú viết: “Tiểu đội 10 cô gái/ Mười ngón tay đan vào nhau/ Vương vương 10 mái tóc/ Vương vương 10 khuôn mặt”… “Tiểu đội 10 người/ Mười chiếc bát ăn cơm/ Mười chiếc bát như mười phím đàn…Mười chiếc bát mười bông hoa loa kèn/ Mười đôi đũa xếp hàng như đội ngũ”… “Tiểu đội 10 người/ Mười miền quê cùng chung giọng nói/ …/ Tiểu đội 10 người/ Mười con cò nón trắng/…/ Mười ngôi sao không đêm nào ngủ/…/ Chia đủ mười chiếc lược/…/ Mười chiếc áo/…/ Mười tâm tình chung niềm vui để ngỏ/…Mười cô gái trinh nguyên/…/ Chúng con mười chị em/…/ Mười cọc tiêu bên hố bom chờ nổ/ Mười dáng thắt lưng ong/…/ Mười vắt cơm mở ra/…/ Mười bi đông nước/…/ Mười nón trắng bay lên/ Mười vạt áo bay lên”. Mười người, mười cô gái hay mười linh hồn ấy được điệp lại 25 lần! 25 câu thơ. Sẽ có ý kiến cho rằng tác giả quá lạm dụng cách khai thác này để mở rộng biên độ cảm xúc nhưng lại không mở rộng được biên độ chữ. Những liên tưởng, những khoảng lặng tư duy không được lan tỏa nhiều cửa, nhiều nhánh. Thế mạnh của thủ pháp này là từ một hình ảnh, tác giả có thể kích hoạt tăng thêm nhiều khổ thơ kế tiếp mà không sợ đứt gãy tư duy, không sợ “lạc lối”. Nếu khai thác quá đà, ý tứ dễ trùng lặp không tạo ra bước đột phá. Chắc Nguyễn Ngọc phú quá rõ điều đó. Việc cố tình lặp đi lặp lại nhiều lần từ “mười”, tổ hợp từ “mười cô”, “tiểu đội mười người” là một chủ định rất rõ của tác giả. Ngày xưa, ngày nay, ngày sau, lúc nào Ngã Ba Đồng Lộc, lúc nào trong lòng những người còn sống cũng hiển hiện mười người con gái trung trinh, kiên cường của Hà Tĩnh. Các chị vẫn sống, vẫn chiến đấu. Hàng loạt câu thơ đã mô phỏng lại công việc của các chị chứng minh cho chủ định ấy. “Nào cuốc/ Nào choòng/ Sấp ngửa/ Ngổn ngang dọc dáng người/ Xe cút kít lách qua tháng bảy”/…/ Chú ý ngã ba/ còn nhiều bom nổ chậm”/…/ “Chú ý bom từ trường”/…/ “Chú ý bom tọa độ”; các chị vẫn hát, vẫn lãng mạn “Mười chiếc bát như mười phím đàn/ Em có thể gõ/ Và hát bâng quơ”. Ta vẫn nghe tiếng các chị đùa vui tinh nghịch “Quê choa nhiều khoai lang”/…/”Quê mi bên sông Cụt”.

Đây cũng là một cách tư duy mới về nghệ thuật viết Trường ca của Nguyễn Ngọc Phú. Xét các yếu tố trường ca, trường ca của ông có nhân vật, có sự kiện, có “cái anh hùng”, có hoàn cảnh điển hình, có các yếu tố điển hình nhưng ông lại chọn cách thể hiện “cái anh hùng” qua ngôn ngữ trữ tình. Ông đưa các nhân vật anh hùng, đưa”cái anh hùng” xúc cảm, trữ tình. Nói cách khác, hình ảnh trong trường ca, cái anh hùng trong trường ca là hình ảnh của cảm xúc. Rất nhiều các Trường ca đương đại của các tác giả nổi tiếng như trường ca “Đường tới thành phố” của Hữu Thỉnh, “Trường ca sông Mê Kông bốn mặt” của Anh Ngọc, “Đất nước hình tia chớp” của Trần Mạnh Hảo cũng chọn thi pháp này. Nguyễn Ngọc Phú không hoàn toàn triệt tiêu sử dụng nghệ thuật Trường ca cổ điển. Dù không thành mạch vỉa kể chuyện lớp lang, tạo dựng tính cách, tạo dựng hình tượng, đôi chỗ ông vẫn vận dụng chọn bút pháp cũ: “Bữa cơm một mâm tròn/ Cả tiểu dội xúm quanh/ Một chiếc dù pháo sáng/ Chia đều 10 tấm khăn” hay “Cái Hợi hay cười ? Cái Xuân hay dỗi/ Lúm đồng tiền cũng muốn chia đôi/ Lúm đồng tiền lấp dần thời son trẻ”. Ông tập trung vào tâm trạng, nỗi niềm, thông cảm và chia sẻ: “Mười cô gái cũng khát khao làm mẹ/ Khát khao làm vợ/ Khát khao nhớ/ Khát khao thương/ Khát khao một tấm ngực trần/ Một giọng đàn ông/ Vuốt ve mái tóc”. Những khoảnh khắc ấy, ông thể hiện được cái chất “rất người” của các chị: “Đôi lúc ngồi nói một mình/ Đôi lúc muốn thét lên thật to/ Cho ngã ba âm âm vọng lại/ Rằng: Chúng tôi vẫn còn thời con gái/ Sao có lúc bần thần chẳng lẽ hóa con trai”. Đó là tiếng nói, tiếng thét, tiếng vọng của bản năng sống, khát khao hạnh phúc. Nguyễn Ngọc Phú tránh được cái anh hùng hóa, thi ca hóa, tôn thờ hóa các nhân vật anh hùng. Đau quá, thương quá, không kìm nén được rung động của trái tim thì nhà thơ chỉ thốt lên: “Tần ơi!/ Hà ơi!/ Cúc ơi!”…rồi nghẹn lại.

Không phải các chị mơ. Chính chúng ta mơ. Ta mơ ước các chị vẫn đi giữa đời thường, sống giữa đời thường tuổi mười tám đôi mươi tròn căng sức sống. Chúng ta mơ không phải chỉ có chị Võ Thị Tần viết thư cho mẹ. Chị Rạng, chị Xuân, chị Xanh, chị Hợi, chị Cúc… đều đang ngồi viết thư cho mẹ “Mẹ ơi, mẹ đừng lo/ Con gái mẹ không còn bé nhỏ/ Đêm chúng con san đường/ Có pháo sáng quân thù soi tỏ/ Ngày chúng ném bom xuống sông/ Bữa ăn chúng con cải thiện”. Không phải chỉ có chị Hà hồn nhiên nhí nhảnh nhảy “lò cò chân sáo”. Tất cả các chị, những “người con gái có dáng người tròn lẳn/ Mái tóc dài không chuốt hết lời yêu” đều hồn nhiên vui vẻ nhảy “lò cò chân sáo”. “Đồng Lộc mang giấc mơ hoa tím”. Tác giả mang giấc mơ hoa tím. Người đọc mang giấc mơ hoa tím.

9.9.2014

Nguyễn Minh Khiêm

 

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác