Diễn từ tại lễ trao giải văn hoá Phan Châu Trinh

Với mục đích trước mắt là phát hiện, tôn vinh, khuyến khích và phổ biến những công trình, tác phẩm có giá trị và ý nghĩa xã hội sâu sắc trên 4 lĩnh vực giáo dục, dịch thuật, nghiên cứu, Việt Nam học, Giải thưởng văn hoá Phan Châu Trinh lần thứ 3 được trao cho các tác giả: GS.TS Hồ Ngọc Đại, dịch giả Phạm Vĩnh Cư, dịch giả Lê Anh Minh, nhà thơ- nhà nghiên cứu Inrasara và nhà dân tộc học người Pháp Georges Condominas. Báo điện tử Tổ Quốc xin giới thiệu Diễn từ của dịch giả Phạm Vĩnh Cư tại lễ trao giải ngày 24/3 vừa qua.


Hà Nội, ngày 24/3/2010

Diễn từ tại lễ trao giải văn hoá Phan Châu Trinh  - ảnh 1Kính thưa Quý vị

Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn Hội đồng khoa học Qũy Văn hoá Phan Châu Trinh đã quyết định trao tặng tôi giải thưởng văn hoá Phan Châu Trinh về lĩnh vực dịch thuật, cám ơn các nhà phản biện đã thẩm định công tâm công trình dịch thuật lớn nhất và gần đây nhất của tôi, mà vì nó tôi có được vinh dự được nhận giải thưởng này- sách “Siêu lý tình yêu. Những tác phẩm triết - mỹ chọn lọc” của triết gia Nga Vladimir Soloviev do NXB Văn hoá Thông tin và Trung tâm văn hoá ngôn ngữ Đông Tây ấn hành.

Mười năm trước đây, khi tôi bắt đầu dịch Soloviev ra tiếng Việt, tôi không thể ngờ rằng một ngày nào đó công việc của tôi sẽ được công luận nước ta thừa nhận và đánh giá cao đến thế. Hồi ấy tôi chỉ nghe theo một thôi thúc nội tâm không thể cưỡng lại: chia sẻ với bạn bè và đồng nghiệp một thu hoạch tinh thần lớn nhất, sâu sắc nhất của mình trong thập kỷ vừa qua, nó cũng là thập kỷ cuối cùng của thế kỷ XX đầy những biến động long trời lở đất trong lịch sử dân tộc và nhân loại. Thu hoạch lớn ấy chính là triết học Soloviev.

Ông đã giải đáp cho tôi rất nhiều câu hỏi, thắc mắc đeo đuổi tôi từ khi biết suy nghĩ mà những giải đáp ấy tôi không tìm ra được trong trước tác của các nhà tư tưởng khác mà tôi đã đọc trước đó. Đấy là những giải pháp về ý nghĩa của sự tồn tại con người và thế giới, ý nghĩa của lịch sử nhân loại và số phận của từng cá nhân con người, những năng lực và hạn chế bản thể của con người, quan hệ cần có giữa trí tuệ, trí thức và đức tin, nguồn gốc và bản chất của cái thiện và cái ác và một loạt vấn đề hệ trọng khác mà mỗi một con người, dù sống ở đâu và trong thời đại nào, không thể không vật vã suy nghĩ, nhưng với sức lực hữu hạn của mình, nếu không gặp gỡ những trí tuệ lớn, nếu không tìm được cho mình những người hướng đạo tinh thần tương thích thì sẽ chẳng bao giờ giác ngộ, sẽ sống suốt đời trong bế tắc và mông lung tâm trí. Tiếp thụ triết học Soloviev và cảm thấy mình được khải ngộ, thoát khỏi ngõ cụt tinh thần, tôi thấy cần giới thiệu Soloviev với đồng bào của mình.

Giải thưởng này càng cao quý với tôi vì nó mang tên một nhà trí thức, nhà tư tưởng kiệt xuất của dân tộc ta mà tôi hằng ngưỡng mộ - Phan Châu Trinh. Liên hệ, đối sánh Phan Châu Trinh với Vladimir Soloviev, tôi bất ngờ nhận ra hơn một nét tương đồng, hơn một điểm gần gũi giữa hai trí tuệ lớn và hai lương tâm lớn này, xin được nói qua chỉ về một điểm: cả Soloviev lẫn Phan Châu Trinh đều cho chúng ta những tấm gương sáng không phai mờ về chủ nghĩa yêu nước đích thực. Cả hai người đều yêu đất nước mình, dân tộc mình bằng một tình yêu nồng cháy thuỷ chung, song lại nghiêm khắc, tỉnh táo và sáng suốt lạ lùng. Trái ngược với tình ái quốc mù quáng, lười suy nghĩ và đối lập có ý thức với chủ nghĩa mị dân, mị tộc vụ lợi ngự trị khắp nơi và trong mọi thời đại, cả hai nhà tư tưởng đều phê phán không khoan nhượng, vạch trần không thương xót những khuyết tật tinh thần của dấn tộc mình, những mặt thấp kém trong tâm thức, đời sống, ứng xử của đồng bào mình, xem đó là những vết nhơ trên gương mặt quốc gia, những ung nhọt đe doạ vận mệnh dân tộc. Sự tự phê phán dân tộc được cả Soloviev lẫn Phan Châu Trinh tiến hành trong suốt cuộc đời hoạt động của họ, bất chấp mọi khó khăn chướng ngại. Soloviev viết trong lời tựa cho sách “Vấn đề dân tộc ở Nga”: “Vấn đề dân tộc đối với nhiều dân tộc là vấn đề sự tồn tại của họ. Ở Nga không có vấn đề như thế. Bằng sự nghiệp lịch sử ngàn năm, nước Nga đã tự khẳng định như một cường quốc thống nhất, độc lập. Nhưng nước Nga càng tồn tại hùng cường bao nhiêu, thì một câu hỏi xuất hiện càng bức thiết bấy nhiêu: Vậy nó tồn tại để làm gì và vì cái gì? Vấn đề không phải về sự tồn tại, mà là về sự tồn tại xứng đáng (Soloviev nhấn- P.V.C)”. Dưới góc độ sự tồn tại xứng đáng ấy, Soloviev tố giác, phê phán quyết liệt những tệ nạn trong đời sống Nga, những chứng bệnh ấp ủ trong tâm thức Nga mà nếu không được chữa trị sẽ trở nên nguy hại đến tiền đồ của nước Nga vĩ đại. Hôm nay, dưới ánh sáng lịch sử Nga trong thế kỷ XX nhiều người Nga, đọc lại những trang viết cũ của Soloviev, ngậm ngùi sám hối vì dân tộc đã không nghe theo tiếng nói của nhà hiền triết tiên tri của họ.

Đối chiếu vơi các tư trào ở Việt Nam ta trong nửa đầu thế kỷ XX, có thể thấy rằng trong những cách thức tự phê bình dân tộc mà các nhà tri thức Việt Nam yêu nước đã thực thi, cách tự phê bình dân tộc của Phan Châu Trinh gần với Soloviev hơn cả. Mũi nhọn của sự phê bình ấy chĩa vào không chỉ những gì cản trở trực tiếp công cuộc đánh đuổi ngoại xâm, giành lại độc lập dân tộc, mà còn và chủ yếu nhắm vào những gì kìm hãm sự tiến bộ lâu dài của nòi giống, sự mở mày mở mặt với thế giới không thể đạt được trong chốc lát, hay là, dùng ngôn ngữ của Soloviev, sự trường tồn xứng đáng của dân tộc Việt Nam trong cộng đồng nhân loại. Thước đo thế giới đã sớm được tư duy Phan Châu Trinh tiếp nhận và dùng để đánh giá những hiện tượng quốc gia - dân tộc. Óc minh triết đáng khâm phục đã giúp ông cùng với các chí sĩ yêu nước khác vạch ra cương lĩnh hành động với thứ tự ưu tiên “Chấn dân khí - Khai dân trí - Hậu dân sinh” (hãy so với khẩu hiệu của chúng ta ngày nay, mà trong đó “Dân giàu” đi trước hết, “văn minh” đi sau cùng!). Xung quanh vấn đề văn minh, cũng nên nhớ lại rằng từ đầu thế kỷ trước những người tri thức Việt Nam yêu nước đã biết phân biệt rạch ròi “văn minh vỏ” với “văn minh ruột”, “nguỵ văn minh” với “chân văn minh”. Thế nào là “chân văn minh”, Phan Châu Trinh đã phân tích khá kỹ trong bài diễn thuyết “Đạo đức và luân lý Đông Tây” xứng đáng được xem là di chúc tinh thần của ông. “Chân văn minh” là thế giới của trí tuệ, của tự do, của dân chủ và đặc biệt quan trọng là của cái mà cụ Phan Tây Hồ gọi là “xã hội luân lý”. Theo cụ, “xã hội luân lý” là bậc phát triển cao nhất của luân lý con người, mà muốn đạt tới nó, phải kinh qua những bậc phát triển thấp hơn: “gia đình luân lý”, rồi “quốc gia luân lý”. Không ngại làm mất lòng đồng bào cả nước đang lắng nghe tiếng nói của cụ, cụ Phan mấy tháng trước khi qua đời vẫn một mực khẳng định rằng người Việt chúng ta mới chỉ có luân lý gia đình, chứ chưa có được luân lý quốc gia (Một câu hỏi đáng đặt ra: nhận định ấy còn mang tính thời sự hay không hôm nay?) Thế còn luân lý xã hội thì dân tộc ta còn phải đuổi kịp các nước tiên tiến thì mới có cơ xây dựng để cùng tồn tại với họ trong một thế giới chân văn minh, Đông Tây hội nhập. Cái “xã hội luân lý” ấy ngày nay ta gọi là luân lý toàn nhân loại, dựa trên những quyền và nghĩa vụ phổ biến của mọi người không phân biệt quốc gia, chủng tộc, giai cấp… Luân lý ấy, đạo đức của xã hội loài người chân chính ấy chưa được thực hiện trọn vẹn ở đâu trên thế giới này, nhưng về nó, về những con đường thực hiện nó Phan Châu Trinh của chúng ta đã suy ngẫm, đã chiêm nghiệm nhiều một thế kỷ trước đây và những suy ngẫm, chiêm nghiệm ấy hôm nay rất đáng được chúng ta thấu triệt và tiếp tục xem trên cơ sở mới của những tri thức và kinh nghiệm xương máu của dân tộc ta và thế giới trong một trăm năm qua.

Xin mượn dịp phát biểu rất ngắn về một con đường mà Phan Châu Trinh cùng những người yêu nước Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX chưa chú trọng thoả đáng - con đường phát triển cá nhấn. Thuật ngữ “cá nhân” hình như chưa có trong từ vựng của Phan Châu Trinh, mặc dù chính cụ là một cá nhân lớn, một Ngã Thể thực thụ đáng để chúng ta học tập trong những nỗ lực hun đúc, phát triển những cá nhân, những Ngã Thể chân chính- chỉ có những con người như thế mới là những thành viên của xã hội Việt Nam chân chính. Trong vấn đề này, triết gia Nga Soloviev đã đi trước và đi xa hơn nhà chí sĩ Việt Nam Phan Châu Trinh. Căm ghét không kém các nhà nho yêu nước của chúng ta cái cá nhân thấp kém, tự tư tự lợi mù quáng, Soloviev suốt đời nhiệt thành cổ vũ cho sự phát triển của cá nhân đích thực được hiểu như là những nhân cách tự do, có phẩm giá nội tại không thể tước bỏ, độc lập tư duy và tự hành động đảm trách - kiểu cá nhân ấy theo ông chưa được phổ biến ở Nga và đấy là nét thua kém của nó so với các xã hội Tây Âu. Soloviev viết về quan hệ cá nhân và xã hội: “Xã hội chân chính là hậu thuẫn và cái bổ sung, chứ không phải là giới hạn cho đời sống cá nhân; có cá nhân chân chính, có nội dung lý tưởng, tự chủ và tự hoạt động, không thể là thành tố phân huỷ hay phá hoại cơ thể xã hội lành mạnh; nó là cái khởi nguyên cấu thành xã hội loài người thực thụ. Trong lý tưởng, xã hội là thể sung mãn của đời sống cá nhân, là thể thống nhất tự do được quy định từ bên trong hay là sự hoà hợp hoàn hảo của tất cả các thành tố cá nhân. Còn trong thực tại phi lý tưởng của chúng ta thì xã hội là môi trường sống uyển chuyển, đổ đúc những nhân cách yếu vào khuôn hình hiện hữu xác định, nhưng lại thúc đẩy những nhân cách mạnh phản đối đấu tranh, và chính điều này dẫn đến sự thay đổi cái môi trường ấy, sự nâng cao trình độ của nó, tức là sự tiến bộ xã hội, sự thực hiện từng bước lý tưởng nhân sinh”. Trong sáng tác của Soloviev và của nhiều nhà tư tưởng Âu - Mỹ lỗi lạc khác, có thể tìm thấy nhiều chỉ dẫn và gợi mở quý báu cho sự phát triển cá nhân, cho sự điều hành quan hệ, giải quyết những mâu thuẫn giữa cá nhân và xã hội, chính vì thế mà việc dịch thuật và quảng bá những trước tác của họ rất đáng được xã hội và nhà nước Việt Nam cổ lệ và trợ giúp, vì lợi ích trước mắt và lâu dài của dân tộc.

Xin cám ơn sự chú ý của các Qúy vị.

 

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác