Điện Biên nhìn từ thơ


(Toquoc)- Chẳng phải ngẫu nhiên mà thơ là tiếng nói khúc triết nhất bằng những biểu tượng. Có được điều đó là bởi cảm xúc thi ca có quyền năng đưa những tuyệt đỉnh tưởng như xa xôi về đặt bên nhau, cùng hội ngộ trong một trang thơ. Điều ấy lại càng sáng rõ thêm khi thơ ca đồng hành cùng cuộc kháng chiến, khi những chiến công được đan dệt bằng lòng yêu quê hương thuần phác: Ngày kia tôi sẽ đến/ Lại cầm súng được ngay/ Tôi càng bắn đúng Tây/ Vì tay có hơi vợ (Nhớ vợ- Cầm Vĩnh Ui). Là khi cái thiêng liêng của hồn sông núi thấm đẫm trong ước mơ bình dị của những hình ảnh: Chen nhau qua chiếc cầu xinh mới bắc/ dập dìu tự mùa bướm đua bay/ mừng hoa ban, buổi vừa giải phóng/ xe đạp anh lượn bánh từ phố chợ thẳng đến chân thang/ Chân thang em có trường mới dựng (Cầu vào bản- Cầm Biêu). Từ sức gợi như một “phản ứng nhiệt hạnh” của những tín hiệu thẩm mĩ ấy, người đọc bị lôi cuốn vào cuộc kiếm tìm cội nguồn của mảng thi ca này để trả lời cho những thắc mắc: Đâu là cội nguồn của niềm cảm hứng lạc quan cách mạng? Đâu là cái hồn vía Tây Bắc đã truyền lửa cho những chiến công ấy? Và câu trả lời thật giản đơn: Hãy nhìn vào chiến thắng Điện Biên- áng sử thi có thật bằng xương máu, nơi bộc lộ đầy đủ nhất phẩm chất của con người Tây Bắc.

 

Từ một Điện Biên Phủ kì tích…

Kể từ khi đức vua Thiệu Trị lập ra Điện Biên Phủ, ước vọng về một miền biên viễn vững vàng được gửi gắm trong tên gọi đã trở thành sức vóc và khí phách của vùng đất này. Nơi mà dân lành tụ về, xua tan họa binh đao, giữ yên bờ cõi. Chẳng thế mà ngay cả trong kháng chiến ta vẫn nhận ra vẻ đẹp nguyên sơ và mĩ lệ:

Sao đặc trời sao ngợp đỉnh Pha Đin.

Như thóc giống người Mông phơi trên rẫy.

Ôi nắm xôi nuôi quân từ thuở ấy!

Mùi nếp thơm còn dậy đến bây giờ?

(Nguyễn Đình Chiến)

Và đến cả trong đêm vui tin thắng trận cũng là cảnh những chiến binh trong vóc dáng chiến sĩ cưỡi trên mình ngựa băng trên dốc núi như mang trong mình dũng khí của Phù Đổng, ánh đuốc như vệt sao băng:

Tin về nửa đêm

Hỏa tốc hỏa tốc

Ngựa bay lên dốc

Đuốc chạy sáng rừng

Chuông reo tin mừng

Loa kêu từng cửa

Làng bản đỏ đèn, đỏ lửa...

(Hoan hô chiến sĩ Điện Biên- Tố Hữu)

Những câu thơ tái hiện lại một xã hội thời chiến đơn sơ mà nghiêm trang thần thánh. Nửa đêm nghe tiếng chân giao liên báo tin vui, tin vui đến tưởng như trong mơ làm bừng sáng cả một vùng rừng núi. Phải cảm nhận bằng tâm thế ấy mới thấy hết được giá trị sống của con người nơi địa đầu tổ quốc có tiếng gà gáy sáng ba nước cùng nghe, nơi con sông thiêng đổ vào đất Việt. Để rồi, mảnh đất này thành nơi hội tụ của những người anh hùng. Đất nước nhìn từ cuộc kháng chiến đâu chỉ là đất của vua chúa, tứ dân mà là tầng tầng, lớp lớp những lực lượng, tựa như những lớp lang của một chủ nghĩa yêu nước dày dặn, sâu sắc. Nào là những người dân công âm thầm:

Và những chị, những anh

Ngày đêm ra tiền tuyến

Mấy tầng mây gió lớn mưa to

Dốc Pha Đin, chị gánh anh thồ

Đèo Lũng Lô, anh hò chị hát.

(Hoan hô chiến sĩ Điện Biên- Tố Hữu)

Những dốc ấy, đèo ấy đâu còn là nơi quạnh vắng, tiêu sơ hay rợn ngợp mà đã được đặt lại tên khi đã bị những bàn chân trẻ trung chinh phục, bị tuổi xuân ngự trị và thiết lập một tầm vóc mới: tầm vóc của thế hệ Hồ Chí Minh. Để rồi, từ tuyến đầu, những chiến sĩ Điện Biên đã cảm nhận điều đó bằng quyết tâm chiến thắng, bằng tráng trí hun đúc từ truyền thống dân tộc:

Năm mươi sáu ngày đêm khoét núi,

ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt

Máu trộn bùn non

Gan không núng

Chí không mòn!

(Hoan hô chiến sĩ Điện Biên- Tố Hữu)

Chiến thắng Điện Biên Phủ đọng lại trong cảm quan của con người thời bình ở vẻ đẹp. Một giá trị hợp nhất mọi phạm trù cao cả, trác tuyệt, chủ nghĩa anh hùng cách mạng, chủ nghĩa yêu nước… Đẹp vì chiến thắng bằng sức mạnh của vũ khi thô sơ, trang phục, cốt cách chất phác và còn đẹp ở cả sự phản ánh chân thực của những câu thơ. Câu thơ cũng như người lính chưa trau truốt, hoa mĩ mà thật như sự thật ở đời:

Năm mươi sáu ngày đêm bom gầm pháo giội,

Ta mới hiểu thế nào là đồng đội.

Đồng đội ta

là hớp nước uống chung

Nắm cơm bẻ nửa

Là chia nhau một trưa nắng, một chiều mưa

(Giá từng thước đất- Chính Hữu)

Là nhà thơ tư duy về chủ nghĩa anh hùng cách mạng bằng sự gắn kết chặt chẽ, tường minh của những khái niệm đồng chí rồi đồng đội. Giọng thơ triết luận của Chính Hữu đã đưa những tượng trưng hiện thực vượt qua những ước lệ, thổi phồng thường thấy để đạt đến chân giá trị. “Hớp nước uống chung”; “nắm cơm bẻ nửa”; “trưa nắng”, “chiều mưa” nó cứ thật đến nỗi 60 năm sau còn thấy tự hào. Và minh triết hơn tất cả mọi quan niệm là bóng hình, là tư thế, vị trí của từng người chiến binh anh hùng như vẫn mãi đâu đây:

Bạn ta đó

Ngã trên dây thép ba tầng

Một bàn tay chưa rời báng súng,

Chân lưng chừng nửa bước xung phong.

Ôi những con người mỗi khi nằm xuống

Vẫn nằm trong tư thế tiến công!

Bên trái: Lò Văn Sự

Bên phải: Nguyễn Đình Ba,

Những đêm tiến công, những ngày phòng ngự,

Có phải các anh vẫn còn đủ cả

Trong đội hình đại đội chúng ta ?

Và còn đây là một tượng đại bằng thi ca khác:

Tô Vĩnh Diện

Bế Văn Đàn…

Những cái tên thật đơn sơ giản dị

Những người anh từ biển sông xa sóng đổ cát bồi

Từ những xóm trung du, những bản làng dốc núi

Từ trăm nẻo đất quê mang hờn căm nhức nhối

Đã hành quân lên

Không có ngày về.

(Vũ Cao)

Điện Biên Phủ của lịch sử mãi mãi sẽ cụ thể, bất khuất bằng những chiến công khắc sâu vào kí ức dân tộc. Đơn giản, mộc mạc là xả thân vì Tổ quốc, bình dị mà thiêng liêng như máu xương.

 

… đến một Điện Biên Phủ trong thơ hôm nay

Nhớ về Điện Biên Phủ hôm nay không chỉ còn là những thước phim hồi ức. Trải qua một khoảng thời gian lắng đọng đủ để mỗi người dân Việt Nam suy cảm, chiêm nghiệm bằng một cách riêng của mình. Đã thấy chiến trường xưa khốc liệt giờ đã nhường nhỗ cho sự hồi sinh quyết liệt của sức sống mới:

Sân bay đất lật ngửa lên

Hầm pháo nặng thành hố phân xanh

Con chim bạt ngàn ngày xuân nọ

Trở về nở trứng giữa chân ruộng mạ

Khu trục gỉ cánh quạt chìm dần

Sóng lúa Hồng Cúm vồng ngọn cao

Nông trang khắc thâu

Mõ trâu

(Giăng liềm - Nguyễn Tuân)

Tình cảm ấy lại được ứng chiếu với nhân cách, tài năng và đức độ của vị đại tướng Võ Nguyên Giáp một huyền thoại sống. Để rồi khi “Thánh Gióng về trời, Thánh Giáp về quê” (Nguyễn Trọng Tạo), nhận thức về Điện Biên Phủ lại được nâng lên một tầm cao mới. Thế hệ hôm nay chợt nhận ra sức mạnh tinh thần của quá khứ đâu phải chỉ là quyết tâm tải lương, kéo pháo, công đồn…mà là cuộc chiến trong nội tâm: vượt qua cái lợi ích cá nhân, qua thói thường để đạt tới cái phi thường, để không hổ thẹn với nhân cách. Một khi đã vững vàng như thế, nhà thơ hôm nay sẵn sàng mượn cái tứ của chiến chinh xưa để giãi bày những nỗi niềm thế sự hôm nay:

Hò dô ta nào!

Cái dây tời các anh choãi chân đứng kéo

Bây giờ vẫn căng

 

Vịn vào tiếng hò xưa

Chúng tôi nắm những dây tời mới

Kéo qua mỗi ngày thường

Những vất vả nhọc nhằn chưa hết

Bao đỉnh cao mù sương

Trong lòng người

Phải vượt.

(Hò dô ta nào- Vũ Quần Phương)

Nhận thức ấy như là sự tự vấn trong nội tâm. Đời thường không có ngoại xâm, bọm đạn nhưng còn biết bao ngại ngần, hiềm nghi, đố kị, tự huyễn còn u ám, mờ hồ tâm hồn ta. Xưa kéo pháo vào chiến dịch có ngày có tháng, năm mươi sau ngày đêm kiên gan “khoét núi ngủ hầm, mưa rầm, cơm vắt” rồi vùng lên bằng cờ đỏ sao vàng trên nóc hầm Đờ- cát. Còn sự nhọc nhằn để vượt lên chính mình, chạm tay tới chân giá trị thì miên man, bất tận như những ngày thường.

Sẽ còn sớm để đưa ra một sự tổng kết với những cảm xúc viết về Điện Biên Phủ trong thơ. Cũng như sẽ vẫn còn là sơ lược khi phác thảo một chân dung ấy trong thi ca. Chỉ biết rằng dù đã dày dặn bằng một ấn tượng kì vĩ hay đơn sơ như nét phác họa thì Điện Biên Phủ nhìn từ thơ ca Việt Nam hiện đại vẫn rất gần gũi. Nó giống như một câu trả lời quen thuộc: những gì đã là chân giá trị thì ắt sẽ thành thơ.

Bùi Việt Phương

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác