Đi tìm những gương mặt tiêu biểu của văn học đổi mới

Phong Lê

Ai hỏi tôi về thành tựu của văn học trong 20 năm đổi mới, tôi sẽ trả lời ngay, không ngần ngại: nhiều, rất nhiều.

Trên tất cả các phương tiện của đề tài và chất liệu, của tư tưởng và ý tưởng, của cách nghĩ và cách viết… Nhất là cách viết. Bây giờ, câu chuyện “Viết như thế nào?” đang nổi lên hàng đầu thay cho câu chuyện ‘Viết cho ai?” và “Viết để làm gì?” của nhiều chục năm trước đây. Chỉ riêng cách viết đã là một đề tài thú vị.

Thế nhưng cách viết, dẫu có quan trọng đến mấy cũng không phải, hoặc không thể là toàn bộ các yếu tố làm nên sự đổi mới văn học đã có một độ dài đến 20 năm. Lại là 20 năm trong Đổi mới.

Nói “bàn giao” là nói đến thế hệ chủ công, chịu trách nhiệm chính đối với lịch sử. Từ những cuộc “bàn giao” ấy mà chúng ta có được những mùa màng văn chương rất ấn tượng, như mùa màng 1930-1945, mùa màng 1960-1975, và mùa màng tiền Đổi mới, sau 1980… Thế nhưng nói như vậy, không có nghĩa là phủ nhận hoặc coi nhẹ những thế hệ đến trước, khi họ vẫn tiếp tục là người đồng hành, bởi quy luật kế thừa của văn chương - nghệ thuật là thế. Thậm chí không ít người trong họ vẫn đủ sức vượt lên, cùng lớp trẻ làm nên những mùa vụ mới; và đó chính là chiều dày, là độ bền lâu, là cái hậu của một nền văn học.

Tôi nghĩ đến Tô Hoài thuộc thế hệ “tiền chiến” ở tuổi ngoài 75 viết Chiều chiều, ở tuổi 80, rồi 85 vẫn có cái cho ta chờ đợi.

Cho đến Mạc Can xuất hiện ấn tượng từ năm 2005 khi đã vào tuổi ngoài 60.

Tôi nghĩ đến thế hệ Nguyễn Thi, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Nguyên Ngọc, Hồ Phương, Xuân Thiều, Nam Hà, Nguyễn Quang Sáng, Thu Bồn, Phạm Ngọc Cảnh… Thế hệ Chu Văn, Đào Vũ, Vũ Tú Nam, Vũ Thị Thường, Nguyễn Kiên, Ma Văn Kháng, Nguyễn Quang Thân, Hoàng Quốc Hải, Lê Văn Thảo… mà sự hiện diện của họ đều góp phần làm nên những dấu ấn đặc sắc trong hành trình văn học nửa sau thế kỷ XX. Và, một thế hệ, do thử thách (hoặc bất trắc) của thời cuộc, phải vào tuổi 70, trong khung cảnh Đổi mới, mới có hoàn cảnh thích hợp để viết như Lê Đạt, Dương Tường, Nguyễn Xuân Khánh, Bùi Ngọc Tấn, Châu Diên… và do “no dồn đói góp” mà những gì được viết ra ở họ thực sự là sự chắt lọc của một đời suy ngẫm và từng trải.

Xét theo lịch sử thì 20 năm qua, đó là một thay đổi hiếm có, hoặc chưa từng có. Để từ chiến tranh (những hơn 30 năm) chuyển sang hoà bình. Từ đất nước bị chia cắt (hơn 20 năm) đến đất nước thống nhất. Từ giao lưu hẹp đến giao lưu rộng… Những chuyển động như thế phải nói là rất lớn. Lớn, và cũng có tầm một cuộc chuyển giao tựa như chuyển giao từ thế kỷ XIX sang thế kỷ XX, đưa đất nước từ trạng thái phong bế, lạc hậu vào một cuộc canh tân. Lớn như Cách mạng tháng Tám năm 1945 làm thay đổi chế độ. Tiếp tục thành quả của Cách mạng tháng Tám và hai cuộc kháng chiến, Đổi mới - đó là một cuộc lên đường mới của dân tộc để rút ngắn những so le lịch sử giữa dân tộc và thời đại. Một cuộc lên đường, mới chỉ được khởi động trong bủa vây, kiềm chế, đàn áp của chủ nghĩa thực dân đầu thế kỷ XX, và chưa từng diễn ra trong lịch sử.

Trước một chuyển động lớn như thế trong 20 năm, thì sao văn học lại không thay đổi được? Nó buộc thế và nó phải thế, chứ không thể khác. Không những văn học phải chuyển động mà còn phải góp phần dự báo, phải là người tiền trạm. Cuộc dự báo và những người tiền trạm ấy đã xuất hiện trong suốt thập niên 80, sau hơn 5 năm kết thúc chiến tranh; và lấn sang nửa đầu thập niên 90, cho đến Cù lau Chàm của Nguyễn Mạnh Tuấn; Gặp gỡ cuối năm, Cha và con, và… của Nguyễn Khải; Đất trắng của Nguyễn Trọng Oánh; Thời xa vắng của Lê Lựu; Cuốn gia phả để lại của Đoàn Lê; Mùa lá rụng trong vườn, Côi cút giữa cảnh đời của Ma Văn Kháng; Bến quê, Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành của Nguyễn Minh Châu; Tướng về hưu của Nguyễn Huy Thiệp; Ngoài khơi miền đất hứa của Nguyễn Quang Thân; Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường; Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh; Bến không chồng của Dương Hướng… làm nên khúc dạo đầu thật tưng bừng cho công cuộc Đổi mới, tính cho đến năm 1995…

Cũng như bất cứ lĩnh vực nào khác của đời sống tinh thần, nói sự phát triển của văn học là nói đến một quá trình, với sự tiếp tục của nhiều thế hệ. Thời nào trong lịch sử cũng thế. Nhưng có điều cần lưu ý, thế kỷ XX, khác với bất cứ thế kỷ nào trước đó, là một thế kỷ có quá nhiều biến động, và là những biến động mang tính nhảy vọt. Nếu ở đầu thế kỷ là cuộc chuyển giao từ mô hình trung đại sang mô hình hiện đại, trong bước ngoặt từ xã hội phong kiến sang xã hội thuộc địa, thì giữa thế kỷ là một cuộc cách mạng và 30 năm chiến tranh cách mạng nhằm giành trọn vẹn mục tiêu Độc lập, Tự do cho dân tộc; và cuối thể kỷ là một khát vọng Đổi mới, đưa đất nước vào một cuộc hội nhập lớn vào nhân loại, để chuyển lên đường ray của sự phát triển. Trước những biến động lớn như thế, văn học không thể đáp ứng bằng một sự phát triển tiệm tiến, bình thường. Mà phải bằng những nỗ lực lớn mang tính chuyển đổi cách mạng. Để có đủ tiềm lực và hành trang cho một chuyển đổi mang tính cách mạng như thế, văn học, cũng như bất cứ lĩnh vực nào khác, kể cả kinh tế, chính trị, cần đến những lực lượng trẻ; mà nói trẻ là nói đến những thế hệ trên dưới tuổi 30, thậm chí là 20. Đó là tuổi 20 và trên 20 của Nguyễn Tuân, Nguyễn Huy Tưởng, Vũ Trọng Phụng, Thạch Lam, Hàn Mặc Tử, Xuân Diệu, Bích Khê, Nam Cao, Nguyên Hồng, Nguyễn Bính, Huy Cận, Chế Lan Viên, Nguyễn Xuân Sanh, Tố Hữu, Tô Hoài, Anh Thơ, Tế Hanh… làm nên thành tựu mang tính nhảy vọt của thời kỳ văn học 1930-1945. Đó cũng là tuổi 20 của Phạm Tiến Duật, Đỗ Chu, Xuân Quỳnh, Bằng Việt, Vũ Quần Phương, Lưu Quang Vũ… của Triệu Bôn, Nguyễn Thị Ngọc Tú, Vương Anh, Y Phương, Ý Nhi, Phan Thị Thanh Nhàn, Lâm Thị Mỹ Dạ… của Nguyễn Khoa Điềm, Lê Anh Xuân, Hữu Thỉnh, Thanh Thảo, Nguyễn Duy… của Nguyễn Đức Mậu, Vương Trọng, Anh Ngọc, Thanh Tùng, Thi Hoàng, Trần Nhuận Minh… Cùng với một “thần đồng” thơ lên 10 là Trần Đăng Khoa…mà làm nên thành tựu văn học thời kỳ 1960-1975. Chuyển sang thời đổi mới, một thế hệ trẻ như thế là chưa thể xuất hiện ngay, mà phải được chuẩn bị, trong sự tiếp nối của hơn một thế hệ chuyển tiếp, kể từ Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu, Ma Văn Kháng, Lê Lựu… qua Nguyễn Khắc Trường, Nguyễn Mạnh Tuấn, Nhật Tuấn, Chu Lai, Lê Minh Khuê, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Trí Huân, Trung Trung Đỉnh, Nguyễn Trọng Tạo, Dạ Ngân, Bảo Ninh, Phạm Thi Hoài… Rồi Nguyễn Quang Lập, Võ Thị Hảo, Nguyễn Quang Thiều, Inrasara, Dương Thuấn, Tạ Duy Anh, Hồ Anh Thái, Y Ban, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh (ở thế hệ này người trẻ nhất đến nay cũng đã vào tuổi ngót 40 rồi)… Một thế hệ trẻ ở tuổi ngoài 20, rồi 30, rồi thế hệ 7X- để có thể làm nên, hoặc làm chủ gương mặt văn học sau 1995, rồi sau 2000, đó là điều chưa dễ xác định, dẫu những tên tuổi gây ấn tượng trong họ thì lúc nào cũng có, kể từ Nguyễn Ngọc Tư, Nguyễn Ngọc Thuần, Đỗ Thị Bích Thuý, Phan Triều Hải, Văn Vầm Hải, Vũ Đình Giang, Nguyễn Thế Hoàng Linh, Lưu Sơn Minh, Phan Huyền Thư, Vi Thuỳ Linh…Thế nhưng, nhìn trên tổng thể thì dường như sự tiếp tục này, trong tư thế một đội ngũ là chưa thật rõ lắm. Họ có thể rất đông đúc và gây nhiều ồn ào; có thể xuất hiện hàng ngày trên báo, đài trong chủ ý tuyên truyền, quảng bá của hệ thống thông tin đại chúng; có thể gợi lạ, hoặc gây sốc cho người đọc, để làm cồn lên dòng chảy đã có; nhưng để làm nên một dòng chảy mới thì chưa hẳn đã có. Đó là điều, theo tôi, làm cho gương mặt văn học Đổi mới trong nửa sau của nó, kể từ năm 1995 đến nay, còn chưa gây được một ấn tượng mạnh mẽ, vượt trội, và thật ngoạn mục, trong so sánh với hơn hai mùa gặt lớn của lịch sử và trong tương quan với thời cuộc. Sự đánh giá đó nếu là đúng, hoặc có phần đúng thì việc đi tìm nguyên nhân của nó là việc rất nên bàn, và cần đến một bài khác.

Còn từ nay - từ 2007 (năm trùng với năm khai giảng trường Đông Kinh Nghĩa Thục, cách đây chẵn 100 năm) sau năm 2006 có rất nhiều sự kiện quan trọng của dân tộc, khi chuyển sang thập niên thứ Ba của sự nghiệp Đổi mới (lại nhớ đến ba thập niên đầu thế kỷ XX trong nung nấu cho một cuộc cách tân lớn, và là cuộc cách tân đầu tiên trong sự nghiệp hiện đại hoá văn học dân tộc, vào thời kỳ 1930-1945), thì đó là câu chuyện khó lường. Tôi nói khó lường, để mượn lại cách nói của nhà bác học Ilya Prigogine - Giải Nobel về Hoá học, đại: tương lai là không thể dự kiến, mà chỉ có thể chuẩn bị đón chờ nó. Khó lường, nếu đặt văn học trong bối cảnh chung của đất nước đang khẩn trương tiến hành một cuộc hội nhập với khu vực và thế giới; và khi thế giới đang bước vào một cuộc Toàn cầu hoá lần thứ Ba, chỉ mới bắt đầu diễn ra từ năm 2000. (tôi nhấn mạnh ý này), có cơ may là một cái hậu lớn, nếu dân tộc đuổi kịp, hoặc đón kịp. Một cuộc Toàn cầu hoá trong Kỷ nguyên Cách mạng thông tin làm cho thế giới “phẳng” lại; và tạo nên sự kết nối trực tiếp giữa mỗi cá nhân với toàn thế giới.

Từ tình hình trên, tôi nghĩ đến một thế hệ viết mới là đại diện đích thực cho văn học tương lai - vừa là sản phẩm lại vừa là chủ thể của chính hoàn cảnh hôm nay; một thế hệ mới trong tư cách một đội ngũ, vừa làm chủ được các phương tiện thông tin, vừa tiếp cận và tiếp nhận được dấu ấn và tinh thần thời đại.

Một thế hệ không chỉ ở lứa tuổi 8X mà phải là 9X, hoặc còn đang ở bậc học phổ thông cơ sở và mẫu giáo.

Và với thế hệ đó, mọi đường biên hoặc đường viền cho văn học dường như đang được nới rộng ra, và được đẩy xa hơn về phía trước, khiến cho viễn cảnh của nó bỗng trở nên mơ hồ, khó hình dung, nhưng do thế mà càng hấp dẫn.

(Văn nghệ)

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác