Đi con đường một mình gai góc

Dương Thuấn

(Đọc Cái vạc vàng có đòn khiêng bằng kim khí, tập truyện ngắn Võ Thị Xuân Hà - NXB Hội Nhà văn & Công ty Truyền thông Hà Thế liên kết xuất bản năm 2007)

Đi con đường một mình gai góc - ảnh 1Nói tới thế hệ các nhà văn Việt Nam trưởng thành những năm cuối thế kỷ 20, không thể không nhắc đến nhà văn nữ Võ Thị Xuân Hà, người con của xứ Huế. Quê chị ở vùng Nam Phổ bên dòng Hương Giang thơ mộng. Nơi có cả một bầu trời thơ và không gian văn chương mênh mông lớn rộng, với làng Vĩ Dạ nổi tiếng nằm án ngữ phía trên. Căn nhà cha mẹ chị ở trong cái làng nổi tiếng đó. Chị cùng thế hệ và học cùng khóa 4 Trường viết văn Nguyễn Du với Tạ Duy Anh, Y Ban, Thùy Dương, Bích Ngân, Nguyễn Bình Phương...

Trong khoảng hơn mười năm nay, Võ Thị Xuân Hà liên tục cho ra nhiều tập truyện dài, tiểu thuyết cùng các tập truyện ngắn: Vĩnh Biệt giấc mơ ngọt ngào (NXB Văn học -1992); Bầy hươu nhảy múa (NXB Văn học -1994); Cổ tích cho tuổi học trò (NXB Kim Đồng -1994); Kẻ đối đầu (NXB Hội Nhà văn -1998); Giá nhang đèn và những truyện khác (NXB Hà Nội - 1999); Truyện ngắn Võ Thị Xuân Hà (NXB Phụ nữ-2002); Chuyện của con gái người hát rong (NXB Hà Nội - 2004); Đàn sẻ ri bay ngang rừng (NXB Quân đội, 2005); Cái vạc vàng có đòn khiêng bằng kim khí (NXB Hội Nhà văn, 2007)...

Tôi đọc truyện ngắn của Võ Thị Xuân Hà từ những năm tám mươi của thế kỷ trước khi cùng học ở Trường Viết văn Nguyễn Du. Tôi càng đặc biệt chú ý hơn khi Võ Thị Xuân Hà và Tạ Duy Anh là đồng thủ khoa văn xuôi còn tôi là thủ khoa thơ trong kỳ thi tốt nghiệp ra trường lúc đó. Trong mỗi truyện của chị đều có những nét chân thật đến mức có thể nắm bắt được. Nhưng bên cạnh đó xuyêt suốt hầy hết các truyện của chị là cái phần hư ảo rất mong manh, không thể nào nắm bắt. Hai phần đó đi liền với nhau một cách rất tự nhiên trong tất cả các truyện chị viết. Nếu người đọc quen với lối cảm thụ văn học theo kiểu cũ là qua nhân vật và cốt truyện thì rất khó nắm bắt được các ý tưởng trong truyện ngắn của Võ Thị Xuân Hà.

Chị luôn sắp xếp hiện thực theo cách riêng, và đi tới đích thể hiện cũng theo cách riêng. Đôi khi tôi thấy chị không tin vào hiện thực thô ráp mà chỉ tin vào chính mình với cách thể hiện đầy ma lực của người viết. Các mảnh hiện thực luôn được xếp đặt bằng sợi cảm xúc mỏng manh vô hình. Đọc xong mỗi truyện của chị như cảm thấy đã cùng chị làm xong một việc. Trong tình hình văn học của nhiều năm trở lại đây, hoàn toàn có thể khẳng định rằng Võ Thị Xuân Hà là cây bút văn xuôi nữ tiêu biểu và đang sung sức hiện nay mà truyện ngắn là một trong những mặt mạnh của chị.

Tập truyện ngắn mới của Võ Thị Xuân Hà Cái vạc vàng có đòn khiêng bằng kim khí chính là sự tiếp tục của dòng cảm xúc luôn ào ạt tuôn chảy kết hợp với những ý nghĩ thông minh của một người phụ nữ. Tập truyện ngắn hiện lên rất rõ chủ thể tác giả là nữ với nhiều hiểu biết về phụ nữ, con người, xã hội, cuộc sống... Điều đặc biệt thú vị là những điều đó chỉ có thể là phụ nữ thì mới cảm nhận và diễn đạt thành những câu văn đẹp, lạ.

Tôi đọc các truyện ngắn trong tập Cái vạc vàng có đòn khiêng bằng kim khí của Võ Thị Xuân Hà với một thái độ nghiêm túc và trân trọng. Bởi vì tôi thích cách viết giàu tính hình tượng của chị, qua đó toát lên nhân cách sống của nhân vật cũng như nhân cách người viết. Đôi khi các nhân vật cũng không có tên, chị cứ kể như là cổ tích nhưng rất hiện đại.

Rõ ràng Võ Thị Xuân Hà là một cây bút giàu sức tưởng tượng và giàu cách thể hiện. Câu văn cùng những điều chị diễn đạt luôn giản dị chân thành nhưng có tính tư tưởng cao. Điều này không phải dễ gì ai cũng có được. Quan trọng hơn người ta cũng đọc được ở trong đó bản lĩnh của một nhà văn, bởi chị không hề né tránh những vấn đề của thực tại.

Có thể dẫn ra nhiều đoạn như thế này khi chị viết về các vấn đề bức xúc của xã hội: “Vào được Chí thì khó đấy, cũng tốn khá. Mà ở đó người nhiều tiền mới ra được. Nếu xác định nhiều tiền thì ở đó sướng, ở tù như đi nghỉ mát. Đóng hai mươi triệu đợt đầu, mỗi tháng chừng trăm ngàn nữa, có đợt nào đặc biệt thì lại năm mươi triệu. Không thì phải ở tù khác, làm quần quật suốt ngày, rừng thiêng nước độc, ăn uống không có gì đâu. Tù mà. Lại còn bọn săn mủ, nghĩa là loại côn đồ dao búa trong đám tù cùng nhau, nhốt chung với bọn ấy, sau này ra tù chỉ còn là con thú dại chứ có đâu là con người” (Trích năm hai ngàn lẻ X trang 118)...

Cách sống và quan niệm về cách sống của tác giả còn thể hiện trong truyện Đá núi qua lời tâm sự của người mẹ: “Mẹ không muốn con khổ. Với cả, mẹ không thấy ai đức độ như ông ấy, dù ông ấy đã bỏ mẹ con mình. Con nhớ lấy điều này: làm người bác sĩ là làm cái nghiệp mang phúc cho người, như là ta đi theo con đường đạo vậy. Con hãy vì muôn người, nhưng cũng đừng quên bản thân mình...

Trong từng truyện ngắn có nhiều đoạn in chữ đứng, xen những đoạn in chữ nghiêng. Tác giả đã làm như vậy để người đọc dễ hiểu và cảm nhận tác phẩm nhanh hơn.

Mười sáu truyện ngắn in trong tập là những sáng tác gần đây nhất của tác giả, là mạch chảy của một dòng suy nghĩ lạnh lùng trong từng câu chữ, nhưng mang nặng hơi thở tình yêu và những khát khao cháy bỏng. Cuộc sống đâu chỉ là những khát khao, yêu thương, tác giả còn muốn đánh thức một khía cạnh khác trong con người là hãy biết né tránh, biết cảnh giác khi thấy ai đó reo rắc cái ác. Muốn vậy trong lòng mỗi con người phải biết khiếp sợ cái ác, cái tầm thường vốn thường được bao bọc bởi nhũ quang của hiện thực xô bồ.

Tập truyện được mở đầu bằng truyện ngắn Ngọa sinh, đã gây sự chú ý với độc giả từ khi nó được in ở tạp chí Văn nghệ quân đội. Ngọa sinh? Có ngọa quỷ, thì phải có ngọa sinh? Tàn tích chiến tranh để lại cho dân tộc Việt những kiếp ngọa người, vậy mà những con người bước ra từ chiến tranh vẫn cứ lạc quan vô tận: ta sẽ để lại trên thế gian này một hình hài cụ thể sinh ra từ ta, dù hình hài đó có mang nặng sự thiếu hụt. Hay chính những hình hài thiếu hụt đó mới là bộ mặt thật của hiện thực mà ta vừa mới chối bỏ, lại vừa muốn ôm nó vào lòng?

Còn Đô hội lại là một truyện ngắn nói về thân phận của cô gái Việt nơi xứ người. Tác giả chỉ mô tả những sự việc, hành động. Không dùng nhãn quan của mình để áp đặt ý nghĩ cho nhân vật. Nhân vật đi lại nói năng, xét ra thì đúng là lối đi đứng nói năng của một gái bao bất đắc dĩ ở xứ người, nhưng vẫn là cô em bái bé bỏng như bôn hoa dưới ánh mặt trời của ngôi nhà Việt.

Cách viết hấp dẫn nhất và gây sự chú ý cho độc giả nhất, đó là truyện ngắn Cái vạc vàng có đòn khiêng bằng kim khí. Một truyện có tới bốn cốt: 1- câu chuyện tình yêu được xây đắp bằng niềm tin vào cõi chết; 2- cuộc sống trai Mường gái Mường - cội nguồn của dân tộc Việt cổ; 3- chuyện tâm linh, việc cúng bói lễ lạt không nằm trong dao diện mê tín; 4- kỷ niệm đầu đời và là một trong những câu chuyện tạo nên cảm hứng sáng tác của nhà văn. Cả bốn cốt truyện này được gắn bởi năm thế lực tâm linh (lời tác giả), là thực tế sống của chính tác giả, với niềm ước mong vô bờ bến với xã hội: hãy tin rằng vẫn đang có một thế giới tâm linh bên cạnh cuộc sống thực của chúng ta; hãy sống đúng đường đạo đường đời; hãy lạc quan, mạnh mẽ và thản nhiên đón nhận mọi sức mạnh bí ẩn xô đẩy chúng ta trên đường đời.

Trong trẻo nhất và cũng là cách viết truyền thống duy nhất trong tập là truyện Chân trời ửng hồng. Lâu lắm mới được đọc một truyện ngắn nhẹ nhàng, dí dỏm và trong trẻo như vậy của Võ Thị Xuân Hà. Hình như trời đã phú cho chị một tâm hồn phong phú và sức lực dẻo dai, đến độ sau tất cả những truyện ngắn và tiểu thuyết dữ dội xen lẫn ngọt ngào đến mức gây đau đớn, khiến người đọc phải ngẫm ngợi thì Chân trời ửng hồng, lại trở lại với thời kỳ đầu tiên khi Xuân Hà mới xuất hiện trên văn đàn.

Với tư cách là người đọc, và cũng là bạn viết, bạn đồng môn, xin có mấy ý nghĩ về tập truyện như vậy. Có lẽ nên dành những lời bình luận sâu sắc nhất cho độc giả quan tâm Xuân Hà và nhiều bạn đọc khác.

Đọc cuốn Cái vạc vàng có đòn khiêng bằng kim khí nói riêng, truyện ngắn, tiểu thuyết của Võ Thị Xuân Hà nói chung, ta thấy sự nhuần nhị về nghề của một cây bút viết văn xuôi. Cũng thấy một giọng văn riêng biệt luôn gây cho người đọc những bất ngờ, bất ngờ đến tận dòng cuối cùng. Và còn một điều đặc biệt tạo nên phong cách riêng của cây bút văn xuôi này, đó là lối viết đa chiều, văn bản trong văn bản, biến cách và những mảnh khối gắn kết một cách bí ẩn. Vì thế muốn hiểu được truyện của chị, thường người đọc phải đọc đi đọc lại. Mỗi lần đọc, lại phát hiện ra một điều gì đó ẩn chứa sau cốt truyện chính.

Và cũng vì thế, với bản lĩnh của mình, Võ Thị Xuân Hà đã tự chọn cho mình con đường một mình gai góc.

Và chị đã thành công!.


(Văn nghệ)

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác