Dạy, học Ngữ văn, đôi điều suy nghĩ

Nguyễn Bá Long

Cách đây mấy chục năm, do yêu thích môn văn, mê những giờ học văn mà nhiều người tự nguyện gắn trọn cuộc đời với sự nghiệp văn chương. Nay người ta nói nhiều đến đổi mới phương pháp, sử dụng nhiều phương tiện dạy học hiện đại: những đèn chiếu, giáo án điện tử, giáo án mẫu, câu hỏi trắc nghiệm… đủ cả.

Thế nhưng tâm thế dạy và học môn này vẫn chưa khởi sắc được bao nhiêu, nếu không muốn nói là ngày càng sa sút, ảm đạm. Nhiều tú tài đọc chữ Việt chưa lưu loát, viết một văn bản thông dụng cũng không xong. Tầm hiều biết, độ rung cảm, những tiết giảng văn có hồn của thầy cũng dần dần thưa vắng. Điều này khiến cho những ai quan tâm đều không khỏi đôi lần trăn trở.

 

Dạy, học ngữ văn, đích ở đâu?

Có người nói: dạy văn là dạy người, học văn là học làm người. Câu này không sai nhưng mông lung quá, có thể vận vào môn học nào cũng được chứ không riêng gì ngữ văn (môn giáo dục công dân chẳng hạn). Lại có quan niệm: dạy văn là dạy đọc hiểu văn bản nghệ thuật. Tuy nhiên, từ đọc đến hiểu là cả một quá trình quanh co, muôn ngả: bởi văn bản nghệ thuật là loại văn bản được đan kết bằng hình tượng, đa nghĩa, đa cách hiểu. Ấy là chưa nói đến có những kiệt tác hoàn toàn bất khả giải (chỉ dừng lại ở tri giác, cảm nhận và phán đoán mà thôi). Hơn nữa, trong bối cảnh hiện nay, khi văn hóa nghe nhìn đang có xu hướng lấn át văn hóa đọc thì số người bỏ thời gian để học trọn vẹn một tác phẩm có dung lượng lớn chắc cũng không nhiều. Thăm dò sinh viên ngữ văn ở một trường cao đẳng, chúng tôi thu nhận được số liệu sau đây: lớp ngữ văn năm thứ nhất có 3/41 sinh viên đã đọc Truyện Kiều, lớp ngữ văn năm thứ 2 có 19/40, lớp ngữ văn năm thứ 3 có 16/40. Rõ ràng, đối với một tác phẩm được coi là “Quốc hồn, Quốc túy” như Truyện Kiều mà nhiều giáo viên ngữ văn tương lai còn dửng dưng như thế, thì nói chi đến tìm đọc tác phẩm ở tận những đâu đâu. Có điều, tuy không đọc nhưng họ vẫn phân tích được tác phẩm, vẫn dạy được như thường! Như thế có nghĩa là họ vẫn hiểu (dù có thể chỉ hiểu nửa vời). Rút cục cái đích của môn học vẫn chưa thể đạt được.

Một cách hiểu giản đơn, không mới nhưng thiết thực: môn ngữ văn có 2 phần, phần ngữ và phần văn; hai phần xuyên thấm vào nhau, hỗ trợ cho nhau nhưng mỗi phần có cái đích riêng của nó. Dạy phần ngữ là dạy học sinh sử dụng thành thục tiếng mẹ đẻ (Tiếng Việt); học phần ngữ cốt để đọc thông viết thạo, ứng dụng vào giao tiếp có hiệu quả. Khó nhất của phần ngữ là thực hành lập luận, diễn đạt, tạo văn bản (trắc nghiệm khách quan không đánh giá được năng lực này). Dạy phần văn trước hết nâng cao năng lực thụ cảm nghệ thuật cho người học; sau đó mới nói đến bồi đắp tâm hồn, giáo dục lí tưởng thẩm mỹ. Bởi trong những khoái cảm của con người có khoái cảm nghệ thuật (khoái cảm mang tình người); sau mỗi giờ học văn người học ít nhiều thỏa mãn được loại khoái cảm đỉnh cao này, khi ấy họ sẽ tự tìm đến văn chương hơn là ép buộc. Nhà văn không có cảm hứng không thể có tác phẩm, người dạy văn thiếu độ rung tâm hồn thì tiết giảng khó thành công. Dạy đúng chưa phải là cái đích của môn văn mà còn phải dạy sao cho có hồn, cho sinh động, cho hay. Giáo sư, nhà giáo nhân dân Lê Trí Viễn tâm sự: “Dạy văn lấy cảm làm đầu/ Suốt đời tôi chỉ có một câu dặn mình/ Dạy văn dạy nghĩa dạy tình/ Dạy văn mà cũng dạy mình dạy ta/ Tình gần muốn gửi cho xa/ Mai sau đi dạy ngẫm ra lời này”.

 

Dạy văn “Hồn ở đâu bây giờ”

Dạy văn trước hết phải truyền cho được cái thần, cái hồn của văn chương. Người dạy dẫn dắt, cùng với người học từ cánh cửa vi diệu của ngôn từ để bước vào lâu đài nghệ thuật. Trước đây dạy văn chủ yếu sử dụng phương pháp thuyết trình, diễn giảng để truyền chất văn từ thầy sang trò; thầy khơi gợi nhều liên tưởng tinh tế, thú vị. Những đại thụ trong nghề như thầy Huỳnh Lí, Thầy Hoàng Như Mai, thầy Lê Trí Viễn... đều thế cả. Nay chuyển trung tâm về phía người học, người dạy chỉ đóng vai trò hướng dẫn, “đỡ đầu” cho người học. Các phương tiện dạy học hiện đại được huy động tối đa, cứ ngỡ như thế chắc chắn chất lượng sẽ được nâng lên, vượt xa ngày trước, nhưng hiệu quả lai không như ý muốn.

Tự thân phương pháp không giải quyết được vấn đề nếu nó không phù hợp với đặc trưng đối tượng. Chẳng hạn, sử dụng máy chiếu phụ trợ cho giảng dạy văn học dân gian (nhất là phần ca dao dân ca) sẽ rất thành công, bởi đặc trưng của nó là loại nghệ thuật đa chức năng: người dạy có thể làm sống lại không gian diễn xướng bằng hình ảnh trên màn hình. Người lại dạy văn học viết (nghệ thuật ngôn từ đích thực) mà lạm dụng máy chiếu có khi lại phản cảm, vô tình người dạy đã chuyển từ loại hình nghệ thuật này sang loại hình nghệ thuật khác. Một bức tranh bằng ngôn ngữ và một bức tranh bằng đường nét khác xa nhau về chất liệu. Thông điệp văn chương vọng từ con chữ, gợi trí tưởng tượng chứ không thể hình ảnh hỏa bằng đường nét trên màn hình được; người xưa nói: “văn kì thanh bất kiến kì hình” chính vì như thế. Thú thực, được dự nhiều tiết dạy văn theo phương pháp mới; ngoài một số ít tiết thành công, còn lại tôi cứ tự phân vân: không biết người ta dạy văn hay trình chiếu hình ảnh cho văn, chất văn tỏa ra từ ngôn từ ngon từ bay đi đâu hết; bước ra khỏi phòng học mà lòng cứ nhẹ tênh, bao nhiêu hồn cốt của tác phẩm văn chương tìm mãi mà chẳng thấy đâu.

Con người hoạt động theo quy luật sáng tạo. Đổi mới phương pháp là tất yếu nhưng mọi đổi mới đều phải có kế thừa, phải phù hợp với đặc trưng từng môn học. Đổi mới cốt để đạt được chất lượng và hiệu quả như lời Bác Hồ dạy: “Học cốt để mà làm, học mà không làm được thì học nhiều cũng vô ích”.

 

(Văn nghệ )

 

 

 

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác