Chung quanh mối quan hệ giữa dân tộc và hiện đại

Nói dân tộc là nói đến văn hoá. Nói hiện đại là nói đến kinh tế - xã hội. Như vậy khía cạnh đầu tiên được quan tâm ở đây là mối quan hệ giữa Văn hoá dân tộc và Xã hội hiện đại.

Đôi lời về văn hoá. Văn hoá, theo tôi hiểu, là một giá trị, để phân biệt với những gì phi văn hoá, phản văn hoá. Văn hoá chính là sự kết hợp tất cả những gì tốt đẹp nhất có trong mỗi dân tộc - nói như nhà bác học Nga D.C.Likhachốp. Phải là một giá trị mới được mang danh văn hoá. Giá trị văn hoá được xác định ở tính nhân văn của nó, và ở sự kế tục, bồi đắp, tự làm giàu thêm và làm giàu cho nhau của nhiều khu vực, nhiều nền, nhiều niên đại, nhiều thế kỷ. Những giá trị văn hoá lớn không bài trừ mà bổ sung cho nhau, chẳng hạn giữa Đông và Tây; là sự tiếp tục nhau chứ không phủ định hoặc thủ tiêu nhau, như Cổ điển và Hiện đại… Nhưng khi nói đến các giá trị chung, giá trị nhân loại của văn hoá lại không được quên mặt gắn bó với nó là giá trị quốc gia và dân tộc. Có thể nói giá trị mang tính bền vững của văn hoá là cái giữ cho mỗi dân tộc có gương mặt riêng của mình. Trong nối kết các yếu tố làm nên đời sống văn hoá và gương mặt tinh thần của con người, thì bản sắc dân tộc là cái làm nên nét riêng, ổn định để cho dân tộc này khác với dân tộc khác. Không chỉ giữa các dân tộc ở quốc gia khác nhau, mà còn là các dân tộc trong cùng một quốc gia. Chừng nào các làn điệu dân ca trên đất nước ta vẫn còn làm say lòng người thì 54 dân tộc anh em trên lãnh thổ Việt Nam không thể có gương mặt chung của người Kinh. Ngay cả những đặc trưng về vùng miền, về địa lý cũng lưu giữ những nét riêng, khiến cho người gốc Nghệ Tĩnh tôi cũng không thể lẫn với người xứ Quảng hoặc Nam Bộ. Như vậy, văn hoá dân tộc, đó là khái niệm thực sự hiện hữu, không dễ và không thể bác bỏ; vừa như một khái quát tiến trình lịch sử, vừa như một định hướng bền vững ở tương lai. Nếu sự nhất thể hoá kinh tế đang là xu thế chung cho nhiều quốc gia, nhiều khu vực trong kỷ nguyên Toàn cầu hoá hôm nay, thì sự đa dạng hoá về văn hoá, gắn với bản sắc riêng của mỗi dân tộc lại là mục tiêu chung của bất cứ cộng đồng nào trong đại gia đình nhân loại. Văn hoá dân tộc trường tồn cùng lịch sử, từ khi hình thành các dân tộc, nó không chịu tự đánh mất mình chừng nào mỗi dân tộc và các dân tộc cùng tồn tại. Không biết đến lúc nào thì các quốc gia, các dân tộc tự mất đi, còn ở thời điểm hôm nay, ta càng thấy chứng nghiệm ý tưởng của chính trị gia Anh - W.Sớcsin: “Không có kẻ thù nào là thường xuyên, không có bạn bè nào là thường xuyên. Mà chỉ có quyền lợi quốc gia là thường xuyên…”

2. Xã hội hiện đại đòi hỏi sự đa dạng hoá về văn hoá nhưng mặt khác lại chứa đựng một nguy cơ về sự đồng nhất, sự mờ nhoà, do các mục tiêu chung về kinh tế, do ưu thế của kỹ thuật, do quá trình thế giới hoá nhanh chóng, rộng khắp những thành tựu trên mọi lĩnh vực của đời sống vật chất và tinh thần. Bánh Piza và nước uống Coca, quần bò và áo thun, nhạc Rock và phim hoạt hình WaltDisney đang trở thành nhu cầu của số đông, khiến nơi đâu cũng có. Các thành phẩm được ưa chuộng ở một vùng có thể truyền lan và tràn ngập trên mọi kênh dẫn của thông tin quảng cáo, và mọi con đường giao lưu. Nhưng chính do sự đe doạ của cái đồng nhất, cái thế giới, của những ưu thế về kinh tế, về mỹ thuật, mà vấn đề văn hoá, văn hoá dân tộc, và bản sắc dân tộc của văn hoá lại nổi lên như một phương tiện điều tiết và chế ngự.

Ở Việt Nam ta, vai trò văn hoá và yêu cầu gìn giữ, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc luôn luôn được nhắc nhở, trong các chỉ dẫn của Hồ Chủ tịch, các văn kiện của Đảng, và thực sự nổi lên thành vấn đề, thành một lực hút, một mối quan tâm đặc biệt, khi đất nước đứng trước nhu cầu canh tân, phát triển, khi đất nước đang mở dần sự giao lưu và đón nhận những đối sánh, đến từ khu vực và nhân loại. Bởi chính phải qua giao lưu và đối sánh ta mới có điều kiện nhìn rõ về mình, về bản thân mình. Để bớt chủ quan, tự mãn nhìn thiên hạ với con mắt xa lạ hoặc kỳ thị, và cũng để tránh mặc cảm xấu hổ, bi quan, tự ti, nghĩ mình là thấp bé.

Xã hội hiện đại gắn với sự phát triển của khoa học và công nghệ, gắn với sự không ngừng mở rộng mọi nhu cầu của con người, gắn với sự tăng nhanh sức sản xuất và tiêu thụ, gắn với sự nhất thể hoá kinh tế, tóm lại, gắn với sự tăng tốc mọi mặt của đời sống, bao gồm những triển vọng kỳ vĩ và cả những lo âu và hiểm hoạ. Sau một cuộc Cách mạng tháng Tám vĩ đại và hai cuộc kháng chiến kéo dài trên ba mươi năm, để giành lại quyền độc lập tự chủ cho dân tộc, xu thế hiện đại gắn với sự nghiệp hiện đại hoá, đang thâm nhập vào mọi mặt đời sống chúng ta với tốc độ rất nhanh, cũng có thể nói, với gia tốc lịch sử càng về sau càng khẩn trương, càng gấp. Cùng với sự nhận thức đúng về xã hội hiện đại và sự đón nhận xu thế hiện đại hoá, lẽ dĩ nhiên sẽ đưa tới sự gia tăng ý nghĩa đóng góp của văn hoá. Trải nghiệm hậu quả của sự phong bế, lạc hậu hàng nghìn năm và căn bệnh chủ quan, duy ý chí do một định hướng sai lầm về chủ nghĩa xã hội sau nhiều chục năm, chúng ta càng nhận thức rõ thêm vị trí quan trọng của tri thức, của văn hoá; văn hoá ngày càng phát huy vai trò của một tác nhân điều chỉnh, thúc đẩy đời sống chính trị, kinh tế, xã hội trong thế giới hiện đại.

3. Đất nước ta đang bước vào xã hội hiện đại từ một nền canh tác nông nghiệp thô sơ, từ một cơ sở công nghiệp thấp kém, từ một nền kinh tế nằm trong cơ chế bao cấp vừa thoát ra khỏi chiến tranh, còn chịu nhiều hậu quả của chiến tranh. Khởi điểm đó là rất thấp so với nhiều nước trong khu vực và nhân loại. Nó cách xa và mâu thuẫn nhiều mặt với xã hội hiện đại là mục tiêu chúng ta đang hướng tới, và đang vừa đi vừa dò tìm. Thế giới đang chuyển vào một giai đoạn mới với những kết hợp vừa hiện đại vừa hậu hiện đại, vừa công nghiệp vừa hậu công nghiệp, do vậy cái khó đối với chúng ta là làm sao tìm được con đường thuận lợi nhất và nhanh nhất, nhưng vẫn phù hợp với quy luật; để, một mặt không bị tụt hậu theo thời gian, và mặt khác không vội vã, đốt cháy giai đoạn. Mà muốn nắm quy luật thì phải hiểu rất kỹ thực trạng của mình, phải nghiên cứu kỹ mình từ chiều sâu lịch sử, đồng thời lại phải mở rộng các mối quan hệ, đối sánh với các dân tộc khác, để có cách nhìn từ ngoài.

Giao lưu và hội nhập vào thế giới là xu thế chung của thời đại, là tất yếu lịch sử. Chính trị mở đường cho kinh tế và kinh tế thường đi trước, như Mác nói, và như đang diễn ra trong thực tiễn hôm nay. Nhưng để tạo thế chủ động, không phạm sai lầm thì văn hoá lại có vai trò điều chỉnh và thúc đẩy.

Từ một xã hội thuộc địa chuyển sang chế độ dân chủ nhân dân sau Cách mạng tháng Tám 1945, nền văn hoá dân tộc ở nước ta đã bước đầu được phục hưng và có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội. Nhưng trong chiến tranh và trong mô hình xây dựng đất nước suốt mấy chục năm qua, thái độ của chúng ta đối với toàn bộ thế giới hiện đại, ở ngoài phe xã hội chủ nghĩa, là thái độ e ngại và nghi kị. Từ Công cuộc Đổi mới chúng ta đã có một cách nhìn khác- muốn làm bạn với cả thế giới- nhưng sự chuyển biến cũng còn nhiều khó khăn, muốn chuyển biến nhanh cũng phải trải một cuộc dò tìm, để chọn lựa, để loại bỏ hoặc tiếp nhận, để thích nghi và có mặt là hoà nhập. Văn hoá dân tộc và bản sắc dân tộc của văn hoá là cái từng trường tồn theo lịch sử dân tộc, giúp cho dân tộc tồn tại trước bao cuộc xâm lăng, bao biến thiên xã hội. Cũng vẫn văn hoá dân tộc và bản sắc dân tộc của văn hoá sẽ là cẩm nang giúp ta tồn tại và phát triển trong những thử thách mới của tương lai.

4. Bản sắc dân tộc trong văn hoá Việt Nam là gì? Đó quả là vấn đề thật rộng lớn, bao trùm nhiều mặt sinh hoạt tinh thần và vật chất của con người, với những nét riêng, những đặc sắc riêng, không lẫn với bất cứ ai, thể hiện trong ca dao, dân ca, chèo, tuồng; trong ca nhạc, hội hoạ, kiến trúc; trong đền miếu, đình chùa; trong phong tục, tập quán, nếp sống, ứng xử… Trong xã hội hiện đại mỗi dân tộc cần giữ cho được cái riêng của mình; vẫn và càng cần được là mình - đó là điều tưởng chừng đơn giản, nhưng quả không là dễ. Để giữ cho không cạn nguồn sữa, nguồn nuôi dưỡng ấy, để giữ cho không tắt ngọn lửa thiêng ấy, để giữ cho không tắt ngọn lửa thiêng ấy, nó là cái gốc văn hoá, cái gốc dân tộc trong bản sắc văn hoá, rất cần một nhận thức thấu đáo và quan tâm đặc biệt của bộ máy chính quyền, thông qua các thể chế, chính sách và các nguồn bảo trợ. Đồng thời cũng rất cần một bầu không khí tinh thần lành mạnh, phấn chấn, được tạo nên bởi hoạt động của mọi tầng lớp, trong đó đóng vai trò quan trọng là hoạt động của các giới trí thức văn hoá, văn học nghệ thuật, khoa học kỹ thuật, khoa học nhân văn, khoa học xã hội.

Sáng tạo văn hoá, đó là kết quả tổng hợp hoạt động của mọi tầng lớp làm nên cộng đồng dân tộc, trong hàng ngàn năm lịch sử. Từ khi được tiếp xúc với chủ nghĩa Mác, ta đã quen với nguyên lý: Quần chúng nhân dân làm nên lịch sử. Xét đến cùng đúng là như thế. Nhưng nhân dân là một khái niệm rộng, phải xác định người đại diện. Một thời dài, khi đất nước đã thoát khỏi chế độ thuộc địa, theo quan điểm giai cấp, trên các tiêu chí phân định thành phần, ta có trật tự: Công - Nông - Trí thức, với điều kiện trí thức phải được Công Nông hoá. Hẹp hơn, trong đội quân chủ lực là Nông dân, ta có Cố, Bần, Trung nông. Ngoài lớp người đó ra thì các thành phần khác đều là kẻ thù hoặc thuộc bộ phận trung gian nghiêng ngả, dao động, không đáng tin cậy. Xã hội thay đổi theo chiều hướng văn minh, với vai trò hàng đầu của cách mạng khoa học - kỹ thuật, làm thay đổi cấu trúc xã hội, làm rạn vỡ, thậm chí đảo ngược các trật tự cũ. Việc xây dựng một nền kinh tế trí thức, buộc phải sắp xếp lại các thang bậc giá trị, khiến cho tầng lớp trí thức dần dần được coi trọng. Từ nay trí thức là tri thức. Họ không còn là trí thức công nông, hoặc trí thức tiểu tư sản. Mà là một thành phần cơ bản trong các bộ phân cư dân làm nên xã hội hiện đại. Những ngộ nhận này một thời là có nguyên cớ của nó: đưa đến những căng thẳng trong cộng đồng dân tộc và làm chậm bước đi của lịch sử, đến bây giờ thì hết lý do tồn tại. Riêng trong các lĩnh vực văn hoá, tinh thần, thì đương nhiên trí thức là lớp người có vai trò sáng tạo lớn nhất, và đứng ở vị trí trung tâm.

Về yêu cầu xã hội đội ngũ trí thức trong tình hình mới, gần đây Đảng đã có các Nghị quyết; và chúng ta đang tiếp tục bàn luận và kiến nghị các phương thức thực hiện. Cái khách quan này cố nhiên là rất quan trọng, vì trong tiến trình lãnh đạo cách mạng, Đảng cũng đã có lúc sai lầm, kể từ khẩu hiệu: “Trí, phú, địa, hào. Đào tận gốc, trốc tận rễ…” đến công cuộc Cải cách ruộng đất và Sửa sai, đưa đến sự rời rã của cộng đồng và sự trì trệ và khủng hoảng trong kinh tế, xã hội. Nhưng khi cái khách quan đã thuận, hoặc tương đối thuận, thì điều kiện quyết định phải là chủ quan. Bởi lao động khoa học và lao động nghệ thuật là lao động cá nhân. Mỗi cá nhân phải biết cách vượt ra khỏi các giới hạn, các ràng buộc bên ngoài và bên trong, để có được tự do cho bản thân trong tìm kiếm, sáng tạo…

Với người trí thức, điều cần nhất là tự do tư tưởng, là tự do trong sáng tạo các ý tưởng, nhưng phải là những ý tưởng mới mẻ, không chỉ là khác người mà còn là hơn người. Đó là điều cực khó - chắc chắn thế, nhưng nếu mọi thứ đều dễ, thì đâu còn là tư cách người trí thức!

5. Thời điểm hôm nay, thời điểm loài người bước vào nền văn minh thứ ba, văn minh tin học, hoặc còn được gọi là cuộc Toàn cầu hoá lần thứ ba, vấn đề văn hoá dân tộcxã hội hiện đại, ở đất nước ta, đã có thể (hoặc mới có thể) được đặt ra trong một tương quan tích cực - song hành và thúc đẩy nhau. nếu văn hoá dân tộc là cái ta đã có, đang tìm cách gìn giữ hoặc khôi phục (do bụi thời gian phủ lấp, do binh đao, loạn lạc, chiến tranh và do cả sự vô tâm hoặc phá phách của con người) và phát triển (trong quan hệ với kế thừa), thì xã hội hiện đại lại là cái mới, mà ta đang phấn đấu để nắm hiểu và tiếp nhận. Ngay cả trên khái niệm, những khái niệm gắn với hiện đại, mang danh hiện đại, sau ba mươi năm chiến tranh, sau một quá trình xây dựng đất nước có sai lầm về mô hình, đưa tới sự kiêng sợ tất cả những gì ở thế đối lập, thuộc ngoài phe vốn gắn với định danh hiện đại (như chủ nghĩa hiện đại và hậu hiện đại trong văn học - nghệ thuật, chủ nghĩa tư bản hiện đại trong kinh tế - chính trị…) thì, từ thập niên cuối thế kỷ trước cho đến nay dường như mọi vấn đề đang cần được đặt lại. Để thấy bên cạnh các vấn đề của quốc gia, của khu vực còn tồn tại những vấn đề chung của loài người. Để thấy dân tộc là riêng, nhưng vẫn không cô lập mà là một bộ phận của nhân loại.

Như vậy, văn hoá và văn hoá dân tộc hoặc bản sắc dân tộc của văn hoá trong nghĩa đầy đủ của nó đang là vấn đề nổi lên, trở thành trọng tâm, hoặc trung tâm, trong khung cảnh Đổi mới ở Việt Nam chính vì nhu cầu bức xúc của sự phát triển đất nước theo định hướng: “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Gắn với bản sắc dân tộc và hướng tới sự đa dạng để có được những đặc sắc riêng không giống, không lẫn với bất cứ ai, dẫu là Tây hoặc Đông, là anh em xa hoặc láng giềng gần, văn hoá là cầu nối đưa dân tộc vào nhân loại, nhưng không làm cho dân tộc bị che khuất, mờ nhoà. Văn hoá dân tộc trong xã hội hiện đại - một, hướng về cái riêng, cái độc đáo và sự đa dạng; và một, hướng về những mục tiêu chung, về sự nhất thể, tưởng như trái ngược nhau, nhưng chính lại là biểu hiện biện chứng của sự phát triển thuận theo quy luật tiến lên của đời sống con người, của xã hội loài người.

Phong Lê

(Văn nghệ)

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác