Chu Cẩm Phong - Trần Tiến: Nhật ký - Một cuộc chuẩn bị

“Trong hoàn cảnh chiến tranh này, mình đã nghĩ đến những gì tàn nhẫn nhất có thể đến. Nhưng cái cuối cùng ngưng tụ lại trong lòng mình, trong suy nghĩ của mình, lóng lánh, óng ả những sắc mầu và ấm áp khôn cùng là hạnh phúc của tình yêu sáng ngời trong những hy sinh gian khổ.” Chúng ta đã gặp trọn vẹn tình cảm đó trong những trang viết của Chu Cẩm Phong.

Chu Cẩm Phong - Trần Tiến: Nhật ký - Một cuộc chuẩn bị - ảnh 1
Trang bìa tập bản thảo Nhật ký Chu Cẩm Phong do ông Hoàng Đình Hiếu tự trình bày trước 1975
Gần mười cuốn Di bút các liệt sĩ được xuất bản trong dịp kỉ niệm 30 năm ngày Giải phóng miền Nam - thống nhất đất nước. Cũng là lẽ dễ hiểu, vì tác giả hầu hết các di bút đều hy sinh ở lứa tuổi hai mươi.

Tuổi trẻ hôm nay tìm thấy trong tác phẩm của những người không trở về lời trao gửi thiết tha và nghiêm túc về trách nhiệm công dân đối với vận mệnh của Tổ quốc và sứ mệnh đưa đất nước thoát khỏi chiến tranh, đói nghèo, lạc hậu. Liệt sĩ Trần Tiến - Chu Cẩm Phong, nhà văn, nhà báo qua 840 trang sách để lại, một lần nữa nhắc nhở lương tri và tâm hồn người đọc.

*

Trên cánh đồng xã Duy Tân, xưa thuộc Xuyên Phú, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam, mấy năm gần đây có một tấm bia ghi lại sự kiện đã xảy ra ngày 01-5-1971. Nội dung tấm bia cho ta biết, trong ngày đó, ở một căn hầm bí mật dưới rặng tre ven suối về phía đông nam nơi đặt bia, từ 10 giờ đến 14 giờ đã diễn ra cuộc chiến đấu quyết liệt giữa tám cán bộ chiến sĩ với hơn một tiểu đoàn liên quân Việt - Mỹ. Trong trận đó, cả bốn người thoát được; bốn người đã hy sinh khi bị lựu đạn ném vào hầm. Đó là hai nữ y sĩ Nguyễn Thị Xuân Ca và Nguyễn Thị Ta đều quê ở Điện Bàn thuộc K650 Ban lương thực tỉnh, anh Nguyễn Tiềm là Thường vụ Huyện uỷ, Trưởng ban An ninh huyện Duy Xuyên. Người thứ tư, được ghi tên đầu danh sách với nội dung: Nhà văn - nhà báo Chu Cẩm Phong - Trần Tiến sinh ngày 12-8-1941, quê tại thị xã Hội An. Năm 1954 theo cha tập kết ra miền Bắc, học tại trường miền Nam số 24 Hải Phòng. Năm 1964 vào chiến trường, là phóng viên Thông tấn xã Việt Nam tại khu V. Từ 1965 là cán bộ sáng tác, biên tập của Hội Văn nghệ Trung Trung Bộ.

*

Đồng đội ông kể rằng: Khi khui hầm bí mật, bọn nguỵ thấy lẫn trong mớ giấy tờ tài liệu bị xé, vùi dưới đất, chúng còn nhặt được một cuốn sổ tay. Viên sĩ quan tác chiến sau khi xem qua đã đem về tặng chiến lợi phẩm này cho một sĩ quan phòng chiến tranh chính trị (tâm lý chiến) sư đoàn 3. Trái với động cơ khai thác để biết những bí mật quân sự của đối phương, viên sĩ quan đã bị hớp hồn bởi cuốn nhật ký rách tả tơi, bị mảnh lựu đạn xé một góc, đã hé mở cho anh ta thấy một thế giới tinh thần, trí tuệ và tình cảm khác lạ đầy sức lôi cuốn của người bên kia chiến tuyến. Cảm phục người đã bị đồng đội anh ta tàn sát, thay vì phải nộp vào lưu trữ, anh ta giữ cuốn sổ cho riêng mình. Mươi hôm sau giải phóng Đà Nẵng (29-3-1975), có một người khách lạ tới trụ sở Hội Văn nghệ Trung Trung Bộ tìm gặp nhà thơ Bùi Minh Quốc (vì đã nghe anh đọc và giới thiệu thơ văn các căn nghệ sĩ đã hi sinh mấy ngày trước đó) và đưa lại cho anh một gói nhỏ. Nhà thơ sửng sốt nhận ra đó là cuốn nhật ký của người bạn học cùng khoá ở Đại học Tổng hợp Hà Nội, là đồng chí trong cơ quan. Lạ hơn nữa là cuốn nhật ký đã được bao một lớp bìa mới và trang trí thêm hình một thân cây mọc thẳng ngang tàng đang nở hoa dưới ánh mặt trời chói chang.

Cùng đồng đội trong Hội Văn nghệ giải phóng Trung Trung Bộ, nhà thơ Bùi Minh Quốc đã sưu tầm, hiệu đính để có một Tuyển tập Chu Cẩm Phong (1) dày 840 trang vừa được xuất bản. Trong đó phần nhật ký - thực chất là ghi chép, chiếm 640 trang.

*

Chu Cẩm Phong - Trần Tiến: Nhật ký - Một cuộc chuẩn bị - ảnh 2
Chu Cẩm Phong
Chu Cẩm Phong là sinh viên giỏi khoá V nên được giữ lại và là một trong tám người học năm thứ tư đầu tiên của khoa Ngữ văn Đại học Tổng hợp Hà Nội. Trong khi nhiều bạn bè lao vào học văn học hiện đại thì Bí thư Chi đoàn lớp, Cán bộ Đoàn của trường, là trường hợp cá biệt được kết nạp vào Đảng ở năm thứ ba, Trần Tiến - tên khai sinh của Chu Cẩm Phong - lại có niềm say mê đặc biệt với văn học cổ. Luận văn tốt nghiệp năm thứ ba có đề tài: Từ nhân vật Thuý Kiều của Thanh Tâm Tài nhân đến Thúy Kiều của Nguyễn Du: Sáng tạo nghệ thuật của nhà thơ dân tộc. Năm thứ tư còn khó hơn: Chủ nghĩa nhân đạo trong thơ chữ Hán của Nguyễn Du.

Anh đang được đào tạo để trở thành một chuyên gia về văn học Hán Nôm. Nhưng quê hương miền Nam, ở Hội An còn bà mẹ và em đang ngày đêm trông đợi. Cùng Hồng Tân, một bạn học cùng khoá quê ở Nam Bộ, cuối 1964, Trần Tiến được về Nam.

*

Nếu cùng khoá, Bùi Minh Quốc, Trần Nhật Lam đã có thơ trong Tuyển tập thơ Việt Nam 1945-1960, vài bạn đã có bài trên các báo từ năm thứ nhất, thì Trần Tiến vẫn miệt mài để có vốn kiến thức vững vàng về văn thơ chữ Hán. Thật không dễ dàng khi vào chiến trường phải làm nhiệm vụ của một nhà báo ở Thông tấn xã khu V. Chiến tranh phát triển, không đâu như ở Khu V, ngay trong những ngày khó khăn ác liệt nhất, lực lượng văn công, văn nghệ của Quân khu, của Khu V, của các tỉnh được đặc biệt chú ý tổ chức, đào tạo và hoạt động. Ngoài tờ Tạp chí Văn nghệ quân giải phóng Trung Trung Bộ, còn có các báo của Quân khu V, của các tỉnh. Từ đây lực lượng văn thơ nhạc hoạ đã có nhiều tên tuổi nổi tiếng cả nước. Số văn nghệ sĩ hi sinh có dễ gần trăm người! Trong bảo tàng ở Đà Nẵng có một tấm bia ghi tên các liệt sĩ văn nghệ! Nhưng, từ đây cả nước được đọc các tác phẩm của Nguyên Ngọc, Nguyễn Chí Trung, Phan Tứ, Thu Bồn. Dương Hương Ly, Ngọc Anh, Dương Thị Xuân Quý, Vương Linh, Nguyễn Trọng Định, Nguyên Hồng, Thanh Quế, Cao Duy Thảo, Nguyễn Trí Huân, Thái Bá Lợi, Nguyễn Bảo, Trung Trung Đỉnh… Thuộc lớp giữa, nhưng Chu Cẩm Phong- bút danh khi vào chiến trường - có một vị trí đặc biệt: bởi anh là cán bộ Đảng, là một đảng viên mẫu mực, là một người đồng chí luôn sẵn sàng nhận việc khó, việc cần hy sinh, việc cần tới nơi chiến sự ác liệt. Và khi ở hậu cứ lại làm việc tăng gia tự túc, làm nương, chặt cây- cây lớn cả vài vòng tay ôm- làm rẫy, trồng ngô, lúa, trỉa sắn; ở hậu cứ thì làm lán, đào công sự…

Tất cả thực tế đó thể hiện đầy đủ, thú vị trong nhật ký.

Phần đã viết - Truyện và Ký - sau khi nhà văn mất đã được tập hợp trong Mặt biển, Mặt trận (2). Quán xuyến trong những trang viết của Chu Cẩm Phong là một tình yêu rất đậm với quê hương, với những người đang chiến đấu: Đã xúc động chứng kiến và trực tiếp tham gia vào những giai đoạn thăng trầm, gian lao, quật cường vật lộn với giặc ở quê hương, anh kể lại với giọng nhỏ nhẹ mà điềm tĩnh, hiền lành mà suy tư sâu lắng. Khi vui không ồn ào, khi buồn không bi luỵ, khi chiến đấu ác liệt cũng không lên gân. Đây là cốt cách văn phong cũng là của chính con người Chu Cẩm Phong.

Phần nhật ký - thực chất là ghi chép của nhà văn được viết liên tục từ tháng 7-1967 đến ngày 27-4-1971 ba ngày trước khi tác giả hi sinh. Đọc đầy đủ nhật ký của Chu Cẩm Phong, mà phần cuối, như đã biết, 4 năm sau ngày tác giả hy sinh, người lính Cộng hoà đã giữ gìn và gửi lại, chúng ta thấy tầm vóc của một nhà văn lớn đang được chuẩn bị một cách chắc chắn.

Theo nhà thơ Bùi Minh Quốc:

Chu Cẩm Phong đi nhiều và luôn đi phía trước, rất xông xáo… Năm 1966 anh có mặt ở Hoà Hải, một xã trọng điểm (về sau xã hai lần được tuyên dương Anh hùng). Ở đấy số lính Mỹ đông bằng số dân nhưng nhân dân và lực lượng vũ trang lại là ngọn cờ tiêu biểu trên vành đai diệt Mỹ… Anh cũng như các cán bộ địa phương ngày rúc hầm bí mật, đêm đội nắp hầm lên đi gặp dân làm công tác phát động, xây dựng lực lượng. Năm 1967 xuống Đông Sơn Tịnh (Quảng Ngãi); xuân hè 1968 về vùng ven Hội An nơi anh có bà mẹ đang bị tù đày vì tham gia hoạt động cách mạng; xuân hè 1969 bám vùng đất Bình Dương, Thăng Bình (Quảng Nam), rồi tiếp đó trở lại Hoà Hải khi cuộc vận lộn giữa ta và địch ở đây ác liệt hơn bao giờ hết. Chuyến ấy, anh đã có lần phải mặc giả phụ nữ để theo các em gái giao liên vượt qua những đoạn đường sát địch giữa ban ngày. Lần đó anh cùng một phóng viên quay phim và một phóng viên ảnh thoát chết nhờ sự hy sinh anh dũng của bốn nữ chiến sĩ giao liên…

Anh chị em ở cơ quan văn nghệ Khu V không bao giờ quên được cái đói gay gắt của các năm 1968-1969-1970 và nửa đầu năm 1971. Rẫy sắn tự túc của văn nghệ ở Đăk Bui liên tiếp bị địch rải chất độc hoá học. Những tháng ngày triền miên phải ăn thân cây dớn (một loại dương xỉ), củ nưa (móng ngựa), nếu có sắn thì cũng là thứ ngấm chất độc đắng ngắt…

Trong hoàn cảnh đó, Chu Cẩm Phong vẫn luôn là người kiên định, vững vàng và hết lòng lo cho đồng đội.

*

Cũng như nhật ký các liệt sỹ cùng thế hệ, một điều làm chúng ta xúc động sâu xa, là mỗi người ra trận đều mang theo một tình yêu rất đẹp. Đã có bạn gái trước khi đi B, nhưng để cho người ở lại không phải chịu gánh nặng tình cảm của sự xa cách, họ đã chia tay. Chính vì điều đó, ở chiến trường, được đồng đội vun đắp, mà tình yêu mới đến với Chu Cẩm Phong rất khó khăn.

Vẫn theo lời nhà thơ Bùi Minh Quốc:

Cuối tháng 3-1971, rẫy đốt vừa xong, lúa vừa trỉa, Chu Cẩm Phong hăm hở trở lại đồng bằng Quảng Đà. Anh hy vọng chuyến đi này về sẽ gặp được mẹ sau ngót hai mươi năm xa cách. Trên đường, anh dừng một ngày ở Đak Vin để chia tay người yêu mà lời đính ước chỉ vừa mới trao nhau trước đó hai tuần. Sau bao nhiêu trăn trở day dứt bởi những trở lực nảy sinh từ cảnh ngộ đặc biệt của chiến tranh và chia cắt, họ đã tìm thấy nhau và đến với nhau bằng một tình yêu thăng trầm và táo bạo.

Nhưng, Chu Cẩm Phong đã không được ăn chén cơm mới từ cái rẫy do anh chủ lực khai phá, không bao giờ còn được gặp mẹ, không bao giờ trở thành chú rể. 30 ngày sau buổi chia tay với người yêu, anh hy sinh.

Nhà văn, nhà báo Hồ Duy Lệ, hiện là Chủ tịch Hội Văn nghệ Quảng Nam, là người chủ trì vận động bạn bè, đồng chí, đồng đội và cơ quan đoàn thể đóng góp dựng bia tưởng niệm các liệt sỹ hy sinh ở ven rặng tre thôn Vĩnh Cường, xã Xuyên Phú ngày nào, đã cất công tìm về chiến trường cũ, lắng nghe các nhân chứng kể lại những phút cuối của nhà văn, nhà báo Chu Cẩm Phong. Sự tích trận đánh được ghi ở hai mặt tấm bai bằng đá thanh lấy từ Ngũ Hành Sơn.

*

Trên góc, đầu cuốn nhật ký - ghi chép của nhà văn, nhà báo Chu Cẩm Phong có ghi hai câu thơ cổ bằng Hán tự:

Văn vô sơn thuỷ phi kỳ khí

Nhân bất phong sương vị lão tài.

(Tạm dịch nghĩa:

Văn không có sơn thuỷ không có được khí lạ

Người không từng trải phong sương khó mà có tài lớn).

Ý thức rõ điều đó, nhà văn trong quá trình thực hiện xuất sắc nghĩa vụ công dân của một đất nước đang bị xâm lược, trong vị trí một người cán bộ chính trị - chiến đấu trực tiếp bằng ngòi bút và khẩu súng, đã chuẩn bị kỹ càng tư liệu cho các tác phẩm văn học tương lai như Trần Đăng, Nguyễn Thi, các nhà văn đàn anh đi trước. Nhưng như một quyết tâm, một linh cảm, nhật ký ngày 24-3-1970 ghi:

Trong hoàn cảnh chiến tranh này, mình đã nghĩ đến những gì tàn nhẫn nhất có thể đến. Nhưng cái cuối cùng ngưng tụ lại trong lòng mình, trong suy nghĩ của mình, lóng lánh, óng ả những sắc mầu và ấm áp khôn cùng là hạnh phúc của tình yêu sáng ngời trong những hy sinh gian khổ.

Chúng ta đã gặp trọn vẹn tình cảm đó trong những trang viết của Chu Cẩm Phong.

Tháng 5-2005

Ngô Thảo

------------

(1) Nhà xuất bản Đà Nẵng

(2) Nhà xuất bản Văn nghệ Giải phóng

 

 

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác