Chào mừng Đại hội IV Hội văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam

Hội VHNTDTTSVN đến nay đã có 738 hội viên, 30 tổ chức cơ sở Hội và Chi hội trên 40 tỉnh, thành trong cả nước. Các hội viên gồm nhiều thành phần dân tộc: Tày, Nùng, Thái, Mông, Mường, Dao, Kinh, Giáy, Khmer, Chăm, Hoa, Sán Chay, Hà Nhi, Khơ Mú, Lô Lô, Xa Phó, Pa Dí, Bố Y, Lê Chính, Êđê, Bana, Giarai, Raglay, Hrê, MNông, XTiêng, Xêđăng, Vân Kiều, Kadong, Cơtu, K’Ho, Châuro... Như vậy khoảng hơn 35 dân tộc trong tổng số 54 dân tộc đã có hội viên, trong đó một số dân tộc mới có 1 hội viên, còn hơn 20 dân tộc chưa có hội viên.

VĂN NGHỆ NƯỚC NHÀ ĐÔNG ĐÚC ANH EM

(Về đội ngũ và hội viên Hội VHNTDTTSVN)

Nguyên Đăng

Hội VHNTDTTSVN đến nay đã có 738 hội viên, 30 tổ chức cơ sở Hội và Chi hội trên 40 tỉnh, thành trong cả nước. Các hội viên gồm nhiều thành phần dân tộc: Tày, Nùng, Thái, Mông, Mường, Dao, Kinh, Giáy, Khmer, Chăm, Hoa, Sán Chay, Hà Nhi, Khơ Mú, Lô Lô, Xa Phó, Pa Dí, Bố Y, Lê Chính, Êđê, Bana, Giarai, Raglay, Hrê, MNông, XTiêng, Xêđăng, Vân Kiều, Kadong, Cơtu, K’Ho, Châuro... Như vậy khoảng hơn 35 dân tộc trong tổng số 54 dân tộc đã có hội viên, trong đó một số dân tộc mới có 1 hội viên, còn hơn 20 dân tộc chưa có hội viên.

Nhiệm kỳ vừa qua Hội đã thành lập thêm 2 Chị hội Đak Nông và Vĩnh Phúc, kết nạp thêm 150 hội viên thuộc các thành phần dân tộc khác nhau. Hầu hết hội viên chuyên ngành văn  học, sưu tầm, nghiên cứu đều ra được sách. Có không ít tác giả xuất bản hơn 10 đầu sách. Có họa sĩ tổ chức tới gần 10 cuộc triển lãm tranh cá nhân. Nhiều ca sĩ, nhạc sĩ đã xuất bản băng đĩa tác phẩm riêng...

Những dân tộc dân số không đông nhưng đã có đại diện tinh thần đầu tiên của mình trong văn học nghệ thuật cả nước: dân tộc Giáy - nhà thơ Lò Ngân Sủn, Pa Dí (một nhóm địa phương thuộc dân tộc Tày) - nhà nghiên cứu Lò Giàng Páo; La Chí - NSNA Vương Văn Phát; Xá Phó - nhà nghiên cứu Má Thị Thu Hà, Sán Dìu - tác giả trẻ Ôn Trái Trần...

Hai dân tộc Tày - Nùng có đông nhà văn, nhà thơ, bên cạnh những người nổi tiếng như Nông Viết Toại, Mã Thế Vinh, Triều Ân, Vi Thị Kim Bình, Y Phương, Dương Thuấn, Bế Thành Long, Cao Duy Sơn, Triệu Lam Châu, Nông Thị Ngọc Hòa, Lương Định, Hữu Tiến, Đoàn Lư... và xuất hiện hàng loạt cây bút sung sức: Dương Khâu Luông, Tạ Thu Huyền, Hoàng Hoa Cương, Đinh Trọng Tuấn, Đoàn Ngọc Minh, Bế Phương Mai, Bế Kha, Đinh Thị Mai Lan, Hoàng Kim Dung...

Dân tộc Thái có các nhà văn Vương Trung, La Quán Miên, Lò Cao Nhum, thêm Cầm Hùng, La Quốc Khánh, Kha Thị Thường...

Dân tộc Dao có Bàn Tài Đoàn, Triệu Kim Văn.

Dân tộc Mường góp cho văn đàn Vương Anh, Hà Thị Cẩm Anh, Đinh Đăng Lượng, Hà Trung Nghĩa, Bùi Tuyết Mai, Cao Sơn Hải, Bùi Nhị Lê... và những nhà nghiên cứu Bùi Thiện, Bùi Chí Thanh, Đinh Ân...

Dân tộc HMông đã có Mã A Lềnh, Hùng Đình Quý, Mùa A Sấu... nay thêm Hờ A Di, Lầu A Sa...

Trong kháng chiến chống Mỹ, Tây Nguyên chỉ có hai nhà văn Y Điêng dân tộc Êđê và Nay Nô dân tộc Bana, đến nay có thêm 3 nhà văn nữ là HLinh Niê (Êđê), Kim Nhất (Bana), Nga Ri Vê (H’Rê), hiện có những cây bút sung sức: Hồ Chư (Bru - Vân Kiều), BCoong Mọc (Cơtu) và Niê Thanh Mai (Êđê). Hiện tượng đáng ghị nhận là tác giả KPa YLăng dân tộc Bana (nay ở Thành phố Hồ Chí Minh) và tác giả Prêkimalamak dân tộc Chau Ro (nay là Bà Rịa - Vũng Tàu) nổi tiếng về những bài thơ Tây Nguyên chống Mỹ, vẫn say sưa sáng tác. Trong thời kỳ đất nước thống nhất và đổi mới, các nghệ sĩ, nhạc sĩ, họa sĩ dân tộc thiểu số càng rực rỡ như cả một vùng hoa:

Dân tộc Bana có NSND YBrơm, Măng Ngọc (Biện đạo múa), Siu Phích, Siu BLack, YGiang Tuyn (ca sĩ), Thảo Giang, A Duh (nhạc sĩ)... Dân tộc Êđê có: Y Moan, Y Zăk, Y Sơn Niê... (ca sĩ), Linh Nga Niê KĐăm, Y Phôn KSor (nhạc sĩ)... Dân tộc H’Rê có NSND Đinh Xuân La (múa), NSƯT Rơ Chăm Phiang (ca sĩ)... Dân tộc K’Ho có: K’ra Zan Đick, K’ra Zan Plin (nhạc sĩ), Ka Thiếu, Boner Trinh (ca sĩ); dân tộc H’Rê có Đinh Thiên Nga (nhạc sĩ)... Những tác phẩm hội họa và điêu khắc của các họa sĩ Xu Man (Bana), A Nhú (Xê Đăng), MLô Kai, Mlô Hiu, Ykô Niê, Y Nhi Ksor (Êđê)... khá đậm bản sắc văn hóa Tây Nguyên, trong đó Xu Man (đã mất) và A Nhú đang được giới mũ thuật đánh giá cao. Không ít văn nghệ sĩ thân thiết với các nghệ nhân đã sưu tầm và giới thiệu được nhiều công trình văn học, nghệ thuật truyền thống của Tây Nguyên rất có giá trị, tiêu biểu là Rmah Del, Nay Kỳ Hiệp (Giarai), Aza (Bana), Linh Nga Niê KĐăm, Y Điêng (Êđê), Nga Rivê (Hrê), Y Thanh Si Nur (MNông)...

Dân tộc Khmer Nam Bộ có những tác giả kịch bản và đạo diễn sân khấu Kim Siêu, Thạch Voi, Tăng Lên, Thạch Chân, Ngô Khị, âm nhạc có Sơn Lương, Sơn Ngọc Hoàng (Sơn Chanh Đra), mỹ thuật có Lý Lết và nữ họa sĩ trẻ Kim Nhim Katy.

Cộng đồng người Hoa mở các câu lạc bộ Lân - Sư - Rồng, Tư Pháp, Nhiếp ảnh, Văn Hữu và ra chuyên san cho các tác giả trẻ là thày trò các trường dạy tiếng Hoa. Có thể nói, người Hoa ở đất Việt đã góp cho nền mỹ thuật Việt Nam một ngọn bút Quốc họa tiêu biểu: Trương Hán Minh.

Dân tộc Chăm có những văn nghệ sĩ tiêu biểu, như nhà thơ Inrasara với các tập thơ và nhiều bài phê bình thơ thu hút sự chú ý bởi tính công phu, nghiêm túc và thẳng thắn, nhạc sĩ Amư Nhân, các họa sĩ Đàng Năng Thọ, Thành Văn Sưởng (đã mất), gần đây thêm Chế Kim Trung, và trong sáng tác văn học có Trà Vigia với nhiều hứa hẹn.

 

KHÔNG THỂ THIẾU NGÔN NGỮ DÂN TỘC THIỂU SỐ !

(Trích tham luận tại đại hội)

Vương Trung (nhà văn, dân tộc Thái)

Văn hóa Việt Nam, bên cạnh nền văn hóa của người Kinh dân tộc chủ thể của nước ta, còn có nhiều nền văn hóa của các dân tộc thiểu số anh em khác góp thành. Nó giống như nhiều loài cây, mỗi loài mỗi sự cấu tạo, cội cành riêng, hoa lá riêng và màu sắc riêng mà hợp thành rừng lớp phong phú dáng vẻ, sắc thái, hương vị... Như vậy việc xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc không thể bỏ qua văn hóa của các dân tộc thiểu số anh em, mà nhất thiết phải chú trọng xây dựng và phát triển văn hóa cụ thể của từng dân tộc anh em trong đại gia đình Việt Nam. Văn học - nghệ thuật là một bộ phận quan trọng trong nền văn hóa, cho nên cần phải tích cực xây dựng văn học - nghệ thuật của các dân tộc thiểu số anh em không ngừng phát triển cả số lượng lẫn chất lượng. Hội VHNTDTTSVN giữ trọng trách trong nhiệm vụ này.

Hội VHNTDTTSVN từ khi thành lập cho đến nay nói chung, trong mấy năm qua nói riêng đã cố gắng giải quyết nhiều vấn đề đáng tự hào. Song, trước tốc độ biến đổi nhanh đến chóng mặt của xã hội ngày nay, văn học - nghệ thuật của các dân tộc thiểu số chúng ta đồng thời có những thuận lợi và những khó khăn không nhỏ. Thuận lợi là Đảng và Nhà nước đã tạo mọi điều kiện cho ta, ưu ái ta, nhân dân cả nước ủng hộ ta. Khó khăn là nội lực của ta có hạn, nên ta chưa làm được nhiều cho ta như mong muốn. Với lại những cái của ta đã làm thì có cái nên ta, có cái chưa hẳn nên ta, có cái nên ai đó. Dĩ nhiên hiện tượng nào cũng đều có nguyên do của nó. Chúng tôi chưa dám nói nguyên do ở các vùng dân tộc thiểu số khắp cả nước, chỉ xin nêu ở vùng Tây Bắc. Theo chúng tôi thấy, nó ở những lẽ như sau:

Lực lượng anh em dân tộc thiểu số vượt khó, xắn tay làm văn học - nghệ thuật thì có đấy, nhưng so với yêu cầu phục vụ vẫn còn quá mỏng, chưa thấm tháp vào đâu. Đã thế lại phát triển không đồng đều. Chỉ một số người, đếm đầu ngón tay, có được cả vốn sống thực tiễn dân tộc, cả trình độ học vấn và khá về tay nghề. Còn phần nhiều thì được này thiếu nọ. Chẳng hạn những người có vốn sống thực tiễn về dân tộc lại bị hạn chế về học vấn, chưa đủ khả năng tự học để nâng cao tay nghề. Những người có trình độ học vấn đủ khả năng tự học để luôn luôn nâng cao tay nghề lại hay thiếu vốn sống thực tiễn về dân tộc, chưa hiểu những cái tinh túy, sâu đậm của văn hóa dân tộc, bởi thế trong họ thiếu hẳn tâm lý, tâm tư, tình cảm của dân tộc. Cái mạnh của họ là có kiến thức rộng về quan hệ tổ chức xã hội, về giao lưu tình cảm phố phường và tích lũy kiến thức trên sách báo, trên các phương tiện thông tin đại chúng. Bởi những nguyên nhân do trên nên kết quả sáng tác như sau: Những tác giả có kiến thức thấu hiểu dân tộc, tác phẩm của họ chưa sống động, chưa đậm đà bản sắc dân tộc. Nói một cách khác, chưa thực sự là tác phẩm của dân tộc. Song, bởi sự hạn chế học vấn mà khó có thể tiếp tục nâng cao tay nghề, vẫn phải chịu cảnh giẫm chân tại chỗ. Nhìn vào từng tác phẩm tách riêng thì được đấy, thậm chí còn khá đấy. Nhưng đem đặt các tác phẩm bên nhau thì thấy lặp đi lặp lại nhau rất nhiều. Còn những tác giả có trình độ học vấn, có kiến thức rộng về xã hội thì tác phẩm của họ kết cấu đa dạng phản ánh đa chiều, nhưng bởi thiếu trường vốn, thiếu hiểu biết thực chất dân tộc nên họ chỉ có được vài tác phẩm ban đầu hay, về sau lại nhạt dần. Họ dựng nên tác phẩm bởi toàn những vốn kiến thức tích cóp từ sách báo và các phương tiện thông tin đại chúng. Nó chẳng khác gì góp nhặt thực phẩm của người ta đã nấu nướng mà chế biến lại, khéo ra thì mất sự đậm đà ngon ngọt của nguyên chất, có khi còn khó nuốt. Như dân gian thường nói “ngon mắt không ngon lưỡi, ngon mũi không ngon cổ”.

Các dân tộc rất mong muốn được hưởng thụ những tác phẩm bằng ngôn ngữ của mình. Nhưng khó khăn thay, tình hình sáng tác bằng tiếng dân tộc chưa được phát triển cho lắm. Những tác phẩm bằng tiếng dân tộc tuy có, nhưng so với nhu cầu phục vụ chung của bà con dân tộc thì chỉ như những hạt mưa rơi lác đác trên bãi khô cằn. Ngặt nỗi một số không ít cây bút có học vấn và trẻ lại bỏ qua tiếng mẹ đẻ, chỉ thiên về sáng tác bằng tiếng phổ thông. Vấn đề này cũng xuất phát từ thực tế khách quan: Một số dân tộc chưa có chữ riêng; một cố ít dân tộc có chữ riêng, nhưng bộ chữ chưa được hoàn chỉnh, chưa được thực sự tạo điều kiện và coi trọng đúng mức. Trong khi đó, yêu cầu sáng tác phải ngày càng đa dạng hình thức, phong phú nội dung, có muốn làm thơ tự do, viết văn xuôi cũng chưa thể đủ chữ nghĩa dân tộc, đành phải làm bằng tiếng phổ thông.

Nhưng rồi vẫn hiển nhiên tồn tại một sự thể trái ngược: Đại đa số các dân tộc thiểu số anh em chưa đủ trình độ học vấn và ngôn ngữ thưởng thức các tác phẩm bằng tiếng phổ thông. Như vậy, các tác giả dân tộc thiểu số tuy đã có nhiều tác phẩm, thậm chí còn nổi trội, nhưng chính dân tộc của mình lại mất nhờ, bởi không có điều kiện mà hưởng thụ, mà lưu giữ trong lòng. Thiếu tác phẩm bằng tiếng dân tộc truyền thống kế tiếp gợi ý về cách nhìn, cách nghĩ, về đặc điểm tâm hồn, tâm tư, tâm lý, tình cảm... thì dĩ nhiên sẽ dẫn đến hậu quả là thế hệ người viết mai sau sẽ vợi hẳn những nét đậm đà bản sắc của dân tộc mình. Bấy giờ sẽ có tác giả là người dân tộc mà tác phẩm thì chẳng phải của dân tộc mình nữa.

Trong vấn đề trên, nhìn qua quả đáng trách. Nhưng xét kỹ thì kể cũng tội nghiệp. Anh em sáng tác bằng tiếng dân tộc thiếu chỗ để in ấn tác phẩm, có chăng cũng chỉ nhỏ giọt từng ít bài trên các tập san của hai cấp Hội. Dù sáng tác được nhiều cũng không in nổi tập sách riêng của mình bằng tiếng dân tộc, tên tuổi chẳng được mấy ai biết đến. Người nào có trình độ tự dịch được tác phẩm của mình ra tiếng phổ thông mới có cơ đúng được một tí. Trái lại, những tác giả sáng tác bằng tiếng phổ thông thì có nhiều nơi in tác phẩm, kể cả bài lẻ lẫn cả tập, tên tuổi nhanh chóng vang bay xa.

 

(Văn nghệ)

 

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác