Cánh chim non nơi cổng trời biên cương Tổ quốc

 

(Toquoc)- Đã từ lâu lắm rồi, tôi chưa đọc cuốn tiểu thuyết nào viết về Mặt trận Việt Minh và phong trào cách mạng ở vùng cao núi đá Hà Giang, vào những năm đầu thập niên 40 đến thời kỳ Nhật đảo chính Pháp và đánh chiếm Hà Giang như cuốn Cánh chim kiêu hãnh (*) của nhà văn Đỗ Bích Thúy, người được xem là khá có duyên với mảnh đất này qua những trang văn từ hơn mười năm về trước.

https://mail-attachment.googleusercontent.com/attachment/u/0/?view=att&th=14a9ad1d85b5c188&attid=0.1&disp=inline&realattid=f_i4b5m79j0&safe=1&zw&saduie=AG9B_P-a548NiHPnZunYlyV0IZFp&sadet=1420705829738&sads=naEBDJjxgA0Pnyf05fAeZ2KTWaM


Cuốn sách không dày lắm nhưng đủ để cho tất cả chúng ta, đặc biệt là thế hệ trẻ hôm nay, những người được sinh ra và lớn lên trong hòa bình, độc lập tự do của đất nước, hình dung ra được phần nào những khó khăn, vất vả, những hy sinh xương máu trong thời kỳ gây dựng phong trào cách mạng chống thực dân Pháp và Nhật ở mảnh đất địa đầu của Tổ quốc đầu những năm 40 của thế kỷ XX.

Mai là nhân vật chính của tiểu thuyết, một nữ cán bộ Việt Minh trẻ tuổi, người dân tộc Tày. Ngay từ nhỏ, cô thường theo cha đi săn chim cu gáy và ước gì mình sẽ trở thành một con chim để có thể tự do bay khắp bầu trời cao xanh lồng lộng ở miền biên tái này. Một lần đi săn, bố hỏi Mai ước gì, cô trả lời ngay: Con muốn được làm một con chim bố ạ. Làm chim thì đi lại đỡ mỏi chân, muốn lên nương đưa cơm cho mẹ, bay ù một cái đã tới nơi (1).  

Thế nhưng, ước mơ con trẻ của Mai đã bị khựng lại khi bố phải mang bán đứa con gái rất đỗi thương yêu của mình cho nhà lý trưởng để gán món nợ vay làm ma cho ông nội khi cô còn chưa kịp lớn. Làm con ở cho nhà lý trưởng, Mai càng chứng kiến bao cảnh đời trớ trêu, chướng tai gai mắt. Một hôm, trên đường đi cắt cỏ Mai tận mắt chứng kiến một thằng cu lít (lính Pháp) giơ dùi cui vụt vào gáy một em bé đang mút nước ở kho muối chảy ra làm nó ngất lịm. Cảnh dân làng trên, xóm dưới có nhiều người chết. Chết đói, chết bệnh, chết vì bị đánh, bị giết, các đám tang không mời ông Then nữa. Mâm cơm cúng người chết còn khó kiếm, nòi gì đến lễ lạt mời ông Then (2), hàng ngày diễn ra trước mắt cô.  

Đã vậy, tuy chỉ là đứa ở quanh năm suốt tháng chỉ biết đi cắt những bó cỏ cao to hơn cả đầu mình cho đàn dê, lũ ngựa nhà lý trưởng, nhưng càng lớn Mai càng xinh, càng xinh lại càng có nguy trở thành miếng mồi ngon cho quan Pháp và bọn tay sai. Ở cái xứ sở khỉ ho cò gáy này, bất luận là đứa trai nào dù là người Mông hay Tày, Dao hay Pháp nhìn thấy đứa gái Tày mới vào tuổi dậy thì, da trắng nõn, mắt đen lúng liếng, má hồng, môi đỏ giống quả nhót chín như Mai, không thèm nhỏ rãi ra mới là chuyện lạ.

Ngờ đâu, có một đứa trai, tên Chúng, lùa cả một đàn dê đến nhà lý trưởng chuộc Mai về làm vợ. Dường như lúc này cuộc đời Mai bắt đầu rẽ sang một hướng khác, sáng sủa hơn? Chuộc được Mai, hai người nên vợ thành chồng. Cực một nỗi, cứ phải loay hoay mãi rồi hai vợ chồng trẻ này mới có được một đứa con. Trớ trêu là khi thằng cu Dí, chưa kịp chào đời, thì bố Chúng của nó bỏ nhà ra đi. Đi đâu, cả Mai, mẹ chồng và làng xóm đều không hay biết. Mãi sau này, trong một lần thèm vợ, Chúng xin về, gần đến nhà thì bị bọn lính dõng (tuần tra) bắt được, chặt đầu  treo nơi đầu làng. Đến khi ấy, Mai mới biết là Chúng bỏ đi theo Việt Minh. Cũng từ đấy bọn Pháp và tay sai luôn lùng sục cái làng nhỏ Đường Âm này, mà nhà Mai là mục tiêu chúng thường để mắt tới.

Quyết trả thù cho chồng và những người dân lành vô tội, Mai xin tham gia Việt Minh. Lúc đầu mở lớp dạy chữ quốc ngữ cho đám thanh niên trong làng. Bị lộ tổ chức quyết định đưa Mai lên hoạt động ở vùng đồng bào Mông trên Đường Thượng, khi thằng cu Dí mới hơn một tuổi, còn chưa kịp cai sữa. Lên vùng người Mông, Mai cũng được phân công dạy chữ, vì cũng may Mai biết cả tiếng Mông. Ngày mở quán bán rượu, thu thập tin tức của địch, tối dạy chữ cho dân làng. Nỗi thương mẹ chồng già và nhớ đứa con nhỏ làm cho bầu ngực người mẹ trẻ lúc nào cũng đau nhức và ướt đầm sữa. Mai phải cố gắng lắm mới vượt qua được những lần cồn cào gan ruột như vậy. Trước đây, nam giới xa nhà đi hoạt động bí mật đã là cực khổ rồi huống hồ phụ nữ có con mọn. May mà công việc cách mạng giao bận tối mắt tối mũi, cũng ít nhiều làm cho Mai khuây khỏa. Lại nữa, với bản tính thích bay nhảy, tự do từ bé, Mai chưa bao giờ thấy khổ, mà dường như càng gian khổ, cô càng tỏ rõ bản lĩnh và có ý chí hơn, chứng tỏ mình là một cán bộ nữ Việt Minh  mẫu mực. Tổ chức phân công việc gì Mai cũng làm và đều hoàn thành tốt nhiệm vụ, nhất là vận động thanh niên trong làng bản tham gia các tổ chức đoàn đội của Việt Minh để đánh đuổi giặc Pháp và bè lũ quan lại lý trưởng, thổ ty, lính lệ suốt ngày hà hiếp dân lành, khiến họ đã khổ lại càng cùng cực hơn.

Tất nhiên là, bên cạnh Mai còn có nhiều đồng chí khác như Việt Hưng, Tuấn, Sinh… và hàng trăm đồng bào Mông đồng tình ủng hộ. Mai còn nhớ như in buổi kết nạp đội viên mới vào đội Việt Minh ở Đường Thượng tại nhà xã đoàn trưởng Vàng A Váng, họ đã xin thề rằng: Tôi xin thề suốt đời trung thành với Việt Minh, trung thành với cán bộ Hưng, cán bộ Mai, nếu tôi phản bội, sẽ chết ngay lập tức như con gà vừa bị chọc tiết (3)! Chỉ vậy thôi cũng đủ làm cho Mai như được cởi tấm lòng, khi biết mình đang làm một việc thực sự có ích cho đồng bào mình. 

Những ngày đầu vận động người dân tham gia phong trào Việt Minh, ngay ở miền xuôi cũng còn vô vàn khó khăn, vì phần lớn họ chưa hiểu Việt Minh là gì, huống chi ở một vùng núi đá khô cằn, quanh năm đói cơm, đói muối, đường đi lối lại xa xôi cách trở, dân cư thưa thớt, lại ít cái chữ quốc ngữ, thì khó khăn còn tăng gấp bội lần. Mai đã cùng các đồng chí của mình phải khôn khéo tính toán từng đường đi nước bước , lấy việc dạy chữ quốc ngữ làm phương tiện để tuyên truyền chủ trương, đường lối của Việt Minh là đánh đuổi giặc Pháp và bè lũ tay sai, đem lại cuộc sống yên ổn, ấm no cho đồng bào.

Có đường lối đúng, kết hợp với phương pháp vận động mềm dẻo, khôn khéo, ưng cái bụng của đại đa số người dân Mông ở đây, phong trào dần được mở rộng ra. Cùng với việc mở rộng phong trào ra khắp toàn vùng, cũng là lúc lực lượng của ta bị hao tổn, có kẻ trong hàng ngũ đã phản bội, đặc biệt là sau khi đảo chính Pháp xong, quân Nhật tiến lên đánh chiếm Hà Giang, phong trào ở đây càng gặp nhiều khó khăn hơn: Bọn phỉ đã phối hợp với tay sai của Nhật tập kích vào một ngôi làng, giết chết bảy cán bộ cốt cán của Việt Minh; cùng lúc đó một chính trị viên đại đội vũ trang ở Yên Định đã thừa cơ làm phản, cấu kết với một thổ ty cũ giết hai cán bộ đang ngủ ngay trong nhà mình (4).

Trong một lần quân Việt Minh giao tranh với quân Nhật ở Tráng Kìm, Sinh nhìn thấy một họng súng đang chĩa thẳng vào Mai. Mai đã đổ sập xuống, dù Sinh đã kịp đưa cô đến nhà già Pẩu, người nổi tiếng khắp vùng đắp lá chữa vết thương. Sau nhiều ngày cứu chữa mà Mai đành phải để lại tất cả, không mang gì theo mình được nữa. Cả Sinh, cả Dí… Mai đi theo Chúng, đi theo mẹ chồng, Mai đã hoá thành một con đại bàng, với sải cánh dài, liệng trên bầu trời cao… nếu có cho Mai sống lại những ngày qua thì Mai vẫn sống như vậy, như một con đại bàng, với sải cánh dài, liệng trên bầu trời cao. (5) Mai ra đi để lại phía sau phong trào cách mạng của Việt Minh đang lan rộng, đều khắp. Âu đấy cũng là điều Mai mãn nguyện lắm rồi.

Đọc Cánh chim kiêu hãnh, đặc biệt ta còn được biết thêm nhiều phong tục tập quán của người Mông, cũng như cách đi theo cách mạng của họ không giống với các dân tộc khác. Những cảnh sắc núi rừng vùng biên cương cực bắc Tổ quốc đẹp đến nao lòng, luôn ẩn hiện mà chỉ có trong các trang văn của Đỗ Bích Thúy.

Có thể nói, đây là một đề tài khá xương xẩu, nhất là đối với những nhà văn trẻ như Đỗ Bích Thúy, nên không dễ gì khám nổi, rất khó thành công. Thế nhưng Bích Thúy đã biết cách làm cho bạn đọc không đến nỗi thất vọng vì lối kể chuyện của chị khá cuốn hút bởi sự dung dị, gần gũi với hơi thở cuộc sống của người Mông, nơi Thúy đã có những năm tháng tuổi thơ sống cùng gia đình ở đấy. Quả thực Cánh chim kiêu hãnh là một cuốn sách rất đáng để đọc trong thời buổi loạn sách như hiện nay./.    

Đỗ Ngọc Yên

--------------------

 (*) Cánh chim kiêu hãnh. Tiểu thuyết của Đỗ Bích Thúy, Nxb QĐND, 2013)

(1). Sđd. tr.136

(2). Sđd. tr.12

(3). Sđd. tr.244

(4). Sđd. tr.178

(5). Sđd. tr. 188

 

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác