Cảm thức làng trong “Hạ thủy những giấc mơ” (1)

 

(Toquoc)- Làng Việt trong mỗi người chúng ta là một cái gì đó vừa rất đỗi thân quen, gần gũi, vừa xa ngái lắc lơ, mù mờ nhân ảnh. Nhưng có một điều chắc chắn rằng, ai đã từng sinh ra và lớn lên từ làng, dù trong Nam hay ngoài Bắc, miền ngược hay miền xuôi, giàu sang hay nghèo khó, hoạnh phát hay bí bết... Tất thảy đều mang trong mình hay nói đúng hơn là không có thể rũ bỏ được tâm thức làng, lề thói làng, giá trị làng... cái đã ăn sâu và góp phần tạo dựng nhân cách văn hóa cá nhân và hơn thế, còn làm nên bản ngã mỗi người.

 

Từ làng ra biển

Tôi đã từng đọc nhiều tác phẩm văn chương từ tiểu thuyết, truyện ngắn, đến ký và thơ viết về đề tài biển đảo nói chung và hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thân yêu của Tổ quốc nói riêng. Nhiều tác phẩm đã để lại ấn tượng tốt trong tôi cũng như trong lòng công chúng yêu thích văn chương. Có những tác phẩm đã được phổ nhạc, được điện ảnh và sân khấu hóa, giúp người dân hiểu rõ hơn để càng thêm yêu và có trách nhiệm hơn trong công cuộc bảo vệ chủ quyền biển đảo quê hương. 

Viết về biển đảo từ cảm thức văn hóa làng, theo tôi biết là chưa nhiều và có lẽ nhà thơ Nguyễn Hữu Quý là người đầu tiên chọn cách tiếp cận này. Tập trường ca “Hạ thủy những giấc mơ” gồm 9 khúc, với 1247 dòng, tướng ứng với khỏang hơn 1.000 câu thơ, được viết theo thể tự do, dễ đọc và dễ cảm nhận. Nhưng điều làm tôi thú vị là biển đảo hiện lên qua thơ anh không hề xa ngái, cũng không phải là một cái gì đó quá trừu tượng, khiến ta không thể đến gần, tiếp cận nó được. Trái lại, sau khi đọc xong tập sách, tôi thấy biển dường như gần ta hơn, gần đến mức như bao làng quê ta, nơi cho đến hôm nay vẫn còn dung dưỡng gần 80% dân số cả nước và chắc chắn từ xa xưa là 100%. Cũng vì thế mà biển được hiện lên rõ nét và bao quát hơn nhờ vào độ nén đến mức căng cứng xúc cảm nghệ thuật mà nhà thơ đã truyền cho người đọc.

Biển hiện lên trong cảm thức làng. Làng hiện lên trong bao dung sâu xưa và rộng dài của biển. Viết về biển, nhưng Nguyễn Hữu Quý lại chọn điểm tựa và cách đi từ làng, chứ không bắt đầu từ biển. Đây là một sự nhọc nhằn trong tư duy tạo tứ, lập sàn, dựng rường cột cho một trường ca của anh. Ngay ở khổ thứ ba, câu thứ 15- 19, của trường ca đã thể hiện rất rõ điều ấy: Xoay nhịp trống đồng/ gõ vang sấm biển/ chớp bão khơi xa nhay nháy canh gà/ có khuya khoắt ao làng nổi sóng/ canh gió đồng ướt át nghìn năm...

Xoay nhịp trống đồng” cũng đồng nghĩa với việc đi ngược thời gian, lần tìm nguồn cội tổ tiên. Và như số trời đã định, tổ tiên ta đều sinh ra từ làng và tất thảy mọi làng Việt đều quay mặt hướng ra biển Đông. Như thế, ai dám chắc ở ngoài xa khơi ấy không có làng và biển Đông không phải là một cái làng theo một ý nghĩa nào đấy. Do vậy, dù lớn hay bé, ngày hay đêm, biển lặng yên hay bão tố đều dội đến, dội về và dội vào tận trong thẳm sâu làng. Biển Đông vừa là một cái “làng - nước” khổng lồ nơi trùng khơi ngàn năm sóng vỗ, vừa là một cái hàn thử biểu đối với làng Việt. Biển động, làng cũng sẽ không yên. Chớp mãi tận trùng khơi cũng sẽ làm ao làng nổi sóng, cánh đồng mùa vụ của làng cũng khê ướt bởi gió Đông . 

Tuy nhiên, nếu liên tưởng xa hơn, thì ngay từ câu thứ 9-14, đã thấp thoáng bóng làng, thấp thoáng chất quê kiểng, sự lấm láp, vị gừng cay, muối mặn đích thị chỉ ở làng mới có. Vả lại, vào cái thời xưa ngái ấy, cách đây hàng ngàn, hàng vạn năm, ông bà, tổ tiên ta nào đâu có biết phố, biết thị như bây giờ, mà quanh năm suốt tháng, hết đời này sang đời khác, truyền kiếp thân người, phận đời chỉ biết có làng. Làng gắn liền với sự tanh nồng, hoang hoai và lấm láp của bùn đất, khi nắng, lúc mưa, sự dạn dày cay gừng, mặn muối mà ru nhau theo nhịp võng à...ơi... sấp ngửa/ ru nhau/ mặn muối cay gừng/À ơ…/ muối mặn gừng cay/ một nửa ca dao đất nước tôi là biển/ thủy triều vơi đầy lục bát/ những hải lưu sáu tám chở vui buồn...

Đây là tầng thứ nhất của tâm thức và giá trị làng.

 

Có thể nói, làng Việt không chỉ có sự nếm trải và cam chịu của mỗi phận người, kiếp đời, mà quan trọng hơn là qua làng và từ làng, người Việt biết phải làm gì để giữ làng và xây làng. Và nếu như mỗi làng đều được giữ và được xây thì đất nước sẽ bình yên và cường thịnh. Bởi lẽ đất nước ta được tạo lập từ làng và trên cơ sở của làng. Có thể khẳng định một cách chắc chắn rằng, từ xa xưa cho đến xa sau, không có bất kỳ một đất nước Việt Nam nào tồn tại và phát triển ngoài làng. Mọi cuộc chính biến, binh đao máu lửa, mọi đói nghèo đều có nguồn cội từ làng. Làng là điểm khởi xuất và cũng là đích đến cuối cùng của mọi cuộc vận động lịch sử.

Nhìn lại xa xưa, Lạc Long Quân xuống biển, Âu Cơ lên rừng; Lang Liêu lên rừng, An Tiêm xuống biển... người cuốc bẫm cày sâu, cấy trồng khoai lúa, kẻ rong thuyền ra khơi đánh bắt cá tôm. Chả thế mà ông cha ta bao đời nay đã đúc kết bữa ăn của người làng Việt sâu sắc đến thế là cùng: “Có cá đổ vạ cho cơm”. Đây là hai thành phần thiết yêu trong bữa ăn của người nông dân Việt Nam trước đây. Và ngay cả bây giờ, đối với nhiều gia đình nông dân ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa, bữa ăn có cơm, cá vẫn còn là một ước mơ riết róng. Đấy là những người anh hùng đấu tiên có công dựng làng từ thưở thiên hạ còn trong buổi thái bình, chưa có chiến tranh và giặc giã.

Buổi đầu, khi đất nước có ngoại xâm, thì người anh hùng đầu tiên cũng sinh  ra và lớn lên từ làng: Đất nước có Phù Đổng/ cơm nong cà vại nuôi

anh hùng/ nuôi chúng tôi cũng cơm cà của mẹ...

Có một sự thật mà không ai có thể chối cãi được là bất luận vị anh hùng dân tộc nào của chúng ta cũng đều lớn lên và đi ra từ vòng tay của mẹ, từ làng. Và không có bất kỳ một người mẹ Việt nào lại không được sinh ra từ những thói quen làng, tâm thức làng và giá trị làng, dù rằng hôm nay họ có thể ở nhà biệt thự sang trọng, đi xe nhiều chấm, shopping tiền tỷ, thì cái “rốn” bất di bất dịch của tâm thức

và giá trị làng vẫn còn ẩn chứa tận nơi sâu thẳm trong con người của mẹ.

Cũng có thể do điều kiện kinh tế chậm phát triển mà những người mẹ Việt Nam trước đây buộc phải bằng lòng với những thức ăn quê mùa, đến mức trở thành hồn cốt gia đình Việt: “Cơm cà, gia bản”. Vâng đúng là như vậy! Nhưng chúng ta thử hình dung lại xem từ Phù Đổng đến Lê Lợi, Quang Trung, rồi Bế Văn Đàn, Phan Đình Giót, Tô Vĩnh Diện, Nguyễn Viết Xuân,.. và nhiều người khác nữa  trong công cuộc giữ và xây nước non này, đã mấy ai không sinh ra từ làng, không một lần ăn bát cơm mẹ nấu với quả cà mẹ muối.

Đây là tầng thứ hai của tâm thức và giá trị làng.

 

Có thể nói biển và đảo trong tập trường ca này của Nguyễn Hữu Quý được hình dung từ làng và qua làng với những điều đơn sơ và giản dị nhất: Tôi nhớ chiếc kiềng ba chân/ đặt trên sự bằng phẳng thôn quê/ ăn củi ăn rạ/ vẽ lên sự bập bùng êm ấm/ Nhà nông mong cầu êm ấm/ trong ấm ngoài êm/ không nói chuyện cao sang/ chỉ thích láng giềng lành/ để có nhau khi tắt đèn tối lửa/ mua láng giềng là mua che chở/ mua thuận hòa cho dậu mồng tơi/ đèn nhà này sáng qua sân nhà ấy/ ới nhau bát nước chè xanh/ giỗ chạp chủ khách xếp bằng chiếu lác cỗ ngon bởi câu mời thật/ rượu rót từ ánh mắt trong veo...

Chiếc kiềng ba chân, có ánh lửa bập bùng cháy lên từ những lọn rơm, cuống rạ, nấu thành nồi canh mồng tơi hay bát nước chè xanh mát lòng khi nắng hạ. Lúc có giỗ chạp, cả làng ngồi trong chiếu lác để chờ câu “mời thật”, để ngắm nhìn “ánh mắt trong veo”. Ngay cả khi “tắt lửa tối đèn” thì láng giềng chở che nhau khiến mọi chính biến từ kẻ xấu ắt sẽ phải lùi xa khi gặp bức tường thành vững hơn bàn thạch nhờ sự cố kết của làng. Chính vì lẽ đó mà Bác Hồ đã đúc rút và nâng cao lên thành “Đoàn kết là sức mạnh” trong cuộc đấu tranh giành độc lập của dân tộc ta trong quãng gần thế kỷ nay.

Để rồi, sau những cuộc binh đao, đất nước thanh bình, ta lại mơ giấc mơ trở về nguồn cội như những chiến hạm, những con tàu sau mỗi lần vượt trùng khơi qua nơi sóng giữ, cập bến bình yên: Hạ thủy giấc mơ xanh/ chia tay những nàng tiên cá/ con tàu bay về miền rơm rạ/ đậu xuống ao làng/ bóng mẹ áo xanh, bóng em áo trắng/ biển của tôi/ xanh - trắng mơ màng…

Cánh buồm no gió của những con tàu ngoài khơi xa, dưới cái nhìn của Nguyễn Hữu Quý chẳng khác nào lá trầu cay của mẹ trồng ở vườn nhà, trên đất làng: Cánh buồm như lá trầu cay/ nồm nam têm sóng trên tay người hiền... Nếu như ai đó chưa một lần được lắng nghe và nếm trải những dư vị chỉ có ở làng, thì hẳn người ấy không có được diễm phúc sinh ra từ làng: tiếng trẻ u oa sau dậu cúc tần và bờ tre thôn ổ/ tiếng hạt mầm tách vỏ giọt sương rớt trên áo mẹ/ cơn mưa chiều rẽ lối về em...

Cũng từ cảm thức làng ấy, nhà thơ không ngần ngại phóng tầm mắt của mình

ra phía mênh mông biển cả để chiêm nghiệm, kiểm chứng sự trong dục, nông sâu của thói đời, lòng người: Từ mảnh ao làng ra biển mênh mông/ tôi học thêm bao

điều mới mẻ/ những nông sâu của người, của bể/ giống - khác gì nhau?...”

Đây là tầng thứ ba của tâm thức và giá trị làng.

 Cảm thức làng trong “Hạ thủy những giấc mơ” (1) - ảnh 1

Giữ biển đảo như giữ làng

Đối với những người lính giữ canh chừng biển đảo như giữ làng, nên họ nào đâu quản ngại: dẫu biết đi không về/ lòng không nao núng/ hồn thiêng/ vằng vặc biển Đông.../ Trường Sa/ đồng đội tôi/ những người lính/ mặt trẻ/ tóc già/ những chàng trai tuổi mười tám, đôi mươi/ tóc lấm tấm bạc...

Bởi trong cái “làng- biển” ấy, luôn có mẹ ở bên. Mẹ dõi theo từng bước chân ta. Mẹ lẩn khuất vào tựng cọng mồng tơi, rau dền, bông muống, quả ớt chín ngoài ô cửa sổ, vào từng câu dân ca ngọt ngào từ thưở ấu thơ: Ở nơi góc bể chân trời/ mẹ như ngọn dền xanh, mẹ như bông muống trắng/ như bên cửa sổ khẩu đội có cây ớt chín/ dây mồng tơi vấn vít ngoài thềm  mẹ là bài dân ca đêm qua cô văn công vừa hát/ chúng tôi vỗ tay hát theo như uống ngọn nguồn…

Những anh lính ra đi giữ đảo từ làng, nên các anh cũng mang theo những lề thói làng, mà với bất kỳ ai cũng không dễ gì rũ bỏ được. Thậm chí, càng đi xa, những lề thói ấy càng hiện lên gần hơn và cũng đau đáu hơn. Và dường như chính những lề thói ấy đã ăn quá sâu vào tâm thức của các anh, nên trong mỗi người lính đều mang theo tâm thức làng và giá trị làng như một hằng số bất biến, vượt qua mọi không gian và thời gian lịch sử. Tâm thức và giá trị làng như một phần tất yếu trong mỗi con người và góp phần làm nên sức mạnh cho các anh: mơ mùi lúa, mùi chanh, mùi bưởi/ xin một lần hương bồ kết về đây/ cho đá san hô cũng cất cánh bay/ và biển cả cũng bớt phần kiêu ngạo...

Để rồi, hết ngày dài đến đêm thâu, qua tháng qua năm và trườn qua nhiều thế hệ, không ít vương triều, các anh đã tự tìm ra cho mình một phương cách tồn tại riêng: Tồn tại ở  Trường Sa/ phải bằng những tầm kích hợp lý/ phải biết cắm sâu/ cũng phải biết dẻo dai/ biết dồn tụ chắt chiu/ biết gồng mình chống đỡ/ thuộc biển/ thuộc trời/ nghe mây/ nhìn gió/ để không phải trả giá đắt hơn!/Sức bền người có tính được không/ mà Trường Sa muôn lớp người trụ vững/ bão/ ta sống chung với bão/ hạn/ ta sống chung với hạn/ bạn/ còn gì hạnh phúc hơn khi sống có bạn bè/ thù/ không phải điều ta muốn...

Bởi các anh ý thức rất rõ rằng, hơn ai hết nơi đảo xa, biển rộng, mẹ hiền Tổ quốc đang cần các anh làm lá chắn, cột mốc và chốt chặn cuối cùng để khẳng định ranh giới, địa phận của làng và cũng là chủ quyền của quốc gia: ...vì Tổ quốc/ chúng tôi là cột mốc/ chúng tôi là trận địa tiền duyên/ chúng tôi là lá chắn/ chúng tôi là bệ phóng/ chúng tôi là chốt chặn xâm lăng...

Tầng thứ tư của tâm thức và giá trị làng chính là đây.

 

Đi ra từ làng dù đến nơi phố thị hay ngoài đảo xa, các anh đều hình dung ra đấy chẳng qua cũng chỉ là một cái làng trên đất liền hay giữa biển khơi. Làng muôn đời vẫn thế. Nếu có khác chỉ là hình thức bên ngoài, về không gian và dáng vẻ, còn tâm thức và giá trị làng ở đâu cũng vậy: Chúng tôi gọi đảo là làng/ những làng đảo mọc lên trên biển/ mọc từ bốn nghìn năm Việt/ giấc mơ chim Lạc kết hình hài với: rì rào bóng tre, bóng trúc... hay: ... Mảnh làng 45 mét vuông-/ Nhà giàn DK1/ nhô lên giữa miên man mây nước / cái chòi canh nhỏ bé trên đồng/ cửa sổ trổ bốn phương/ rau trồng trong thùng đạn/ mồng tơi xanh/ cải xanh/ muống xanh/ xanh không chỉ để cho mình/ mà còn cho những điều gì đó nữa...

Điều này không chờ đến thế hệ các anh hôm nay mới có, mà từ thưở bầy chim Lạc - Việt đã là như vậy rồi và nó vẫn còn hiện nguyên trên mặt trống đồng Đông Sơn, thạp đồng Đào Thịnh từ bốn ngàn năm trước.

Làng- đảo” hay “làng - biển” cũng đều gắn liền với sóng, lúc bình yên vỗ về che chở ta, lúc cuồng phong, sóng cồn giận giữ như muốn nuốt chửng ta vào lòng. Dù vậy, muôn đời vẫn là tình biển dành cho làng: Làng trên sóng ngóng mưa rơi/ ăn nằm kẽo kẹt mù khơi nổi chìm/ mắm tôm, cà xổi, cá rim/ thương nhau lục bát đi tìm ca dao...

Và đây là tầng cuối của tâm thức và giá trị làng trong “Hạ thủy những giấc mơ”.

 

Đôi điều về nghệ thuật thơ   

Tứ của một trường ca gần giống như cốt của một câu chuyện dài hay tiểu thuyết. Vì theo lý luận về thể loại, trường ca nghiêng về tự sự, kể lại một câu chuyện đã xảy ra bằng cảm hứng và thủ pháp nghệ thuật thi ca. Đôi lúc cảm hứng thơ có thể nổi lên làm lu mờ, lấn át lời kể theo cách của văn xuôi. Nhưng không vì thế mà hình hài câu chuyện bị biến mất. Lập tứ cho một trường ca như một bản vẽ thiết kế của một công trình kiến trúc, vừa phải đảm bảo sự vững chắc về nền móng, vừa phải hài hòa trong bố cục, kết cấu tổng thể, lại vừa phải mang tính thẩm mỹ cao. Nếu bản vẽ thiết kế nào đạt được ba tiêu chí trên, chắc chắn sẽ có cơ hội trở thành một công trình mang

lại giá trị thâm mỹ cao.

Đối với “Hạ thủy những giấc mơ”, nhà thơ Nguyễn Hữu Quý đã dựa vào hai cơ sở khá vững chắc. Thứ nhất là, cấu trúc làng xã của người Việt, với người nông dân hai sương một nắng, suốt ngày oằn mình ra theo mùa vụ gieo trồng, những mong kiếm đủ bát cơm, manh áo. Nhưng chính điều ấy đã tạo nên những giá trị làng ở nhiều cấp độ khác nhau. Và thứ hai là, tiến trình lịch sử dân tộc Việt trong kiến tạo, bảo vệ và dựng xây đất nước. Hai nền móng ấy xem ra là đủ để xây nên một lâu đài thi ca thực sự vững chãi.

Về khía cạnh hài hòa trong bố cục, kết cấu tổng thể của trường ca với 9 khúc,

tượng trưng cho 9 con rồng quay về chầu đất tổ Hùng Vương và số câu thơ khoảng hơn 1200 là vừa tầm độ so với nhu cầu bạn đọc hôm nay. Nếu quá dài, e dàn trải về cảm xúc, cũng như ngữ nghĩa của tác phẩm và quan trọng là sẽ làm khó cho bạn đọc khi tiếp cận văn bản tác phẩm. Nếu quá ngắn thì có nguy cơ trở thành “đoản ca”, sẽ không đủ dung lượng chữ và nghĩa cũng như thời gian tồn tại văn bản tác phẩm làm cho nó khó có khả năng chuyển tải những điều cần và đủ theo yêu cầu từ phía chủ thể sáng tạo khiến người đọc bị hụt hẫng hoặc không tiếp nhận được một cách đầy đủ tư tưởng chủ đề của tác phẩm.

Về tính thẩm mỹ của hình tượng tác phẩm, hình tượng nhân vật, hình tượng ngôn ngữ, giọng điệu thơ... nhìn tổng thể đây là tác phẩm thuộc loại “văn chương sạch”, theo nghĩa không có hoặc rất ít những lỗi cố hữu thường gặp ở các tác phẩm thơ. Vì mãi đuổi theo xúc cảm cá nhân mà người thơ hoặc quên đi những chi tiết nhỏ, hoặc quá sa đà vào những chuyện vụn vặt, hoặc khi “sướng” lên người thơ dễ thường đi quá đà, hay suy diễn những điều không ăn nhập gì nội dung tác phẩm, cũng không đem lại lợi lộc gì cho hình tượng và ngôn ngữ thơ. Điều này Nguyễn Hữu Quý đã tránh được.

Trường ca, theo truyền thống từ “Iliad và “Odyssey của Homer, đến “Dam San- Xinh Nha”, “Dam Tiong” của người Tây Nguyên, rồi “Đẻ đất- Đẻ nước” của người Mường,.. đều có những nhân vật trung tâm. Có thể nói từ một góc nhìn nào đấy, trường ca là loại thể văn chương ca ngợi người anh hùng. Đấy là những con người của cộng đồng, thuộc về cộng đồng và được cộng đồng tôn vinh. Ở “Hạ thủy những giấc mơ”, nhân vật trung tâm chính là những người lính biển đang ngày đêm canh giữ biển đảo cho quê hương, Tổ quốc. Các anh là những người bình thường như bao người con khác của đất mẹ Việt Nam, nhưng các anh được Đảng, Nhà nước và nhân dân trao cho sứ mệnh canh giữ biển trời của Tổ quốc. Sứ mệnh ấy là sứ mệnh anh hùng của những người anh hùng, rất đáng được Tổ quốc và nhân dân tôn vinh. Và họ càng xứng đáng hơn để trở thành nhân vật trung tâm của trường ca đương đại như “Hạ thủy những giấc mơ”. Bởi:

Chúng tôi còn rất trẻ

dòng Việt truyền lưu qua bao thiên kỷ nồng nàn

có trở thành vĩ nhân

có trở thành anh hùng

chúng tôi vẫn trở về với mẹ

như con tàu xa xôi nghìn dặm bể

trở về neo bến quê hương.

Sự hy sinh cao cả của các anh chính là điểm tựa cuối cùng cho lòng tin của chúng ta rằng ngàn đời vẫn là biển đảo quê hương, biển đảo Việt Nam.

Nếu chỉ xét ở các khía cạnh này thì “Hạ thủy những giấc mơ” hoàn toàn có cơ may để có thể trở thành một tác phẩm có giá trị, không chỉ về nội dung tư tưởng, mà còn có giá trị cả về thẩm mỹ, nghệ thuật.       

 

Ở vào thời buổi nhiễu lọan hay đúng hơn là hầm bà làng của đời sống thi ca nước nhà trong những năm gần đây, nhiều khi người ta quá cương cng trong việc cổ xúy cho những sự đổi mới chỉ mang tính chất hình thức của thi ca, mà quên rằng bất kỳ sự đổi mới nào cũng bắt đầu từ hình thức, nhưng nó chỉ là cái ban đầu. Nếu chỉ dừng lại ở đấy thì mọi sự đổi mới chẳng bao giờ đi đến đâu và chúng cũng chẳng mang lại điều gì có ích cho xã hội. Cùng lắm cũng chỉ là một cách “diễn ngôn” nào đấy, theo kiểu học đòi cách mà các nhà Thơ Mới đã làm, nhưng chẳng bao giờ có thể làm được như họ. Bởi lẽ, Thơ Mới là một cuộc cách mạng đối với thơ Việt đương thời, từ dòng thơ chủ yếu bị ảnh hưởng của thơ ca phương Đông, sang một dòng thơ được chuyển dịch từ phương Tây vào. Còn đối với thơ Việt đương đại, chẳng lẽ người ta lại đổi mới bằng cách quay từ Tây sang Đông?  Mà đời sống thơ Việt hôm nay khác gì nồi lẩu thập cẩm, một tí Đông, một tí Tây, còn pha cả Nam và Bắc nữa, thì chẳng rõ còn đổi đi đâu.

Vả lại, những người cố tình khuếch trương sự đổi mới như là một chiến công, một kỳ tích của riêng họ, mà quên mất rằng, đổi mới nằm trong bản chất của quá trình vận động và phát triển của thế giới vũ trụ từ khi loài người còn chưa tồn tại trên trái đất này, thế giới còn là một vũ trụ hỗn mang. Thơ ca chỉ là một hạt cát rất bé nhỏ trong cái vũ trụ vô cùng vô tận, nên cũng không nằm ngoài bản chất ấy của vũ trụ được. Chắc là những người chủ xướng và cổ xúy cho đổi mới không hẳn vì sự phát triển nội tại của thơ ca, mà vì họ muốn đi trước mọi người để ghi tên vào danh sách những nhà “cách mạng” của thi ca đương đại Việt?   

Với “Hạ thủy những giấc mơ”, Nguyễn Hữu Quý không muốn mình biến thành một kẻ “đốt đền”. Anh không chuộng đổi mới về hình thức câu chữ hay lối “diễn ngôn” khác lạ, mà đi tìm cho mình một cách tiếp cận mới, ngõ hầu tiệm cận được nhu cầu thưởng thức của phần đông độc giả về một vấn đề không mới: thơ viết về biển đảo. Chỉ từng ấy thôi, nếu thành công cũng là rất đáng ghi nhận đối với sự nỗ lực tìm tòi của anh.

Tuy nhiên, Nguyễn Hữu Quý cũng không bỏ qua bất cứ một cơ hội nào để đổi mới hình thức thơ. Khi nhiều người tỏ ra chán nản, thậm chí trốn chạy khỏi nguồn cội thi ca dân tộc để đi tìm cái mới lạ tận phía trời Tây, thì anh lại bám sâu vào nguồn cội dân tộc theo một cách “diễn ngôn” của riêng mình mà không sợ xưa cũ:

Hoàng Sa!

 

Tôi nghe

              đất nước

                           gọi

                                mỗi ngày

Tôi nghe

             đất nước

                           gọi

                                từng đêm

 

Đất nước gọi

trái tim ta nhức nhối!

 

Tôi nghe

nỗi đau mẹ

xót con

 

Tôi nghe

nỗi thương con

xa mẹ

gọi

giọt máu Tổ quốc

bị cắt lìa!

 

Hoàng Sa!

 

Chấp chới

bao linh hồn Việt

Hay:

Làng trên sóng ngóng mưa rơi

ăn nằm kẽo kẹt mù khơi nổi chìm

mắm tôm, cà xổi, cá rim

thương nhau lục bát đi tìm ca dao...

Và:

Cánh buồm như lá trầu cay

nồm nam têm sóng trên tay người hiền...

Nếu như ai đó bảo rằng những câu thơ trên không có gì mới, thì tôi có thể dám chắc trước Nguyễn Hữu Quý chưa ai viết được những câu thơ như vậy. Chưa ai nhìn cánh buồm trên những con tàu ngoài khơi xa như lá trầu cay của mẹ nơi vườn nhà chờ đợi ngọn gió nồm nam đẩy ngọn sóng nhô cao để têm lên cánh buồn. Cũng vậy, nào đã mấy ai nhức buốt nỗi Hoàng Sa bị cắt lìa khỏi đất mẹ Việt Nam. Giọng điệu, ngôn ngữ của những câu thơ trên không mới. Nhưng đấy lại là một cách tiếp cận mới, khi nhà thơ nhìn Hoàng Sa như một người con, còn Tổ quốc Việt Nam nhiều làng như người mẹ đông con. Con nào chẳng là con của mẹ, khi bị cắt lìa, có người mẹ nào không đau, đứa con nào không thương xót. Rõ ràng đây không chỉ là một hình dung mới, mà còn là một cách tổ chức ý và hình tượng thơ mới đem đến cho người đọc một liên tưởng khác từ làng ra biển gần gũi thân quen như tình mẫu tử

Có thể nói trong “Hạ thủy những giấc mơ” của Nguyễn Hữu Quý ta thấy mê man làng, đầy ắp làng:

làng nối làng

ruộng tiếp ruộng

vườn tiếp vườn...

Làng là điệp khúc triền miên từ xưa ngái đến xa sau, từ những điều bình dị nhất đến những giá trị lớn lao nhất, từ hành vi đến tâm thức, từ thói quen đến tục lệ, đâu đâu cũng chỉ thấy có làng và làng. Đối với những người con đất Việt, biển đấy, mà cũng là làng đấy. Mất biển là mất làng. Nhưng từ ngàn đời nay, qua những lần họa xâm lăng, nước dù có mất, nhưng làng thì không thể. Vậy thì làm sao lại có thể mất biển được. Có lẽ đấy chính là thông điệp mà nhà thơ Nguyễn Hữu Quý muốn gửi đến các thi hữu và công chúng yêu mến thơ anh.

Đỗ Ngọc Yên

.................................

(1) Hạ thủy những giấc mơ. Trường ca của Nguyễn Hữu Quý. Nxb Lao động, H, 2013  

 

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác