Buổi câu hờ hững- những suy tưởng bên kia ẩn dụ


(Toquoc)- Nguyên tắc lựa chọn từ sự xếp chống những tương đương cả về hai cực trong lý thuyết song hành của R. Jakovson hiện vẫn đang được nhiều người nhắc đến như một trong những quan niệm khả hữu cho việc xác lập “chức năng thi ca” của một “diễn từ”. Dĩ nhiên, điều đó làm khá nhiều người yên tâm (bằng lòng) khi thơ và chức năng thi ca luôn trượt ra khỏi quy phạm và thách thức trí tưởng của con người. Yếu tính của sự lựa chọn trên cở sở tương đồng chính là căn nguyên của thủ pháp đặc trưng cho loại hình thơ là ẩn dụ. Trên tinh thần đó, đọc Buổi câu hờ hững của Nguyễn Bình Phương, người ta nhận ra đó là một cấu trúc ngôn từ có tính ẩn dụ. Và, nếu nhìn từ phía bên kia những ẩn dụ, buổi câu không hờ hững chút nào.

Như một mặt hồ bị vỡ ra bởi tiếng cá quẫy hay khi miếng mồi quẳng xuống, sự im lặng, tĩnh đọng của trạng thái cũ bị phá vỡ. Lan theo những vòng sóng là sự suy tưởng. Người đọc hoàn toàn có thể tư duy về cấu trúc mạch thơ của Buổi câu hờ hững là những vòng sóng gợn lên sau những nhịp buông câu. Và hẳn, với sự rời rạc trên bề mặt văn bản - cái hình thái ngoại hiện của mạch thơ giấu sau ẩn dụ, người đọc cũng không khó để hình dung ngược lại rằng đó là một buổi câu rất nhiệt tình của kẻ câu (theo đúng nguyên lý tương đương cả về hai mặt tương đồng và đối lập của R. Jakovson). Kẻ câu ở đây chúng tôi không có ý ám chỉ duy nhất tác giả, dù chắc chắn rằng tác giả là một kẻ câu. Tính chất phiếm chỉ của đại từ này lập tức giăng lên tất cả chúng ta một trường liên tưởng khủng khiếp về sự câu:

Nước câu mặt trời

Mặt trời câu gió

Phố câu người đời

Ô

Quê mùa câu phố

(Buổi câu hờ hững)

Quả thật, bối cảnh sống của chúng ta hiện diện như một buổi câu. Buổi câu ấy không hề hờ hững, mà quyết liệt, bạo tàn:

Giữa mê trận những con mồi

Giữa chết bởi những săn lùng và sống ngoài chờ đợi

Mỗi người một chiếc cần câu buông lơi

(Buổi câu hờ hững)

Tính chất trùng phức của nhiều thân phận như một “thảm sử” mà con người tự đeo mang/bị quy định khiến chúng ta giật mình. Ta là kẻ câu, là mồi câu, là thứ bị câu, ta câu cái gì, ai câu ta, bả mồi nào đang giăng trên bọt thở của đời ta… Sự bất trắc và lường gạt, chiếc lưỡi câu sắc nhọn giấu sau miếng mồi ngon ngọt… khiến sinh mệnh con người luôn đặt trong trạng thái bị rình rập.

Như đã nói ở trên, cấu trúc mạch thơ của Buổi câu hờ hững bị vỡ ra, lan tỏa theo những đợt buông câu. Nếu quan sát từ đầu buổi câu, người đọc nhận ra những suy tưởng đã cắn mồi:

Có ai đó bỗng nhiên ngừng rơi

Sau quãng dài tê mê buông thả

(Bài thơ này đang ốm)

Sống là rơi, chờ đến ngày chạm vào đất lạnh. “Rơi” và “buông thả” không phải là cùng một trạng thái. Chất nghịch lý của những cấp độ nghĩa tưởng như tương đồng đã gợi lên suy tưởng cho người đọc. Tương tự như khi kết thúc bài thơ, tác giả tận dụng độ loang của ngữ nghĩa để chúng nhòa vào nhau trong một liên tưởng mới:

Chấm một dấu chấm than đỏ quạch

Chờ xem ấm tới bên nào

(Bài thơ này đang ốm)

Có nhà nghiên cứu đã chỉ ra thủ pháp chia tách từ hoặc kết hợp ngẫu nhiên các từ trong chuỗi ngôn ngữ, làm nên “mỹ học của cái khác”. Tính chất đơn âm của tiếng Việt, ở một số trường hợp nó trùng với hình vị, vì thế khả năng kết hợp sẽ gia tăng. Đó có lẽ là câu chuyện cần phải bàn thêm, tuy nhiên, ở đây, trong hoàn cảnh này, trong thời gian rất lạnh của cuộc đời, sự liên tưởng từ chính những liên tưởng, sự gợi dẫn và kết thúc mạch thơ từ chính “tiền tố” (Mình ngờ ngợ thời gian rất lạnh! - chấm than - NTT lưu ý) của chuỗi lời đã có hiệu quả trong việc biểu đạt. Cái dấu chấm than/cái dấu chấm than đỏ quạch/…/ấm tự nó mở những trường liên tưởng phong phú hơn. Ai bảo Nguyễn Bình Phương hờ hững trong sự câu của mình! Có khi, sau lần buông câu, Phương nhấc lên một tiếng chim sẻ tinh mơ trên mái nhà, một thời tuổi trẻ như dấu chấm vời xa, rồi đôi khi một bánh xe quay tít, ly rượu nhỏ trong lòng phố con con chật chội. Đôi khi, lưỡi câu lặn xuống, móc vào ký ức lửa đạn, những thương tật của chiến tranh. Mồi câu của Phương là gì ngoài sự “không hờ hững”. Phía sau một tuổi trẻ tưng bừng, những đầu trần, dép đúc, tay AK và những đường lê bỏng cháy là cô bạn gái khóc trong mưa. Phía sau những dự tưởng đã cũ (bởi ta đã cũ) là khuôn mặt công chức, rạc rời những phiên họp, là cái chức nhỏ nhoi cứ bán riết vào thân phận, Cái chức nhì nhằng vẽ bậy xuống đời ta,… Có khi, chiếc câu của Phương chạm vào một vùng rong rêu hay lặng im dưới một khoảng sâu của chiêm nghiệm:

Ấu thơ biến mất cùng những bóng ma

Những ham muốn thời trẻ trung cũng mất

Điều gì kia không chảy cùng sông?

(Tuổi bốn lăm ngồi cạnh sông)

Ám ảnh thơ dại có lẽ là những câu chuyện ma được nghe trong sợ hãi thích thú. Tuổi trẻ xa vời như một dấu chấm. Có dòng sông nào không chảy? Có điều gì không chảy cùng sông? Câu hỏi gợi lên từ một luận đề xưa cũ chỉ như một lời an ủi. Đúng hơn, đó là sự biện hộ cho sự chảy trôi của thời gian, của cuộc đời.

Khi đời sống là một bể câu, thân phận nằm ngoài sự lường dự của con người, những phản ứng vừa tất yếu vừa tuyệt vọng. Tuyệt vọng bởi không thể nào thay đổi được, tất yếu bởi không thể nào khác được. Mặc định cho thân phận con người là đối tượng, là mục đích, là phương tiện,… trong tay kẻ khác. Có một kẻ khác mang tên cuộc đời đang giăng câu tất cả chúng ta.

Trong Buổi câu hờ hững ẩn chứa những suy tưởng về “viết”. Trong mạch tư duy của bài viết này, chúng tôi cho rằng “viết” là sự phản ứng của một kiểu người (nhà văn, nhà thơ) chống lại sự dụ dỗ, sự giăng bẫy hay tha hóa của cuộc đời. Theo cách các nhà hiện sinh hay nói đó là sự hiện hữu. Hiện hữu là hiện hữu trong thời gian, không gian, trong nhân giới và vật giới. Hiện hữu trong tư cách là một cá nhân tương quan với tha nhân… Hiện hữu chứ không phải hiện diện (điều này làm chúng ta nhớ đến tiểu thuyết của Italo Calvino - Hiệp sĩ không hiện hữu). Nguyễn Bình Phương đã nghĩ về sự hiện hữu của mình trong hai tư cách: kẻ sống và người viết. Trong tư cách là một kẻ sống, Phương thấy trong mình cả tham vọng, giận hờn và yêu thương. Tôi không cho rằng ở đây Phương đã chạm vào ngưỡng thiền như một nhà phê bình trẻ đã chỉ ra. Dĩ nhiên, với những trạng thái sống rất dễ quy về Tham - Sân - Si như thế cũng dễ hướng người đọc đến sự diễn giải theo phật tính. Nguyễn Bình Phương chưa quán tưởng về điều ấy. Phương chỉ sống trong đời với quan niệm đã gắng để thật nhẹ nhàng:

Chỉ thoảng nghe từ trăng

- Không tham không oán hận

Và láng máng hình như mình từng yêu

(Từ đồng hồ chờ trên máy vi tính)

Quẫn bách bởi sự tha hóa, có lần Nguyễn Bình Phương đẩy quan niệm sống đến bờ của mâu thuẫn: Sống đôi khi là ngừng thở. Sao lại thế được nhỉ? Tưởng là mâu thuẫn những lại hữu lý trong tính chất biện chứng của sự hiện hữu. Hiện diện đôi khi là chết mà chết lắm lúc lại là sự hiện hữu huy hoàng nhất. Mặt khác, ngừng thở không hẳn chết mà có những kẻ đang thở lại như đã chết. Bởi thế, vấn đề mà Nguyễn Bình Phương suy ngẫm chính là sống và hiện hữu. Sống khác với tồn tại và hiện hữu khác với hiện diện: Sống là viết vào đời câu cách ngôn bí ấn. Như thế, sống và hiện hữu tự chuyển hóa và quy định cho nhau. Sống là phải hiện hữu, hiện hữu tức là sống. Lần lại quan niệm về hữu thể nếu tính từ M. Heidegger người ta lại càng thấy Nguyễn Bình Phương không hờ hững chút nào trong suy tưởng này. Khi cõi đời, con người được hiện hữu từ ngôn ngữ, câu cách ngôn bí ẩn chính là “thể tính” của sự sống/hiện hữu mà Nguyễn Bình Phương gắng viết vào đời. Đời - bể câu chính là bối cảnh của sự hiện hữu. Trong sự rình rập của đời, bí ẩn chính là cơ hội cuối cùng để nương náu.

Buổi câu hờ hững- những suy tưởng bên kia ẩn dụ  - ảnh 1

Nhưng, Viết là tìm thấy hay đánh mất? Nguyễn Bình Phương cũng suy tưởng về điều này trong Buổi câu hờ hững của mình. Chẳng biết Nguyễn Bình Phương đã tìm được đáp án cho mình hay chưa! Có lẽ, anh đã tìm được! Bởi, với những gì Nguyễn Bình Phương đã viết, đã ghi vào đời hẳn không ai phủ nhận tư cách hiện hữu của Nguyễn Bình Phương. Nhân vật kể chuyện (cũng là người viết hư cấu) trong siêu hư cấu Hiệp sĩ không hiện hữu - một nữ tu đã thốt lên: “Làm sao có thể bảo viết là tự cứu rỗi linh hồn? Bạn viết, bạn viết và linh hồn bạn đã lạc lối mất rồi”. Viết là tự “tiêu hóa bớt cái tuổi trẻ hoang mang vô ý thức” (tr 114). Như thế, viết phải chăng lại là mất đi? Một trò chơi của ngôn ngữ được giăng ra để “câu” sự suy tưởng của chúng ta. Viết, trên bình diện là một thao tác kiến tạo văn bản luôn luôn là một quá trình tìm kiếm. Tìm kiếm một sự hiện hữu của thế giới được hình dung, của chủ thể viết trong hành ngôn, của chính tư cách thể loại mà văn bản được kiến tạo có thể hiện hữu, của quan niệm về cái được viết,… (xem thêm Trần Ngọc Hiếu, Viết thơ là gì? phebinhvanhoc.com.vn). Như thế viết là tìm thấy. Nhưng, trong sự viết có những điều mất đi. Như người nữ tu đã nói, ấy là “tuổi trẻ hoang mang vô ý thức”. Sự viết lấy đi những điều tương tự thế:

Những ngày không còn gì để nhớ

Bóng với hình riu ríu vào nhau

(Quanh Quanh)

Những điều đã mất đi chính là cái giá của sự hiện hữu/sống mà Nguyễn Bình Phương (và bất kỳ người viết chân chính nào) ý thức được. Viết hiểu như một ẩn dụ chính là sống/hiện hữu - thực hành viết là thực hành sống. Ngược lại, hiện hữu/sống chính là viết, trong viết, trong những khả năng kiến tạo của ngôn ngữ. Và dĩ nhiên, lẽ thường của sự hiện hữu lại chính là khi sự viết - câu cách ngôn bí ẩn được tha nhân kiếm tìm - sự đọc./.

Nguyễn Thanh Tâm

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác