Bức thư Nguyễn Tuân với Một lá cây hoa ban, một bài thơ trữ tình

Nguyễn Xuân Sanh

Tôi có dịp đọc một bức thư chung nhà văn Nguyễn Tuân viết từ miếng đất đi thâm nhập thực tế Điện Biên Phủ cho ba người bạn văn nghệ của anh, gần năm mươi năm. Thư anh viết ngày Chủ nhật 12-10-1958, gửu trong lúc tôi đang đi thâm nhập thực tế tám tháng vùng than Đèo Nai- Cọc Sáu, Quảng Ninh. Tôi xin trích thư chuyển lại cho các bạn đọc quý mến, để chúng ta cùn ghiểu tấm lòng anh Nguyễn Tuân:

“Các anh Nguyễn Xuân Sanh, Dương Bích Liên, Nguyễn Sáng!

“Quà Điện Biên tôi gửi biếu các anh nằm gọn trong chuyến thư này gồm:

“1. Một cái lá cây hoa ban. Hoa ban có nhiều légende (thuyết minh) trong  folklore (truyện dân gian) Tây Bắc. Nhưng tôi ở trên này không phải là mùa hoa, và nay mai xuôi về Hà Nội, cây cũng vẫn chưa nở hoa. Nhưng cũng có cái hay này: ban ra hoa, thì cây trụi không có lá. Như thế tức là chơi lá thì đừng chơi hoa. Các anh xem cái lá đó. Nó giống như một đôi cánh bướm. Nó lại cũng giống như cái hình một cái vó móng ngựa. Và lúc nó ra lộc, cái lá hình thành một nửa một bên đã, rồi lại hình thành tiếp. Bữa cơm của người Thái cũng có món canh nấu với hoa ban.

“2. Một cái sáng tác nhỏ mà tôi gọi là một bài thơ tự do chủ nghĩa về vần. Gửi các anh xem và nếu các lao động không đến nỗi mệt quá thì thấy gì xin cứ nói, xin cứ góp cho. Cái điều đó, tiện thì các anh làm, không phải là một điều bắt buộc. Riêng tôi khi gửi thơ và lá cho các anh là trong lòng thấy vui rồi. Từ chỗ sơn cùng phía Tây miền Bắc gửi thư cho bạn ở chỗ thuỷ tận phía Đông. Từ rừng gửi xuống biển. Sao lại không lấy đó làm vui vậy?

“Chúc các anh trẻ, mạnh, vui cái vui ngày hôm nay cùng một nhịp với cái vui của ngày tới.

“Xin cứ nhận cái lá này và không cần phải trả lại bằng bất cứ cái gì. Ví dụ, không cần thiết phải gửi lên Điện Biên một cục than đá.”

 

Nguyễn Tuân

Hòm thư 79.181

Điện Biên Phủ

 

Kèm theo thư, là một bài thơ 46 câu, nhan đề:

 

Giăng lưỡi liềm

Gửi Văn Cao, người vừa nhỡ một vụ gặt

 

Bao la một vùng chiến hào

Cát bỏng vẫn xoáy lốc như năm nao

Dài ngân trong gió Lào

Từng cánh từng cánh rụng hoa ban

Ngoài bến cỏ gianh lút đầu người

Chợt nấc lên những hơi mìn bỏ sót

Cò Mỵ vỡ hoang đánh từng gốc rừng già

Âm âm xích sắt chiến xa hoà bình

Xưa ở đây nó quét đèn hiệu gọi thả dù

Đúng chỗ này giờ bật đèn pha chạy máy cày đêm

Sân bay đất lật ngửa lên

Hầm pháo nặng thành hố phân xanh

Con chim bạt ngàn ngày xuân nọ

Đã về nở trứng giữa chân ruộng mạ

Cánh quạt chiếc khu trục gỉ chìm dần

Vào sóng lúa Hồng Cúm vồng ngọn cao

Khắc thâu nông trường mõ trâu đui đạn đồng

Lanh canh nhạc lạnh sương lồng giọt mơ

Hơi may ngọt nhờ nhờ

Như sữa vắt loang khắp cỏ đồng chăn nuôi

Thế rồi Mường Thanh bừng hiện

Hình một nồi cơm khổng lồ sôi tăm

Bốc lên tiếng mừng reo lúa tẻ vụ đầu

Phía cầu Nậm Rốm rửa tay chờ gặt

Có anh bộ đội yên tâm sản xuất

Thả nhẹ vào lòng sông chiều

Một chiếc liềm vàng

(*)

Nghiêng nghiêng trăng liềm

Vàng thiếp lên vàng

Trên lúa rỗ chín đồng Mường Thanh

Chiều thu lao động hoà bình treo lên một nền xanh

Trời Điện Biên như lá cờ nguyệt bạch

Chỉ kim tuyến thêu hình liềm vàng

Láng đi láng lại hào quang

Trên lúa nông trường sắp đỏ

Điện Biên ngất trời khói lửa

Bốn năm xưa

Giăng lưỡi liềm treo lên nòng súng trận

Lưỡi liềm rực tươi màu thắm Đảng kỳ

Một buổi chiều toàn thắng

Cũng vào tuần giăng non

Nơi đây xưa chiến trường

Nơi đây giờ nông trường

Lồ lộ trên cánh đồng lịch sử

Trên biên tuyến xanh ngắt xanh

Một chiếc liềm vàng.

(*)

Điện Biên Phủ, 4.10.1958

Ngày kỷ niệm vệ tinh nhân tạo

 

Khoảng cách giữa hai đoạn thơ và cuối bài, nhà văn Nguyễn Tuân còn vẽ hình một lưỡi liềm cũng có thể hiểu là vừng trăng non (*) rất thơ mộng.

Tôi viết lại những điều này như một kỷ niệm rất đẹp của tình bạn giữa các bạn văn nghệ sĩ cách đây đã năm mươi năm…

 

(Tạp chí Thơ)

 

 

 

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác