Bàn tay ta không đủ tìm nhau


Ngày đầu xuân 2015, tôi có dịp ngồi nói chuyện với Trương Đăng Dung trong không gian sáng tạo của Trung Nguyên. Những câu chuyện xoay quanh nghĩa lý của tồn tại, sự sống và nghệ thuật. Điều khiến tôi suy nghĩ nhiều chính là những ý niệm của Trương Đăng Dung về căn nguyên của hiện sinh. Ông liên tục nhắc lại rằng con người sinh ra đã là một thất bại. Bởi lẽ, y - con người, đã sinh ra, lập tức phải đối diện với cái chết.

Nỗ lực để chống lại cái chết chính là trung tâm của hành vi con người mà chúng ta vẫn gọi là sự sống. Có lẽ nói như vậy là bi quan. Nhưng, thử hỏi trong tất cả những trải nghiệm của đời sống một con người, buồn vui, đau khổ, thất bại, thành công, hạnh phúc và bất hạnh, xã hội và tự nhiên… có cái nào đi ra ngoài lẽ sinh tử mà con người đã trót mang từ lúc ngẫu nhiên bị ném vào cuộc đời. Mỗi con người trên thế gian này là một hiện hữu, một giá trị không lặp lại. Bởi thế, có bao nhiêu con người sẽ có chừng ấy cách kháng cự bản án đã vô tình bị tuyên cáo từ lúc sinh ra (ý niệm này thể hiện rất rõ trong tác phẩm Vụ án của F. Kafka mà Trương Đăng Dung có những ảnh hưởng khá rõ rệt). Nhưng, dường như, mọi cố gắng đều bất lực. Con người không bao giờ có thể thoát khỏi định mệnh phải chết. Thơ của Trương Đăng Dung, tập trung nhất trong tập Những kỷ niệm tưởng tượng mà chúng ta đã biết, ẩn ngầm tư tưởng bi quan định mệnh ấy.

Tư tưởng bi quan của Trương Đăng Dung là nguyên nhân, ngọn nguồn của sáng tạo như là hành vi chống lại cái chết, chống lại sự bất lực của con người trong giới hạn mà anh ta hiện diện. Tuy nhiên, điều khiến Trương Đăng Dung khác biệt, chính là tư tưởng, hành vi ấy khai mở và vận hành trên nền tảng của một sự nhận thức rất cao, mang tầm khái quát. Cái khác của con người này chính là ở chỗ, trong quyển văn hóa đương đại, nhất là trong thơ, ý niệm phổ quát về thân phận con người - không bị ngăn cách bởi chủng tộc, quốc gia, tôn giáo, thể chế... (Trương Đăng Dung gọi một cách hình tượng là Những bức tường) còn rất hiếm hoi. Tư tưởng này điều phối mọi hành vi của Trương Đăng Dung. Và, sáng tạo chính là con đường để thi sĩ đối thoại với tồn tại, làm hiện lên nghĩa lý đời sống của bản thể. Con người bản thể là con người mang tính phổ quát ở tầm nhân loại. Nhận thức này trong phần nhiều thi sĩ ở ta hãy còn chưa tới. Do vậy, những thực hành thơ đương đại, dẫu đào sâu vào con người riêng tư, vẫn cứ bị chi phối bởi kinh nghiệm cá thể, chưa chạm đến các vấn đề thiết cốt của nhân sinh, hiện hữu. Có lẽ, tư chất triết gia - thi sĩ đã giúp Trương Đăng Dung có được cái nhìn tiệm cận hơn với thân phận của con người và sứ mệnh của nghệ thuật. Con người ở mọi thời, mọi nơi, mọi sắc tộc, thể chế đều đang phải đối mặt với những hiểm họa, những nguy cơ tiến nhanh đến cái chết. Chiến tranh, khủng bố, thiên tai, nghèo đói, bệnh tật, sự vô cảm, dục vọng… đang vây bủa con người từng ngày, đòi thực thi bản án tử hình đã thụ nhận từ khi lọt lòng. Ý niệm ấy xuyên suốt trong hành trình làm người, làm thi sĩ của Trương Đăng Dung. Bởi thế, trong thơ ông, ta thấy niềm âu lo, sợ hãi, thấy những chán chường, ảm đạm, thấy những trầm tư buồn bã, ngay trước cái đẹp: Em đã đến/ đẹp như ánh trăng/ cô đơn như ngọn gió/ chúng ta nằm trên cỏ/ sợ hãi trước chân trời (Chân trời). Cái chân trời hữu hạn của loài người, tình yêu, sự sống, cái đẹp... cứ đến gần hơn khi sợi tóc rơi qua kẽ tay, trong khóe mắt em, trong tiếng bước chân xa dần, trong mỗi ban mai mở cửa, mỗi mùa hè đang qua, mỗi mùa thu gió thổi, ánh nắng rời bỏ khóm hoa... Có thể nói, trong niềm bất an, sợ hãi ấy, Trương Đăng Dung nghĩ về thời gian, về kiếp người bằng nỗi ám ảnh sự chết. Không có gì giữ được! Cái chết hiện diện thật gần, và lũ quạ vẫn dõi theo từng nhịp thở của con người bé nhỏ, tội nghiệp.

Nếu cuộc đời buồn bã như thế, thơ còn chuốc thêm cho nó những sầu muộn làm gì? Không! Thơ Trương Đăng Dung là lời cảnh báo, là tiếng kêu trong cảnh đời đổ nát và miết dần đến tiêu vong. Lời thơ ấy nhắc nhở con người trân trọng từng giây phút của sự sống, yêu thương và gắn bó, sẻ chia và cảm thông, gạt bỏ những bức tường ngăn cách con người, giăng giới hạn lên sinh mệnh ngắn ngủi và cô độc: trái tim trong lồng ngực/ đang thét gào yêu thương/ ngoài kia mờ hơi sương/ mặt hồ đang ngái ngủ/ bàn tay ta không đủ/ để tìm nhau trao nhau/ ngoài kia một ánh sao/ vụt sáng rồi tắt hẳn/ chúng mình vừa đón nhận/ muôn vàn tia sáng lạ/ quyện vào nhau mẩn mê (Ánh sáng này).

Nguyễn Sơn

 

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác