Ảnh hưởng văn hóa phương Tây tới lý luận phê bình văn học trong nước (2)


4. Sau 1975, đất nước thống nhất, nền lý luận - phê bình văn học dân tộc lại đi theo quán tính của lý luận - phê bình văn học ở miền Bắc trước kia nên vẫn chưa có sự chuyển biến đáng kể. Hầu hết các tác phẩm lý luận - phê bình văn học lúc này vẫn không thoát khỏi bầu khí quyển của lối phê bình xã hội học của thời kỳ 1954-1975 ở miền Bắc.
Nhưng từ khi tiến hành công cuộc đổi mới, đất nước mở cửa, tiếp nhận văn hóa phương Tây, khoa nghiên cứu văn học đã có nhiều thành tựu trên các lĩnh vực nghiên cứu văn học dân tộc và văn học thế giới. Trong đó có thành tựu của lý luận - phê bình, được thể hiện trên nhiều phương diện mà rõ nhất là việc đổi mới hệ hình tư duy lý luận - phê bình văn học theo xu hướng đa dạng hóa các khuynh hướng lý luận - phê bình cũng như dịch thuật, giới thiệu và ứng dụng các khuynh hướng lý luận - phê bình hiện đại của phương Tây vào nghiên cứu các hiện tượng văn học mà trước kia với nhiều lý do chúng ta chưa có điều kiện tiếp nhận. Đó là những công trình như: Từ văn bản đến tác phẩm văn học (1988) của Trương Đăng Dung; Nghiên cứu văn học, lý luận và ứng dụng (1988) của Nguyễn Văn Dân; Từ kí hiệu học đến thi pháp học (1992) của Hoàng Trinh; Triết học và mỹ học phương Tây hiện đại (1992) của Nguyễn Hào Hải (chủ biên); Alain Robbe - Grillet và sự đổi mới tiểu thuyết (Lê Phong Tuyết dịch,1993); Tìm hiểu lý luận văn học phương Tây hiện đại (1995) của Phương Lựu; Phê bình văn học Pháp thế kỉ XX (Lộc Phương Thủy chủ biên,1995); M.Kundera: Nghệ thuật tiểu thuyết (Nguyên Ngọc dịch, 1998), J. P.Sartre: Văn học là gì (Nguyên Ngọc dịch, 1999); Văn học so sánh, lý luận và ứng dụng (Lưu Văn Bổng chủ biên, 2000); Thi pháp hiện đại (Đỗ Đức Hiểu, 2000); Lý luận phê bình văn học phương Tây thế kỉ XX (Phương Lựu, 2001); Chủ nghĩa cấu trúc và thuyết hiện sinh (Trần Thiện Đạo, 2001); Văn học phi lí (Nguyễn Văn Dân, 2001); Giọng điệu trong thơ trữ tình (Nguyễn Đăng Điệp, 2002) Chủ nghĩa cấu trúc và văn học (Trịnh Bá Đĩnh, 2002); Phê bình lý luận văn học Anh - Mỹ (Lê Huy Bắc chủ biên, 2002); Văn học hậu hiện đại thế giới - Những vấn đề lý thuyết (2003) (Nhiều tác giả); Văn học so sánh, nghiên cứu và dịch thuật (Khoa Ngữ văn - Báo chí ĐH KHXH&NV TP. HCM, 2003); J.M. Lotman: Cấu trúc văn bản nghệ thuật (2004) do Trần Ngọc Vương, Trịnh Bá Đĩnh, Nguyễn Thu Thủy dịch; Kate Hamburger: Logic học về các thể loại văn học (2004) do Trần Ngọc Vương và Vũ Hoàng Địch dịch; Nghệ thuật như là thủ pháp (2000), Phân tâm học và văn hóa tâm linh (2002), Sự đỏng đảnh của phương pháp (2004) của Đỗ Lai Thúy; Tự sự học (Một số vấn đề lý luận và lịch sử) (2004), Trần Đình Sử (chủ biên); Lý luận phê bình văn học thế giới Thế kỷ XX (2 tập) (2007), Lộc Phương Thủy (chủ biên); Lý luận văn học của R.Wellek và A.Warren (2009), Nguyễn Mạnh Cường dịch, Một cuộc gặp gỡ (tiểu luận) của Milan Kundera (Nguyên Ngọc dịch, 2013)... Và nhiều tác phẩm lý luận - phê bình, nghiên cứu văn học đã ứng dụng thành công các lý thuyết hiện đại phương Tây vào việc nghiên cứu các hiện tượng văn học dân tộc và thế giới mà theo Cao Hồng trong tác phẩm Lý luận phê bình văn học - đổi mới và sáng tạo, (Nxb. Hội Nhà văn, 2013) (7), từ năm 1986 đến nay đã có 544 công trình lý luận, phê bình, nghiên cứu, khảo cứu văn học được xuất bản. Nhưng đây mới chỉ là những tác phẩm được tác giả chọn lọc và giới thiệu, trong thực tế số công trình được xuất bản từ thời kỳ đổi mới đến nay còn nhiều hơn nữa. Hầu hết các công trình nghiên cứu trong thời kỳ này đều xuất phát từ nhiều điểm nhìn khác nhau dựa trên cơ sở của nhiều lý thuyết khác nhau mà trong đó dấu ấn của văn hóa phương Tây thông qua các trường phái lý luận - phê bình được tiếp nhận từ thời kỳ đổi mới như: phân tâm học, chủ nghĩa hiện sinh, hiện tượng luận, cấu trúc luận, thi pháp học, mỹ học tiếp nhận, tự sự học, văn học so sánh... là khá đậm nét. Rõ ràng nhờ việc mở rộng dân chủ trong việc tiếp nhận văn hóa phương Tây, đời sống lý luận - phê bình văn học lúc này thật sự khởi sắc theo hướng phát triển ngày càng đa dạng, phong phú. Nó khắc phục được bệnh công thức, giản đơn, đồng phục của lý luận - phê bình văn học trước kia ở miền Bắc giai đoạn 1954-1975 và cả nước trong thời kỳ tiền đổi mới.

Với việc tiếp nhận văn hóa phương Tây thông qua các khuynh hướng lý luận - phê bình hiện đại để ứng dụng vào xây dựng nền lý luận - phê bình văn học dân tộc, lý luận - phê bình văn học thời kỳ đổi mới cũng đã có những công trình có giá trị khoa học và thực tiễn cao góp phần đổi mới nhận thức trong tư duy lý luận - phê bình văn học làm thay đổi cách nhìn, cách nghĩ, cách thẩm định giá trị của các hiện tượng văn học, tạo nên một đời sống lý luận - phê bình sinh động, phong phú, dân chủ và cởi mở. Và đây là điều kiện tất yếu để nền văn học chúng ta phát triển bền vững trong xu thế toàn cầu hóa của thời kỳ hội nhập.

Như vậy, vượt qua những rào cản phi lý một thời, lý luận - phê bình văn học thời kỳ đổi mới đã chủ động hòa nhập vào dòng chảy của lý luận - phê bình văn học thế giới và bước đầu đã thu được những kết quả nhất định mà một trong những nguyên nhân làm nên kết quả này là việc đổi mới nền lý luận - phê bình theo hướng tiếp nhận văn hóa phương Tây thông qua các trường phái lý luận - phê bình văn học hiện đại.

5. Từ những thành tựu của lý luận - phê bình văn học nửa đầu thế kỷ XX, lý luận - phê bình văn học ở miền Nam 1954-1975, và lý luận - phê bình văn học nước ta thời kỳ đổi mới có thể khẳng định rằng: sự phát triển của lý luận - phê bình văn học dân tộc luôn gắn liền với sự tiếp nhận văn hóa phương Tây. Đây là một qui luật tất yếu trong sự vận động và phát triển của nền lý luận - phê bình văn học dân tộc không những trong quá khứ, hiện tại mà còn trong cả tương lai khi đất nước đã và đang vận hành theo xu hướng toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế.

Với độ lùi thời gian gần ba mươi năm, kể từ khi đất nước tiến hành công cuộc đổi mới, từ yêu cầu đổi mới lý luận - phê bình văn học và thực tiễn của việc nghiên cứu văn học, trên cơ sở khảo sát đời sống văn học trong đó có lý luận - phê bình văn học dân tộc qua tiến trình phát triển của văn học dân tộc, thiết nghĩ đã đến lúc cần phải nghiên cứu một cách thấu đáo, khách quan, khoa học ảnh hưởng của văn hóa phương Tây thông qua các lý thuyết văn học hiện đại phương Tây đối với tiến trình vận động, phát triển của nền văn học dân tộc nói chung và lý luận - phê bình văn học dân tộc nói riêng, để khẳng định vai trò của nó trong nền lý luận - phê bình văn học nước nhà. Bởi lẽ, chỉ có mở cửa tiếp nhận tinh hoa văn hóa nhân loại trong đó có văn hóa phương Tây thì nền lý luận - phê bình văn học dân tộc mới trở nên đa thanh, đa diện, cách tiếp cận đối tượng nghiên cứu được mở rộng hơn đáp ứng nhu cầu đổi mới tư duy lý luận - phê bình văn học dân tộc trong xu hướng toàn cầu hóa của thời kì hội nhập và phát triển. Bởi, theo Nguyễn Khoa Điềm: “dù đất nước đã mở cửa nhưng việc khai thác thành quả của lý luận hiện đại thế giới cũng như truyền thống lý luận của dân tộc lại chưa được nghiên cứu đầy đủ có hệ thống” (8). Không những thế, theo Lộc Phương Thủy: “việc giới thiệu, dịch thuật các tác phẩm học thuật nước nước ngoài ở Việt Nam còn chưa được bao nhiêu. Cần phải mở nhiều ô cửa ra thế giới tham khảo kinh nghiệm” (9). Phải chăng đây cũng là định hướng cần thiết để đẩy nhanh quá trình hiện đại hoá nền lý luận - phê bình văn học dân tộc trong thời kỳ hội nhập và phát triển theo tinh thần nghị quyết 23 - NQ/TW của Bộ chính trị, khoá X "về xây dựng và phát triển văn học nghệ thuật trong thời kỳ mới", đó là: "Tổ chức nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc thành quả lý luận văn học, nghệ thuật của ông cha và của thế giới, vận dụng sáng tạo, làm phong phú lý luận văn học Việt Nam hiện đại." (10)

Trần Hoài Anh

--------------------

(7) Cao Hồng, Lý luận phê bình văn học - đổi mới và sáng tạo (xem danh mục cụ thể trong phần phụ lục từ tr. 265 - tr. 319)

(8) Nguyễn Khoa Điềm, "Phát biểu kết luận hội nghị lý luận phê bình văn học nghệ thuật toàn quốc", Tạp chí Nhà văn số 4/2006, tr.62

(9) Lộc Phương Thuỷ "Tác động của lý luận văn học nước ngoài đối với lý luận văn học Việt Nam" Nghiên cứu Văn học số 1/2005, tr.17

10) Trích nghị quyết 23 - NQ/TW của Bộ chính trị, khoá X, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2008, tr.23

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác