30/4/1975- Mốc của lịch sử, mốc của văn học

(Toquoc)- Ngày 30/4/1975 đã trở thành ngày hội lớn của lịch sử dân tộc, ước mơ về hoà bình của triệu triệu con tim đã trở thành hiện thực. Đất nước sang một trang mới trước bản hùng ca bất tận của chiến thắng cũng trở thành dấu mốc quan trọng trong dòng chảy văn học Cách mạng.

30/4/1975- Mốc của lịch sử, mốc của văn học - ảnh 1Đề tài Cách mạng, người lính trong văn học có thể xem là đề tài chủ đạo xuyên suốt trong hai cuộc chiến tranh cứu nước. Văn học trước năm 1975 được bao trùm bởi tư tưởng chủ đạo là lòng yêu nước căm thù giặc, chiến đấu quên mình vì lý tưởng cao đẹp. Nhưng bên cạnh đó là phút giây lãng mạn, là niềm tin vào cuộc chiến đấu trong mỗi bước hành quân của những người lính: “Đường ra trận mùa này đẹp lắm” (Phạm Tiến Duật), “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước/ Mà lòng phơi phới dậy tương lai” (Tố Hữu). Những cảm xúc riêng tư nhất của con người dường như bị che lấp, nhường chỗ cho con người với trách nhiệm công dân, người chiến sĩ hy sinh quyền lợi và hạnh phúc cá nhân để hoà vào tiếng nói chung của dân tộc. Đó vừa là trách nhiệm nhưng đồng thời cũng là niềm say mê của những chàng trai cô gái tuổi đôi mươi tình nguyện vào chiến trường đạn bom khốc liệt “Đất nước của những người con gái con trai/ Đẹp như hoa hồng cứng hơn sắt thép/ Xa nhau không hề rơi nước mắt/ Nước mắt chỉ dành cho ngày gặp mặt” (Nam Hà), “Là cuộc chia ly chói ngời sắc đỏ…/ Nghĩa là màu đỏ ấy đi theo/ Như không hề có cuộc chia ly (Nguyễn Mỹ) .

Có những đau thương, mất mát được thể hiện trong tác phẩm văn học thời kỳ này. Nhưng là đau thương không bị rơi vào bi luỵ, làm nhụt chí hướng chiến đấu của người chiến sĩ. Trái lại, nó là minh chứng tội ác của giặc để tôi luyện thêm ý chí căm thù giặc “Anh đi bộ đội sao trên mũ/ Mãi mãi là sao sáng dẫn đường/ Em sẽ là hoa trên đỉnh núi/ Bốn mùa thơm mãi cánh hoa thơm” (Vũ Cao).

Hình tượng người lính được thể hiện chân thực và rõ nét hơn trong nhiều tác phẩm văn xuôi. Họ đã vượt qua thử thách của quân thù, những đòn tra tấn dã man, những nguy hiểm cận kề cái chết để hoàn thành nhiệm vụ, bảo vệ danh dự. Những con người này được xây dựng trên cơ sở hình mẫu đời thường nên vừa phản ánh kịp thời vừa có sức mạnh cổ vũ cho cuộc chiến tranh trong những giai đoạn gam go, đó là: Đất nước đứng lên, Rừng xà nu (Nguyên Ngọc), Trước giờ nổ súng (Phan Tứ), Người mẹ cầm súng (Nguyễn Thi), Sống mãi với thủ đô (Nguyễn Huy Tưởng)…

Tuy nhiên, những tác phẩm được ra đời ngay trên chiến trường lại chưa thể hiện được toàn diện cuộc chiến tranh mà chủ yếu được khai thác trên nền cảm hứng chủ đạo mang âm hưởng sử thi anh hùng. Phải đến khi hoà bình, sau năm 1975 các nhà văn có độ lùi nhất định nhìn lại về cuộc chiến đã qua thì bức tranh văn học cách mạng mới tương đối đầy đủ. Số phận của người lính ngoài chất “kiêu hùng” đã được nhìn nhận cả ở chất “bi hùng”. Dường như nhận thức của nhà văn đã đầy đủ hơn, họ nhìn thấy những đau thương mất mát của con người thời “hậu chiến”. Văn học đã chứng kiến sự “lột xác” có phần kinh ngạc của những tác phẩm viết về chiến tranh liên tiếp ra đời trong cùng một khoảng thời gian. Không như giai đoạn trước, thơ và trường ca phát triển mạnh mẽ, truyền nhau và có khi trở thành những ca khúc trên mỗi bước đường hành quân thì giai đoạn này tiểu thuyết bắt đầu lên ngôi. Và phải tiểu thuyết mới truyền tải được hết những vấn đề - sự kiện mà tác giả gửi gắm. Thời xa vắng (Lê Lựu), Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh), Sao đổi ngôi (Chu Văn), Ăn mày dĩ vẵng, Vòng tròn bội bạc (Chu Lai)… khi những cuốn tiểu thuyết này ra đời đã có không ít ý kiến tranh luận, thậm chí gay gắt, tỏ ra hoài nghi những gì tác giả đã viết. Bởi nó khác hẳn với văn xuôi trước đây, dù con người vẫn là trung tâm phản ánh trong tác phẩm. Nhưng con người, nhất là người lính được nhìn nhận đa chiều hơn, nhân bản hơn. Họ không chỉ đơn nhất với lý tưởng sống cho đất nước mà họ còn được đặt trong các mối quan hệ khác nên các mặt đối lập tốt - xấu, thiện - ác… được thể hiện chân thực và rõ nét.

Tại sao phải sau năm 1975 Văn học viết về đề tài chiến tranh với có điểm khác vậy? Bởi đây là thời điểm sự thật được phơi bày chân thực nhất và phải đến “thời hậu” chiến nó mới bộc lộ. Người lính đầy vinh quang từ chiến trường trở về tưởng chừng không có gì quật ngã được ý chí kiên cường đã được tôi luyện của họ. Nhưng không phải vậy, những viên đạn lạc đường, những cám dỗ của đời thường, những mối quan hệ xã hội đã biến họ trở thành con người khác. Sự thiếu xót, thất bại, đớn hèn, giằng xé …tồn tại trong con người họ, tất cả được đẩy lên cao, thành những mâu thuẫn khá phức tạp. Văn học viết về người lính giai đoạn này vì thế đã được độc giả và giới nghiên cứu chú ý hơn, được đánh giá sâu sắc hơn.

Ở giai đoạn trước - khi chiến tranh chưa kết thúc không hẳn những “sự thật” ấy chưa có nhưng lại chưa được các nhà văn thể hiện trong tác phẩm. Bởi văn học lúc đấy có nhiệm vụ tuyên truyền cổ vũ cho người lính ra trận nên những đau thương, mất mát hiện hữu dù có dữ dội và tàn khốc đến mấy thì ngòi bút chiến sĩ phải biết nén lại, giấu nước mắt vào trong để hi vọng ngày hoà bình sẽ đến. Chỉ đến khi hoà bình, tất cả mới nhận ra cuộc sống thường ngày cũng là mặt trận không tiếng súng còn âm ỉ và dai dẳng theo suốt cuộc đời. Đau thương chỉ tạm lắng dịu trong niềm vui ngất ngây men say của ngày đại thắng, còn nó vẫn hiện hữu trong mỗi người, mỗi nhà, mỗi thế hệ: “Hai mươi năm không ngày nào vắng người chết đạn/ Khăn tang bay người sống trắng mái đầu/ Đâu cũng gặp những nghĩa trang liệt sĩ/ Chiến tranh chấm dứt rồi mà nào dễ tin đâu” (Nguyễn Trọng Tạo). Là sự thay đổi của giọng thơ Tố Hữu với Một tiếng đờn, Ta với ta, là sự đồng cảm trong Về thôi nàng Vọng phu (Vương Trọng), Hoa đỏ nguồn sông (Nguyễn Đức Mậu)…

Văn học sau năm 1975 miêu tả tính chân thực còn được thể hiện ở nhiều tác phẩm dưới dạng hồi ký, tự truyện, nhật ký. Dù có nhiều ý kiến cho rằng không phải tất cả những cuốn sách đó đều là văn học nhưng khách quan mà nói nó đã đem đến nhiều tư liệu sống và bức tranh hiện thực của chiến tranh như: Nhật ký Đặng Thùy Trâm, Mãi mãi tuổi hai mươi, Trường Sơn có một thời như thế... đem đến cho độc giả thêm một cái nhìn về chiến tranh và người lính.

Có thể coi năm 1975 là một dấu mốc quan trọng của văn học, chấm dứt thời kỳ văn học Cách mạng mang âm hưởng sử thi anh hùng và tiếp tục mở ra một dòng văn học Cách mạng mới hơn - vừa có sự nối tiếp ở giai đoạn trước vừa có dấu ấn của thời “hậu chiến”. Đó còn là dấu mốc để tạo ra độ lùi, độ lắng tiếp bước cho sự ra đời của các tác phẩm văn học đề tài chiến tranh chất lượng được chờ đón ngày hôm nay.

HIỀN NGUYỄN

 

 

 

 

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác