Sơn Nam, những chuyện chưa biết

(Toquoc)- Nói về Nam Bộ, nhiều người liên tưởng ngay đến những câu chuyện của Sơn Nam. Qua những tác phẩm của ông, phần nào mọi người tìm được đến những điều quen thuộc trong cuộc sống, hiểu hơn về mảnh đất, về con người…

Sơn Nam, những chuyện chưa biết - ảnh 1
Nhà văn Sơn Nam (ảnh TTVN)
Để hiểu thêm về Ông già Nam Bộ dễ mến này, những chuyện dưới đây sẽ đưa ta tới gần ông.


Đi coi nước

Nhà văn Sơn Nam gần giống như loài chim trong truyện ngắn “Tháng Chạp chim về”. Hồi ông còn sống khoẻ mạnh với tình yêu dành cho quê hương, năm nào vào khoảng tháng bảy tháng tám, ông cũng có một chuyến đi lặng lẽ quanh lục tỉnh. Mùa này miền Tây mênh mông nước khoả liền ruộng vườn, trời có thu phe phẩy, sau đó là gió chướng, loài điên điển như đợi điều kiện như vậy trổ bông vàng rực. Đây là mùa đẹp nhất trong năm, báo hiệu Tết đã gần kề, cuộc sống bừng dậy đón nhận tôm cá, phù sa mùa nước mang về đồng ruộng. Tuy nhiên đây cũng là mùa người phải chịu cực khổ trôi nổi sống chung với nước nôi. Ông trời không biết già hay là trẻ thỉnh thoảng đùa dai cho một năm nước lớn kéo dài hơn lệ thường. Thật bất ngờ ông hỏi thăm rồi tìm nhà tôi. Tò mò tôi hỏi chú xuống có việc gì và tôi ngạc nhiên thấy miền Tây ông có xa lạ gì, lại thủng thẳng nói mình đi coi nước, đi thăm dân tình.

Gần đây Nguyễn Trọng Nghĩa có viết truyện ngắn hay Đi coi nước, ý tứ cũng gần như vậy. Tôi định báo cho cơ quan, cho Uỷ ban Nhân dân, biết tin dù sao ông cũng là nhân vật tên tuổi. Nhưng ông xua tay, chú nầy, đi thăm dân tình thì phải ghé nhà dân tình như chú, ghé tham quan quyền tổ chức nhậu nhẹt tốn thì giờ mà không biết được gì. Sau này tôi biết thêm, về tỉnh ít khi ông ngủ khách sạn, vì nó lạnh lẽo không có ai trò chuyện. Ông đọc báo thấy dưới tỉnh có đứa nào coi bộ viết được, chẳng đợi ai tìm tới mình mà ông tự động tìm đến nhà. Đây là đặc điểm của ông, các nhà văn lớn khác hình như không được như vậy. Lần đầu tiên gặp nhau tôi thấy làm lúng túng, ông bước vô nhà hỏi tự nhiên.

- Ai là Ngô Khắc Tài. Chú biết tôi không.

Thêm một lúng túng nữa, tôi cũng có máu ăn uống muốn đãi khách để rồi mình ăn luôn nhưng gặp khách là ông già không biết khẩu vị của ông như thế nào. Ông như đọc được băn khoăn của tôi, rất tự nhiên ông ra thực đơn.

- Gia đình chú ăn gì cứ mua nghen. Phần tôi, tháng này có me non chú kiếm ít trái về ăn với cá kho quẹt. Ê, lúc nảy tôi gặp mấy chỗ bán bánh xèo có lá bằng lăng rất ngon. Sài Gòn thứ gì cũng có nhưng mấy loại lá cách, lá lụa, đọt bằng lăng lại không có như ở xứ mình. Chú mua vài cái bánh tụi mình lai rai chơi. Thiên nhiên mùa nào thức nấy thèm ăn bánh xèo là trúng điệu. Nhưng mà trái me non, tức me không có hột chỉ thường để nấu canh chua đằng này ông muốn ăn kèm nó với cá kho quẹt. Lập tức ông giải thích đây là món ăn xưa của đồng ruộng của người khẩn hoang. Món ăn cũng có xưa có nay giống đồ cỗ nhưng ông cho là có. Khẩu vị người xưa khác người thời nay, có những thứ những món bánh thất truyền ít được người nhớ. Nghe nói tôi ngẩn ngơ nhớ lại, con nít ở quê hay bẻ me non đâm nát ra trộn nước mắm đường để ăn chơi. Người lớn nhất là người già như má tôi hồi còn sống rất thích ăn cá kho quẹt với me non nhưng rồi ngày nay xung quanh như quên nó đi có lẽ vì nó quá dân dã, rẻ tiền. Chứng tỏ ông sống lâu ở Sài Gòn nhưng thói quen gốc quê vẫn còn bền bỉ trong tâm hồn, chất quê đã trở thành tâm hồn.


Óc phán đoán nhạy bén

Ta nhớ Zađích của nhà văn Banzắc là nhân vật có óc phán đoán tuyệt vời, nhà vua muốn thử tài cho mời Zađích vào cung. Nhà vua cho tên thị vệ bưng ra một cái hộp có nắp đậy, lại hỏi Zađích trong hộp chứa cái gì. Zađích trả lời đó là trái lựu. Nhà vua ngạc nhiên hỏi lựu sống hay là chín. Zađích tỉnh queo đáp lựu sống. Vua tò mò không hiểu tại sao Zađích lại biết rõ như lòng bàn tay. Và vua phải khâm phục khi Zađích cắt nghĩa, nếu như bệ hạ không có ý cho nghiêng cái hộp hạ thần cũng không tài nào đón ra. Nhờ hộp nghiêng hạ thần lắng tai nghe tiếng lăn bên trong rõ ràng chứa một vật tròn. Không phải sắt thép vậy đó là trái cây. Xung quanh cung điện trồng nhiều lựu, rõ ràng nó là trái lựu. Mùa này chưa tới hè, lựu chưa chín, vậy nó còn sống. Sở dĩ tôi nhắc Zađích vì khi được dịp cùng ông lang thang, tôi nhận ra ông rất tinh tế, nhạy bén. Một vòng quanh vùng tứ giác Long Xuyên, có nhà ghé vô ông giới thiệu mình là người ở Sài Gòn, người ở xa đi chơi tham quan tìm hiểu. Trái lại có nhà, bước vô ông lên tiếng - tôi là Sơn Nam. Tò mò tôi hỏi vì sao, ông cười, khoái chí giải thích. Nhìn vô nhà có tranh ảnh treo trên vách, nếu gặp tranh mấy cô đào hát cũng khó biết gia chủ là ai. Ở đây chơi tranh phong cảnh, tranh chữ, lại thêm trên bàn có mấy cuốn sách. Rõ ràng đây là nhà của một ông giáo làng, còn không cũng là kẻ có học. Tất nhiên họ phải biết đến Sơn Nam. Ông tỏ ra đầy tự tin, quả nhiên sau khi nghe giới thiệu, anh chủ nhà rối rít lên kêu vợ con đi mua cà phê, đi bắt gà làm thịt.

Lần khác ông rủ tôi đi qua Tiền Giang, thăm hội văn nghệ, dạo chợ Mỹ Tho. Tôi chẳng khác tên tiểu đồng đi theo thầy học hỏi kinh nghiệm, là người viết rất cần những nhận xét tinh tế nhạy bén. Qua mấy con đường phố, đi ngang qua ngôi nhà, tôi thấy nhà chỉ mở một cánh cửa, một cánh thì khép tôi thấy đâu có mua bán gì, vậy mà ông quả quyết. - Nhà này trước kia làm tiệm cầm đồ, tầm tầm - Tôi lấy làm ngạc nhiên, ông kêu quan sát cho kỷ đi nhưng tôi nhìn lần nữa vẫn không biết gì. Này nhé, ông cắt nghĩa, bộ bàn ghế chưng giữa nhà là đồ xưa thuộc loại danh mộc nhưng mỗi thứ một cái không trùng bộ. Chứng tỏ đây là hiệu cầm đồ lúc trước, cầm cả bàn ghế không chuộc còn sót lại. Ba cái đồng hồ treo tường cũng xưa, chẳng có ai mua một lượt ba cái đồng hồ để treo, trừ nhà sưu tầm, hoặc tiệm cầm đồ. Tôi vẫn chưa chịu tin, theo ông bước vào nhà quả nhiên sau một câu hỏi, gia chủ xác nhận , mấy chục năm về trước ông nội mình làm nghề cầm đồ. Rõ ràng đôi mắt của ông như thần nói gì trúng đó, chẳng qua ông tích luỹ nhiều vốn sống hơn người. Đi ngang qua một nhà khác, trước sân có gốc vú sữa, bày hai bộ bàn ghế một người đàn bà đứng tuổi ngồi bán bánh tằm. Thêm lần nữa tôi ngẩn ngơ khi ông kêu dừng lại để phân tích ­- Đây là một người con cái đã lớn, buồn không có việc gì làm bày việc buôn bán để chơi. Bằng chứng người quần áo trắng trẻo, tay có đeo chiếc huyền xưa lên nước bóng, đồ thiệt bạc triệu đó người nghèo không thể có. Nhìn kìa chén dĩa rất sạch sẽ, lại thêm nước cốt dừa. Nước cốt dừa thường hay pha bột để bán có lời ở đây nước cốt dừa bồng con. Để thử tài tôi rủ ông ăn bánh tằm. Quả nhiên sau vài câu hỏi trao đổi y như ông nhận xét, bà bán bánh xác nhận. Trước đây mình là cô giáo chồng chết đã lâu, con cái cũng đã lớn đi xa, buồn không có chuyện gì làm bày ra việc mua bán để mua vui và thiếm rất tự nhiên hỏi - Anh ở đâu làm nghề gì. Ông trả lời mình là Sơn Nam, bất ngờ người đàn bà nói, thiệt sao tôi có đọc anh trên báo…Sau này tôi không biết ông có trở lại Tiền Giang nếu có thì rõ ràng đây là tình nghĩa bánh tằm nước cốt dừa chẳng khác gì truyện ngắn Tình nghĩa giáo khoa thư.


Tiền bạc với Sơn Nam

Ông có tật hay than vãn mình nghèo và có lần ông viết trên báo - Mình nghèo nhưng sách in ra anh em xúm lại xin chứ không mua. Ai cũng biết nhuận bút của ông thuộc loại cao, sách được tái bản nhiều lần vậy thì tiền bạc chạy đi đâu. Nhiều lần tôi đọc báo thấy người viết chuyện này, còn nói: “ chưa ai hân hạnh được ông mời ly cà phê đen” làm như ông keo kiệt hay là người viết còn muốn lấp lửng điều gì nữa. Gần đây trên báo Tuổi Trẻ nhà văn Lý Lan ghi lại - Khi chiếc tắc rán chạy ngang qua con rạch rẽ vô nhà ông. Lý Lan hỏi ông có muốn về thăm nhà, ông trả lời: “Bà con nghèo mà mình cũng nghèo về làm gì”. Chi tiết này gợi tôi nhớ lại một lần ông xuống An Giang rủ tôi đi huyện Phú Tân cưới vợ cho thằng con, khi thấy ông đi xuống với hai bàn tay không tôi tò mò, ông trả lời: “Đám cưới con chẳng lẽ mình không chứng kiến, có mình nó vui được rồi”. Ông vừa nói vừa cười nhưng đó là nụ cười gượng gương mặt vẫn để lộ ra nét trầm tư. Thấy vậy tôi mới cho nhà thơ Hồ Thanh Điền lúc đó là Phó Chủ tịch Hội Văn nghệ An Giang hay tin. Anh Điền thấy không được, liền sốt sắng ra chợ mua cho ông mấy mâm rượu trà, trầu cau phủ vải đỏ lên cho nó giống đám cưới. Tới nay tôi vẫn còn xúc động vì điều này. Đời người tiền bạc không biết đâu là đủ, nhất là nhà văn chẳng ai biết có lúc lại nghèo đến cỡ như vậy. Nhưng ông Sơn Nam có tiền, ông tiêu xài như thế nào. Hôm đi vòng vùng tứ giác Long Xuyên, chắc là ông mới lĩnh tiền nhuận bút nào đó kha khá. Ghé thăm một trường học, dưới nắng trưa không một bóng cây, mái tôn thấp nóng như lò lửa. Nhà tập thể chật chội mấy ông thầy giáo đang ở trần, thấy khách vội vàng đứng lên lấy áo mặc vô. Ông đưa tay cản và ông tự nhiên cũng cởi áo ra. Sau một hồi trò chuyện ông tặng cho mấy ông thầy giáo mỗi người năm chục ngàn. Và đưa thêm tiền kêu mua két Lave về để uống chơi. Dường như ông biết tôi đang quan sát khi mấy thầy chạy đi kiếm cá hái rau muống về chuẩn bị nấu ăn, ông kêu tôi nói nhỏ: “Đám con ông cháu cha, đừng hòng vô chỗ đồng không mông quạnh phục vụ. Đám này là con nhà nghèo thế cô, mình nên an ủi người ta phải biết thương người”. - Ở đồng thiên hạ chơi rượu đế không khoái uống bia. Chẳng qua là không có tiền thôi, lương bổng đủ sống cũng bia bọt, bia ôm như ai. Nghe ông nói tôi vẫn chưa chịu nhưng sau đó tôi tâm phục khẩu phục khi ông tiếp tục. - Tên tuổi mình anh em biết tiếc gì két Lave. Sơn Nam xài tiền như vậy đấy, một đồng thì không bỏ ra nhưng đúng chỗ thì ông rộng rãi, hào phóng. Khi đến Núi Sập viếng đình thờ Thoại Ngọc Hầu, thăm miễu thờ ông Bổn nơi nào ông cũng thắp nhang thành kính, chẳng những bỏ tiền vô thùng công đức mà còn cho tiền ông Từ giữ đình. Tôi lại thắc mắc thì bị ông rầy, mục đích đến chùa là để thư giãn đầu óc. Không có người trông coi quét dọn chùa bỏ hoang làm sao chú máy có chỗ lui tới, mình chớ có hẹp hòi. Cũng đừng nên nói thầy chùa ngồi không cũng được người cúng. Ăn của bá gia bá tánh đâu có dễ. Cúng là việc của mình, ai nhận không lo tu cho có đạo hạnh quả báo ráng chịu. Có quả báo nghe chú mày.

Ông có tật hay hỏi, món này giá bao nhiêu. Ai kêu viết bài chưa gì đã hỏi bài trả giá bao nhiêu. Đi cùng với ông mới biết hoá ra ông có tính sòng phẳng, thái độ của ông đối với thầy cô giáo chốn đồng sàn, với ông từ giữ đình đã nói lên điều này.


Sư Huynh Đạo Tứ Ân Hiếu nghĩa

Đây là đạo tên gọi cũng là tôn chỉ tu hành. Đạo duy nhất trong nước có nhiều người biết chữ Nôm, dạy chữ Nôm để đọc kinh, mặc đồ đen, bới đầu tóc giữ nhiều tục lệ xưa như tục kỵ huý, hoa nói là huê, đường nói là ngọt, ăn cá không ăn thịt trong 12 con giáp. Vừa qua Tứ Ân Hiếu nghĩa được công nhận là một tôn giáo. Nguồn gốc đạo có từ đời vua Tự Đức lúc vùng Bảy Núi còn rừng rậm hoang vu đầy rắn rít cọp beo. Ngài Ngô Lợi còn được tín đồ gọi là Đức Bổn Sư gốc bến xe tìm đến lập làng An Định ngày nay là xã Ba Chúc, ngài mở đạo quy tụ dân các nơi đổ về. Thực dân Pháp cũng lẹ làng đánh hơi thực chất nhà Sư Ngô Lợi tìm nơi vắng vẻ lập đạo có ngầm ý đồ tuyên truyền chống mình. Một ông gánh (trưởng họ đạo) gặp tôi biết có viết lách, hỏi có quen Sơn Nam. Ban đầu tôi tưởng tên tuổi của ông ở đâu cũng biết. Nhưng qua chuyện trò, tình cờ tôi phát hiện những chức sắc lớn tuổi trong đạo trân trọng coi ông như vị sư huynh. Số là thực dân Pháp sai tổng đốc Trần Bá Lộc đem quân vây ráp đốt làng Ba Chúc nhiều lần vẫn không xong. Pháp bắt giam ngài Ngô Lợi thả ra ngài vẫn tiếp tục công việc cho đến khi qua đời. Lúc này đạo như rã rời tín đồ mạnh ai nấy chạy. Trần Bá Lộc tham lam cho chở về Sài Gòn chiếc Long Đình (là chiếc ngai thờ sơn son thiếp vàng chạm trổ rồng phụng, là vật biểu tượng của đạo). Qua thời Ngô Đình Diệm, chiếc Long Đình được đem vô viện bảo tàng, chức sắc của đạo mấy lần đòi lại vẫn không được. Chuyện tiếp tục đến thời Nguyễn Cao Kỳ, tướng Kỳ cũng không hiểu rõ vị trí của Tứ Ân Hiếu nghĩa như thế nào với vùng đất biên thuỳ. Nhà sư Ngô Lợi bị Pháp bắt xử án ra sao. Những vị chức sắc tuy là biết nhưng cũng chưa biết hết hành tung vị giáo chủ của mình. Họ lúng túng, may sao nhà văn Sơn Nam tình cờ biết được. Bằng bộ óc minh mẫn ông nhớ mình trước đây có đọc tài liệu của mật thám Pháp viết về vụ án Ngô Viên. Ông suy ra Ngô là họ, Viên là chùa, vậy nó dính dáng tới nhà sư Ngô Lợi. Ông cũng không chú ý lắm nhưng để giúp cho đạo ông mò đến mấy thư viện tìm lại tư liệu, hầu hết là của Tây, rõ ràng Tây do cai trị biết nhiều hơn ai về vùng thất sơn về đạo hiếu nghĩa. Ông ráp nối tư liệu thành một bài. Cho mấy ông đạo đưa lên Nguyễn Cao Kỳ. Tướng Kỳ đọc qua đó mới hiểu được nguồn gốc câu chuyện, đồng thời muốn lợi dụng vụ này để tạo uy tín cho mình nên ra lịnh trả lại chiếc Long Đình. Tiếp đến Nguyễn Cao Kỳ mời Sơn Nam đi trực thăng với mình đên Ba Chúc dự buổi lễ trao trả. Buổi lễ diễn ra long trọng đông đảo tín đồ tham dự, thay vì mấy vị chức sắc đứng lên phát biểu, họ lại cử sư huynh Sơn Nam lên đại diện đọc diễn văn nói về đạo Tứ Ân Hiếu nghĩa: Bài nói chuyện nâng cao tầm vóc của đạo trước mắt chính quyền Sài Gòn, nhưng khi buổi lễ kết thúc sư huynh bỗng biến mất, đi đâu chẳng ai hay biết. Tiệc chiêu đãi sư huynh chẳng những không dự, cũng không theo Nguyễn Cao Kỳ lên trực thăng trở về Sài Gòn. Sau này tôi có hỏi lúc đó ông đi đâu, ông vui vẻ cho biết - Mình gặp chuyện phải làm, ngặt anh em lúc đó ở trên núi, sợ anh em không biết hiểu lầm cho mình. Hoá ra sau buổi lễ ông âm thầm trốn đi, và sẵn dịp ông dạo chơi quanh vùng Thất Sơn hai ngày rồi lặng lẽ theo xe đò về Sài Gòn. Có lẽ vì sợ hiểu lầm, sau đó tôi đọc hồi ký không thấy ông nhắc chuyện này, cũng như nhiều chuyện khác. Lần cuối cùng ông về An Giang, tôi có nhắc lại, ông tỏ ra hào hứng cười rồi vỗ vai tôi - Ê, đời có nhiều việc vui lắm nghe nhưng có việc phải nhường lại cho lịch sử.

Ngô Khắc Tài

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác