Nhà văn Nguyễn Huy Tưởng: Nhanh già vì quá… lo xa

Hà Khải Hưng

Sinh thời, nhà văn Nguyễn Huy Tưởng từng không ít lần ca cẩm về cái “bản mặt già trước tuổi” của mình. Là người được tiếng lành hiền, đôn hậu, song gương mặt ông lại có vẻ khắc khổ, khó gần. Kỳ thực, nhà văn có thiên hướng viết về chuyện lịch sử này vốn là người cả nghĩ.

Đọc bộ “nhật ký” gồm 3 tập của ông do NXB Thanh niên ấn hành hồi tháng 9-20063, ta nhận thấy không chỉ là cả nghĩ, mà ở ông còn chất chứa rất nhiều mối lo lắng... thái quá, theo kiểu dân gian ta vẫn nói vui là... lo bò trắng răng. Âu cũng là đặc tính của từng người là đặc tính của từng người, dù rằng nó cũng ít nhiều mang dấu ấn của một thời cơ khổ.

Trong những năm đầu kháng chiến chống Pháp, do mất liên lạc với vợ con, Nguyễn Huy Tưởng đã có tình ý với một phụ nữ góa chồng (tên là Cương). Ông định tiến sâu tới hôn nhân, nhưng chuyện hai người cứ dềnh dàng bởi những mối lo... đẩu đâu. Ngày 7-12-1950, Nguyễn Huy Tưởng ghi vào nhật ký: “Viết thư cho Cương. Lòng bừng bừng cháy. Đêm qua nói chuyện về Cương với Thi, khuya mới đi nghỉ. Lo nghĩ và trơ trẽn: ngần này tuổi còn thư tình. Thiên hạ đồn nhiều về việc cưới của mình”. Mặc dù tình cảm giữa Nguyễn Huy Tưởng với người phụ nữ này có lúc lên đến đỉnh điểm, ngỡ như không thể sống mà thiếu nhau, song trong trang nhật ký ghi ngày 19-12-1950, ông đã lại viết: “Ngại chuyện vợ con. Cương sẽ là gánh nặng. Và ngăn trở sự nghiệp sáng tác của mình”.

Ở trên, chúng ta đã đọc thấy mối lo lắng của Nguyễn Huy Tưởng về… tuổi tác. Kỳ thực, khi ấy nhà văn của chúng ta chưa đầy bốn mươi tuổi. Vậy mà, với ông, đây là một nỗi buồn trĩu nặng. Ngày 7-1-1951, nhà phê bình văn học Hoài Thanh tìm đến thăm ông. Ông mượn kính của Hoài Thanh đeo thử, rồi xoay sang buồn và... lo lắng khi thấy mình đọc… rõ chữ. Nguyễn Huy Tưởng kém Hoài Thanh 3 tuổi, lẽ thường đeo kính của Hoài Thanh phải  khó đọc mới... đúng lý. Cũng vậy, ngày 8-2-1951, gặp một đôi bạn trẻ đến chơi, trước tác phong trẻ trung của họ, Nguyễn Huy Tưởng soi gương và thốt lên “Trán đã răn nhiều. Lo quá”.

Tháng 10-1955, trên cương vị Ủy viên Ban Chấp hành Hội Hữu nghị Việt - Xô, Nguyễn Huy Tưởng được mời sang thăm Liên Xô. Qua những năm dài gian lao kháng chiến, từ rừng sâu Việt Bắc được đi thăm quê hương Cách mạng Tháng Mười, nơi được xem là thiên đường của chủ nghĩa xã hội, những tưởng nhà văn sẽ rất vui. Song, cứ theo như trong nhật ký thì được tin đi ông lại “bịn rịn không vui”. Một phần vì cuốn sách “Truyện anh Lục” của ông đang in dở, một phần vì cậu con trai duy nhất của ông “đang ho”, “nên ra đi lại càng lo”. Nhưng đấy chỉ là một vài lý do phụ, cái chính là ông “tự thắc mắc nhiều nhất là khả năng có hạn, ở nhà cũng đã tầm thường, sang Liên Xô, gặp những người, nhất là những văn nghệ sĩ nổi tiếng, lừng lẫy, mình đã xứng đáng đại diện cho văn nghệ Việt Nam đâu” và “Biết mà nói, biết gì mà giới thiệu”. Mãi rồi, ông phải trấn an mình:  “Lo cũng không được”, thôi thì “biết nói biết, không biết nói không biết”.

Tháng 8-1956, con gái đầu của ông được tuyển chọn đi học ở Cộng hòa Dân chủ Đức. Bấy giờ cuộc sống của Hà Nội sau giải phóng khó khăn, thiếu thốn trăm bề, song, thay vì tâm trạng hân hoan khi con gái mình được đi ra bể rộng trời cao, nhà văn của chúng tôi lại lòng đầy lo lắng, vì “Đông Đức lại là nơi đầu sóng ngọn gió”. Thậm chí, một năm sau, khi cô con gái đã có thư về cho bố mẹ, báo cáo tình hình học tập rất khả quan, ông vẫn vẩn vơ nghĩ tới một tình huống: Ngộ nhỡ mai này nước Đức thống nhất “một chính phủ khác không chịu nhận đám học sinh Việt Nam thì sao”.

Ngày 15-5-1956, hay tin nhà văn Nga Phađêép tạ thế, lại đọc được một nhận xét của văn hào Sôlôkhốp, đại ý: Bầu Phađêép giữ cương vị lãnh đạo Hội Nhà văn Liên Xô là “Cướp mất của Phađêép 15 năm sáng tác”, nhìn lại sự nghiệp văn học của mình. Nguyễn Huy Tưởng không khỏi bàng hoàng. Và ông tự nhủ: “Cần mạnh dạn vứt bỏ những công việc sự vụ mà lo nghĩ về sáng tạo”.

Mặc dù tâm niệm vậy, nhưng đến khi Đại Hội Văn nghệ toàn quốc khai mạc (ngày 28-2-1957) và được rút ra khỏi vị trí lãnh đạo, Nguyễn Huy Tưởng lại ở vào tâm trạng vừa mừng vừa... lo. Và ông đã ghi lại mối lo ấy như sau: “Lo không sống được. Vợ sắp đẻ, con nhiều, nhà xuất bản ít. Làm sao mà sáng tác đủ để mà nuôi vợ con”. Cũng tâm trạng tương tự, sau kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa I, Nguyễn Huy Tưởng viết trong nhật ký: “Kế hoạch 3 năm: phấn khởi. Nhưng lại lo: nhân dân tiến vùn vụt. Mình sẽ theo làm sao đây?”.

Mùa hè năm 1960, Nguyễn Huy Tưởng đau bệnh, được các bác sĩ chẩn đoán ung thư gan. Trong những ngày nằm điều trị tại Bệnh viện Việt - Xô, ông có nhiều điều lo nghĩ mông lung. Và khi vợ vào thăm nom, nhìn vóc dáng vợ gầy gò, sắc mặt xanh, vàng, ông bực bội bảo vợ phải đi khám xem thế nào. Vợ không nghe, ông gắt: “Chết nốt thì làm thế nào?” (ý là ông bị bệnh nan y, cầm chắc cái chết rồi, nay nếu vợ không cẩn thận, cũng “đi” nữa, lấy ai nuôi con). Sau khi phát ra câu mắng này, nhà văn lại càng thêm… lo lắng, thấy mình ”như nói gở”. Sự thật sau này khác xa với điều ông suy tưởng.

Vẫn biết sống ở đời, ai cũng cần có lúc phải lo xa, song vấn đề là, như nhà thơ Thôi Hữu từng có lần khuyên Nguyễn Huy Tưởng: “Có việc thì cứ làm. Lo mà biết là cũng không làm được gì thì không nên lo nữa”. Bản thân Nguyễn Huy Tưởng, sau lời khuyên này cũng cảm thấy “đỡ lo”. Song rồi... đâu vẫn lại đấy. Tính cách của ông là vậy. Âu cũng là: Lo xa vốn sẵn… tính trời!

 

(Văn nghệ Công an)

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác