Lan man chuyện chuột, chuyện mèo…

“Đám cưới chuột” là tên mà người đời vẫn gọi bức tranh một cách nôm na. Còn tên chữ của nó (và cũng là ý nghĩa xã hội của nó) thì như bốn chữ ở góc trái phía trên tranh cho biết, là “lão-thử-thú-thân” (chuột già nhân đám cưới để cầu thân) cơ. Đó là một bức tranh dân gian nổi tiếng của làng tranh Đông Hồ. Do dốt đặc về hội hoạ, nên tôi chẳng dám lạm bàn về tính nghệ thuật của bức tranh, mà chỉ xin được trình độc giả một vài điều tâm đắc của mình, về khía cạnh xã hội của nó…

Không thế, sao được phép “án” phương nhà theo thuyết âm dương ngũ hành?

Lan man chuyện chuột, chuyện mèo… - ảnh 1

Ở chiều sâu nhất của tranh là năm chấm đen, mơ hồ như năm cái lỗ chuột. Nhưng năm cái lỗ này được bố trí rất chỉnh tề theo mô hình của thuyết ngũ hành với hành Thổ ở giữa, bốn hành Kim- Mộc- Thuỷ- Hoả ở bốn phương chính. Thế có nghĩa là gia đình nhà chuột này có chữ nghĩa lắm, quý phái lắm. Ông Nghè thì không biết có không nhưng ông Cống (đời Lê, cử nhân gọi là Cống sinh) thì chắc rồi. Biết đâu lại chả là “danh gia thế phiệt” trong xã hội chuột? 

Ngày xưa, triều đình phong kiến có những quy định hết sức khắt khe về không những mũ mãng, quần áo mà còn cả thước tấc nhà cửa cho từng hạng quan, hạng dân. Xã hội trọng Quý (những người đỗ đạt, có quan tước) mà khinh Phú (giầu nhưng không có danh phận). Ví như dân buôn chẳng hạn. Dù có giầu ức vạn thì “những nhà làm gác chứa hàng- nóc nhà không được cao bằng kiệu quan…”. Chúa Trịnh đã diễn nôm những quy định của triều đình ra như vậy, để cho dân dễ thuộc mà thi hành. Đừng có cậy giầu mà ăn mặc, xây xướng búa xua để rồi chỉ bị “xử lý nội bộ” như bây giờ.

Đám đón dâu nhà chuột chắc là xuất phát từ năm cái lỗ ấy. Một đường phân cách chia bức tranh làm hai mảng trên, dưới. Phần dưới, đi đầu là một chú chuột ngựa hồng yên gấm, áo thụng “ra chiều phong vận”, mũ cánh chuồn có ngù bông. Đây có lẽ là “vị đại diện” cho họ nhà giai, người sẽ phải thay mặt họ nhà giai “có lời“ với nhà gái lúc đón dâu. “Vị” này cũng là người có chức có quyền. Chính cái mũ cánh chuồn và cái lọng che, do một thằng chuột đen sì vác theo sau, đã nói lên điều đó (mũ cánh chuồn và lọng che, là những thứ mà ngày xưa chỉ quan lại mới được dùng).

Ngay sau là một gã chuột vác cái biển có hai chữ “nghênh hôn”. Đến kiệu chú rể, do bốn thằng chuột khiêng. Phải công nhận ban tổ chức đám cưới chuột lựa chọn khá chu đáo. Hai thằng đen khiêng phía ngoài, hai thằng khoang khiêng phía trong. Hai thằng đi sau vừa khiêng vừa ngoái cổ lại, ra ý đằng sau còn đông lắm, họ nhà chuột xếp hàng đi đón dâu còn dài lắm. Chú rể chuột đội khăn xếp, xiêm đen, áo gấm xanh ngồi chĩnh chệ. Mép chú chưa có sợi râu nào chứng tỏ chú còn trẻ lắm. Nét mặt chú lộ vẻ hồi hộp, như đang mơ màng tưởng đến lúc cùng người bạn trăm năm bước vào động phòng hoa chúc…

Nhưng nếu chỉ có độc phần dưới thôi, thì bức tranh sẽ chẳng có ý gì đặc biệt ngoài sự mô tả một cảnh sinh hoạt thời xưa. Phần làm nên ý nghĩa xã hội của bức tranh chính là phần trên…

Bên phải phần trên tranh, lù lù một “miêu đại vương”, như một vị “tiểu hổ”, nét mặt rất nanh ác, ngồi chễm chệ, rõ ra dáng một tiên sinh rất siêng năng thực thi cái sứ mệnh tiêu diệt họ nhà chuột.

Trước mặt tiên sinh, hai “lão thử” đang khúm núm dâng lễ. Lão đi trước khom lưng, hai tay cung kính dâng lên đại vương mèo con chim câu béo mẫm. Lão đi sau, cũng với dáng điệu như thế, dâng một con cá chép.

Nếu để ý đến đuôi của ba “nhân vật” này (mèo và hai chuột dâng lễ), bạn sẽ thấy rõ cái tài hoa, cái ý nhị của nhà hoạ sỹ dân gian. Ba cái đuôi thể hiện ba tính cách, ba kiểu tính toan. Lão chuột dâng chim câu đuôi quắp chặt vào trong bụng, cứng đơ đơ, chứng tỏ lão đang rất sợ (sợ đến cứng đuôi, quắp đuôi), đang run như dẽ trước oai linh của cái thằng có thể “ăn thịt cả họ” nhà mình.

Lão chuột dâng cá đuôi cũng cứng, nhưng mà cứng vểnh lên. Đây có lẽ là một kẻ rất gian, rất mưu mẹo. Cùng đi dâng lễ nhưng lão không tiến lên ngang hàng với đứa dâng chim mà lùi lại, đẩy kẻ khác lên đối mặt với hiểm nguy còn minh thì lùi lại, vểnh đuôi. Thế vểnh đuôi ấy là thế đề phòng, hễ thằng mèo không quơ tay vồ con chim câu mà quơ vào thằng cầm chim là lão “dĩ đào vi thượng” ngay.

Còn miêu đại vương, tuy đuôi cũng cuộn vào trong bụng nhưng mà cái đuôi ấy rất mềm mại, thể hiện một thái độ rất thư thái, rất ung dung của bậc “bề trên”. Một chân y giơ lên, dứ dứ như thể lượng xem chim câu, cá rán ngon hay… thịt chuột ngon. Tất nhiên là đối với giống mèo, thì chim câu, cá rán so làm sao được với thịt chuột.

Nhưng ở đời “muốn ăn dưa phải trồng dưa, muốn ăn đậu phải trồng đậu” (thực qua đắc qua- thực đậu đắc đậu). Sách “gương báu soi lòng” (minh tâm bảo giám) đã dạy vậy mà. Miêu đại vương dẫu ít học, dẫu chỉ quẩn quanh xó bếp, nhưng chắc cũng hiểu được cái lý ấy. Muốn có nhiều thịt chuột, thì trước mắt phải tạm bằng lòng với chim, với cá, để nhà chuột dựng vợ gả chồng cho con cháu chúng nó cho nhiều, sinh đẻ ra thật nhiều cái đã.

Sự tính toán của lão mèo là thế, nên trong tranh, ta thấy lão đang gật gù, và có lẽ lão đang ban ơn :

- Cá này ăn cũng là tanh. Nhưng thôi, tao thể lòng thành chúng bay…

Phía sau hai lão chuột dâng lễ là hai thằng chuột ranh làm nhiệm vụ tấu nhạc. Một là để cho không khí của buổi “tiến lễ” thêm phần long trọng. Nhưng cái chính là để giúp vui cho miêu đại vương lúc thưởng thức chim quay, cá rán, khiến ngài tạm quên đi món thịt chuột là món mà xưa nay ngài vẫn lấy làm khoái khẩu bậc nhất.

Phần lão mèo, thì có lẽ do lễ hậu, do thái độ cực kỳ tôn kính của họ nhà chuột đối với mình, nên lão đã vì quá hài lòng mà mất cảnh giấc, không nhận ra thâm ý của hai thằng chuột già (đã bảo “ranh như chuột” mà lại): tiếng là tấu nhạc giúp vui, nhưng mà hai cái kèn mà bọn chuột dùng lại là… kèn đám ma. Sau vẻ ngoài cung kính, chắc hẳn bọn này đang thầm cầu trời khấn đất cho thằng mèo chết quách đi, chết càng nhanh càng tốt. Nhân đám cưới con cháu mình, lũ chuột già mang lễ đến đút lót cho đại vương Mèo để cầu thân, để “ kiếm đường đi lại”.

Đó chính là nội dung xã hội mà bức tranh muốn nói (Lão-Thử-Thú-Thân)…

Chưa hết ! ý nghĩa xã hội của bức tranh còn sâu sắc hơn nhiều nếu ta khơi thêm một tầng nữa. Chuột là loài gậm nhấm, loài “đục khoét”. Trong xã hội, bọn quan tham, lại nhũng chuyên đục khoét dân lành thường được ví với loài chuột. Kinh Thi có bài “chuột xù” nói về chuyện ấy. Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm có bài “ghét chuột” (tăng thử) ám chỉ bọn ấy. Trạng Trình đã gọi bọn quan lại thời cụ sống là “chuột lớn” (thạc thử), và kết tội chúng gay gắt :

Chuột lớn sao bất nhân

Gậm khoét thật thảm độc ?

Để đến nỗi khắp hang cùng ngõ hẻm chỉ thấy cảnh:

- Đói gầy nông phu than

Đói nghèo nông phụ khóc…

Bọn “thạc thử” gậm khoét thật thảm khốc dân lành, rồi nhân nhà “có việc”, chúng đem một phần của đục khoét ấy dâng bề trên, để được che chở, được bảo vệ, được yên tâm mà đục khoét tiếp. Với ý nghĩa ấy, bức tranh chính là một bản cáo trạng. Và chắc chắn nó chỉ được sáng tác trong một xã hội nhiễu nhương, vua chẳng ra vua, quan chẳng ra quan, kỷ cương phép nước bị buông lỏng, bọn có chức có quyền kết bè kéo cánh, tha hồ lộng hành “mình vuông hiếp chúng, gỗ tròn lăn dân”. Bách tính trong xã hội đó, tất nhiên, là hiểm nguy như trứng để đầu gậy…

Tết năm Tý này, có bao nhiêu con “chuột lớn”, sau lúc “gậm khoét thật thảm độc” của công, của dân, đã mang chim vàng cá vàng đến lễ những “đại vương mèo”, để rồi lại tiếp tục ngồi xổm lên pháp luật mà gậm khoét?

(Báo Nông nghiệp Việt Nam)

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác