Hai lần suýt chết đuối

Năm 1948, báo Chiến sỹ (bộ đội liên khu 4) gồm các anh Hữu Loan, Thư ký toà soạn Vũ Cao (khi đó là Cao Cao), Hà Khang, Nguyễn Đình Tiêu, tôi và vài anh nữa như: Hoả Ngọc Triêm mắt lim dim hay đánh đàn măng-đô-lin, anh Chính “đầu to” hiền lành.

Chúng tôi hồi đó làm văn chương chứ đâu phải làm báo. Anh Nguyễn Đình Lập là Trưởng ban Văn nghệ quân đội Liên khu... Chúng tôi ra hai tập san Mười chín Lúa xanh để in thơ văn của anh em. Hữu Loan, Cao Cao, Hà Khang có nhiều thơ trên hai tập thơ này.

Ăn uống thì rất đạm bạc. Anh Cháu cấp dưỡng thường có món cá khô mặn và dưa lá hẹ.Quanh vùng có nơi bán món ăn ngon, nhưng làm gì có tiền mà mua. Chợ Đà có nem nướng Huế. Quán “tiêu tương” ở Hà Lừng, của gia đình bác Nguyễn Tuân gái, là địa chỉ hấp dẫn. Rồi phở bò xào ở Neo, các loại quà cở cầu Bố… Chúng tôi chỉ ăn cơm là chính, thỉnh thoảng cải thiện bằng một cốc nước chanh quả, pha bằng nước mưa và đường cát. Sang hơn là đánh trứng đường bồi dưỡng.

Chúng tôi đóng quân loanh quanh ở bên sông Mã, sông Chu. Thiên nhiên thật đẹp và hào phóng. Mùa xuân có hoa xoan tím và hoa chẩu trắng. Có tiếng véo von của các loài chim: Bách thanh, chích choè, chào mào, giẻ quạt…

Mùa đông, tôi không có áo ấm. Anh Chính “đầu to” cho cái áo khoách bằng vải bạt màu tím than đã cũ, không có khuy. Tôi phải kiếm mấy sợi dây đồng quấn lại làm khuy. Hồi đó, tôi mới quen Thanh Hương (vợ tôi sau này). Mỗi lần Hương đến chơi, hai đứa dẫn nhau ra gốc cây táo sau vườn, tôi trèo lên hái quả. Hương ở dưới dang cái áo vải bạt ra hứng. Đó là những kỷ niệm đẹp. Cái áo vải bạt bạc màu anh Chính “đầu to” cho ấy, tôi mặc mãi cho tới khi ra Việt Bắc. Năm 1951, tôi có viết câu thơ Khoác vai ấm lương áo nhớ, là nói về cái áo này.

Tắm sông là niềm vui của chúng tôi. Thanh Hoá có hệ thống nông giang, nước trong và mát. Một lần tôi và anh Hữu Loan, Vũ Cao, Hà Khang, Hoả Ngọc Triêm đi tắm nông giang. Các anh Loan, Triêm bơi lội ngang dọc. Tôi mới tập bơi, cố vượt sông một lần. Khi quay lại, đến giữa dòng nước chảy xiết, tôi ngoi ngóp hụt hơi, nhưng vẫn cố ngẩng lên nhìn các anh cười cười. Tới khi thấy tôi đuối hẳn, không rõ anh Hữu Loan, hay Hoả Ngọc Triêm đã nhảy xuống dìu tôi lên bờ. Tim tôi đập thình thịch vì ngượng, còn các anh được dịp cười vui.

Lần thứ hai tôi suýt bị chết đuối trên sông Mã là sau chiến dịch đường 12. Hoà Bình, tôi đi trên chuyến thuyền xuôi từ mặt trận về. Con thuyền gỗ chở chừng ba chục người, phần lớn là thương binh. Kèm theo súng đạn loại nặng. Đêm đã khuya, thuyền đang trôi băng băng bỗng xoay nghiêng như sắp lật úp. Tôi đang mở màng ngủ trên mui thuyền, bỗng dưng bị ném xuống sông, ba lô và chăn trôi mất. Nước réo ào ào. Tôi choàng tỉnh khi thấy chân mình chạm bãi đất, nước ngập ngang ngực. Mọi người trên thuyền nhốn nháo chạy xô về một bên… có nguy cơ làm lật hẳn thuyền. Con thuyền khi đó được đá ngầm cản lại, đứng giữa dòng nước chảy như làm xiếc. Tôi om om chỉ thấy trời sao và nước réo. Một đồng chí cán bộ phải quát lên chỉ huy: “ai ở nguyên chỗ ấy, giữ thăng bằng cho thuyền”. Rồi anh rút súng ngắn ra bắn mấy phát kêu cứu.

Một chiếc ca nô chở khách đi đến đó ghé vào hỏi han, rồi lập tức đổ khách lên bờ, quay lại đón thương binh và bộ đội chúng tôi làm mấy lượt. Cuối cùng con thuyền sắp đắm lấy lại được thăng bằng, được đẩy khỏi bãi đá ngầm, tiếp tục trên dòng sông Mã.

Thế là tôi thoát chết vì sông nước lần thứ hai, trên đất Thanh Hoá thân thương này.

                                                                                        (Sưu tầm)

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác