Giai thoại cụ Trạng Trình

Cụ Trạng Trình - Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585) có cha là cụ Nguyễn Văn Định Thái Bảo Quận Công, mẹ cụ là Từ Phục Phu Nhân.

Tục truyền Từ Phục Phu nhân là người giỏi về văn chương, có sở trường về lý số. Bà ước mộng sinh con trai là thiên tử. Mộng ước ấy bà mãi chưa gặp được, khiến bà muộn chồng. Sau gặp được ông Nguyễn Văn Định, duyên trời đưa đẩy hai bên gá nghĩa rồi sinh con đầu lòng là Nguyễn Bỉnh Khiêm. Bà xem tướng mạo cho con mình và biết chỉ làm đến chứ tứ trụ, hay đỗ đến trạng nguyên là cùng, chứ không phải Hoàng đế. Nhưng Nguyễn Bỉnh Khiêm lại có trí thông minh lạ thường, khi một tuổi, ông đã nói đủ các thứ tiếng. Bốn tuổi mẹ dạy cho học thuộc lòng tất cả các bài chính nghĩa của Kinh Thư và nhiều truyện thơ, bài thơ Nôm, Hán. Nghe đâu một tối, ông bố bế con ra ngồi chơi cạnh cầu ao, ông hứng ngâm: “Nguyệt treo cung, nguyện treo cung”. Bỉnh Khiêm nghe bố cũng hứng và ứng khẩu: “Vén tay tiên, hốt hốt rung”

Ông Văn Định thấy con nhỏ thông minh nên mừng lắm liền khoe với vợ. Bà Từ Thục tức giận mắng rằng: Nguyệt là phận bề tôi, Hốt Hốt cũng là phần bầy tôi sao ông dạy con sớm thế. Bà cho là mưu tính của bà đã thất bại. Bà giao Bỉnh Khiêm cho chồng rồi bỏ đi. Sau bà lấy một người ở làng Phùng Xá, huyện Thạch Thất, tỉnh Sơn Tây. Ông này cũng có tướng sinh con quý tử. Quả vậy, sau này bà đẻ được một người con trai nữa có tên là Phùng Khắc Khoan, tức trạng Bùng. Bà xem lại tướng mạo và lấy lý số của Khắc Khoan cũng không có tướng làm vua, mà cũng chỉ đỗ đạt cao.

Vậy bà Từ Thục với tham vọng làm mẹ vua đã chấm dứt, song bà vẫn dặn dò Khắc Khoan dù có khó khăn cách trở đến đâu cũng phải tìm đến học hỏi Nguyễn Bỉnh Khiêm.

Nguyễn Bỉnh Khiêm lớn lên ngày càng học giỏi. Thầy dạy Nguyễn Bỉnh Khiêm bấy giờ là thầy Lương Đắc Bằng, đỗ bảng nhãn, người làng Hội Trào, huyện Hoằng Hoá, tỉnh Thanh Hoá. Nguyễn Bỉnh Khiêm không những giỏi toàn diện, mà còn nổi tiếng về văn thơ… Một ngày thầy Lương Đắc Bằng ốm nặng, biết mình không qua khỏi, thầy gọi Nguyễn Bỉnh Khiêm vào nhờ lấy cái tráp để trên đầu giường và mở ra lấy quyển sách được gói gọn bằng vải gấm quý, rồi thầy dặn rằng: Thầy cho con quyển sách này, mà chỉ có con mới hiểu được và thầy nhắc con một chuyện ly kỳ, là khi thầy đang làm sứ ở bên Tầu, khi mãn hạn sắp về, thì có một cụ già đến trao cho thầy quyển sách này. Thầy cảm ơn và xin cụ. Cụ già ấy nói: “Không, ta không cho nhà ngươi, ta nhờ ngươi mang về trao cho một người Việt Nam”. Thầy ngạc nhiên hỏi lại cụ cho ai mà không nói tên. Cụ đáp: “Không cần hỏi, chừng nào trong tâm linh nhà ngươi muốn trao cho ai là người ấy được phần”.

Nguyễn Bỉnh Khiêm đọc, nhiều khi cũng không lĩnh hội được, rồi ông cũng cất như thế mãi. Ông đã đọc nhiều lần mới rõ ý. Quyển sách ấy có tên là “Bố thái ất thần kinh”. Nhờ bộ sách ấy mà Nguyễn Bỉnh Khiêm thông suốt những huyền vi của trời đất và nổi tiếng khoa lý số, phong thuỷ…

Nguyễn Bỉnh Khiêm đỗ trạng nguyên thời nhà Mạc, đời vua Đăng Dung. Chẳng bấy lâu Nguyễn Bình Khiêm chán cảnh quan trường, vả lại nhà Mạc cũng không đáng để cụ tôn thờ, nên cụ xin nghỉ. Nguyễn Bỉnh Khiêm lập ra cái Am gọi là Am Bạch và lấy tên hiệu là Bạch Vân cư sĩ, ở đây Bỉnh Khiêm sống một cuộc đời thanh nhàn, vui cùng ngư dân đánh cá, hoặc đi thắng cảnh non sông đất nước mà làm thơ.

Khi sắp tạ thế, cụ Trạng Nguyễn Bỉnh Khiêm có ghi vào gia phả dặn lại con cháu: Bình sinh ta có để sẵn một tấm bia đá, khi nào ta nhắm mắt, chúng bay phải nhớ hễ hạ quan tài xuống phải để tấm bia ấy trên nắp rồi mới lấp đất, khi nào có người lạ đến viếng mộ mà nói: “Thánh nhân có mắt như mù” thì mời người ấy về nhà, yêu cầu họ xoay lại hướng mộ cho ta và không được cải cát.

Con cháu nghe xong làm y như lời dặn. 50 năm sau, có một người Tầu đến, nhìn ngôi mộ cụ Trạng rồi nói rằng: “Cái huyệt ở đằng chân rờ rờ thế mà không biết, là thánh nhân cái gì, hay là thánh nhân mắt mù đó”.

Con cháu mừng rỡ nhờ thầy Tầu để lại ngôi mộ khi đào lên thấy tấm bia đá, vốn tính hiếu kỳ, thầy Tầu bảo rửa sạch, bỗng hiện ra dòng chữ:

Ngũ thập niên tiền mạch tại đầu

Ngũ thập niên hậu mạch tại túc

Hậu sinh nhĩ bối ná năng tri?

Hà vị thánh nhân vô nhĩ mục

dịch là:

Ngày nay mạch lộn xuống chân

Năm mươi năm trước mạch dâng đằng đầu

Biết gì những kẻ sinh sau?

Thánh nhân có mắt mù đâu bao giờ.

Khi xem xong bài thơ này, ông thầy Tầu mới phục cụ Trạng là một thánh nhân thật, tiên tri thật, cụ biết trước cả lời mình sẽ nói. Quả là mình chỉ xứng là học trò của cụ thôi.

Tục truyền năm Minh Mạng thứ 14, quan danh điền sứ là ông Nguyễn Công Trứ đi khai khẩn ở vùng Hải Dương. Một hôm ông thấy cần thiết phải đào một con sông nhỏ ở làng cụ Trạng. Nhưng nếu đào thẳng là phải phá đền cụ Trạng. Dân làng ra xin không được. Ông Trứ cho mình là vâng mệnh Vua, mà Vua còn phong sắc cho bách thần, huống chi là cụ Trạng. Thế rồi ông ra lệnh cho dân phu phải phá ngôi đền Cụ để đào sông.

Ông sai người đem bát hương ra. Ông Trứ thấy dưới đít bát hương có một tấm bia đá bọc vải điều, ông ta sai người giở tấm vải ra thì thấy mấy câu thơ như sau:

Minh mạng thập tứ

Thằng Trứ phá đền

Phá đền thờ phải làm đền

Nào ai đụng đến doanh điền nhà bay?

Đọc mấy câu thơ Nguyễn Công Trứ sợ toát mồ hôi liền phải sửa soạn lại bàn thờ trả cụ và không dám nghĩ đến việc phá đền đào sông nữa.


(Người Hà Nội )

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác