Có tên con mới đặt tên cha

Suốt 76 năm trời đội trên đầu cái tên mộc mạc như hạt lúa, củ khoai, đến nay nhà văn Lê Bầu vẫn lấy làm đắc ý vì trong danh sách dài dặc các nhà văn ta, ông chưa thấy xuất hiện thêm một “lão Bầu” nào nữa.

Ông kể: “Mình sinh tại Hà Nội. Bấy giờ cha mẹ mình làm nghề kéo xe ba gác ở bến Nứa, ngày ngày vẫn gửi mình cho mấy cô bán quán ở cổng chợ. Các cô này bồng bế, cưng nựng mình, thấy mình béo tốt nên gọi mình là thằng bầu thằng bĩnh. Cái tên Bầu từ đó mà ra”.

Lẽ thường, tên bố có trước rồi mới đến tên con. Và tên con nhiều khi là sự tiếp nối về chữ, nghĩa…của tên bố. Ví dụ tên bố là Bầu, tên con là Bí; bố là Dần, con là Sàng…Nhưng ở trườn hợp Lê Bầu thì sự thể hoàn toàn ngược lại.

Nguyên do là khi sinh ra ông, bố ông chưa có… tên riêng. Cụ cùng với người anh trai dùng chung một tên: cụ được gọi là Hóp “con”, còn người anh trai Hóp “lớn”. Sau này người anh đi làm ăn xa nhà và bị tai nạn chết. Chính quyền thực dân không tin, cho là ông này thoát ly đi làm cách mạng nên đã sức giấy về làng, yêu cầu ai phát hiện thì phải báo ngay. Đến khi Hóp “con” về quê làm giấy khai sinh cho con trai thì ông Trưởng bạ (vốn cùng là chỗ quen biết với các cụ thân sinh ra ông) hỏi: “Anh đặt tên cho thằng cu là gì? “. “Dạ, là Bầu. Lê Văn Bầu”. “Thế còn tên bố nó?”. “Dạ, là Hóp, Lê Văn Hóp”. Mới nghe đến đó ông Trưởng bạ trợn mắt: “Anh muốn chết ahy sao mà lấy cái tên này. Anh không biết anh trai anh đang bị Tây nó tầm nã à?”Trong khi chàng trai đớ người, cứ há miệng đứng như trời trồng, không biết xử trí thế nào thì ông Trưởng bạ phán quyết mau lẹ: “ Thằng con là Bầu thì ghi tên bố là …Bí nhé”

Cái tên Lê Văn Bí được chính thức khai sinh từ đấy.

Trở lại cái tên Lê Bầu (khi cầm bút ông bỏ bớt chữ Văn). Quãng đầu những năm 50, Lê Bầu được chọn đi học ở Trung Quốc. Các thầy giáo cả ta lẫn Tàu đều không biết viết cái tên Bầu bằng chữ Hán như thế nào. Không tìm ra được chữ Bầu, họ đành ghi tên ông là Biều (nghĩa là quả bầu). Thế nên đã xảy ra một chuyện. Một cụ giáo viên người VIệt dạy môn Giáo dục học khi mở sổ điểm danh, thấy ghi tên ông bằng chữ Hán là Lê Văn Biều, liền đọc: “Lê Văn Biều”. Anh lớp trưởng nhắc: “Thưa thầy, tên anh ấy là Bầu đấy ạ”. Rất nguyên tắc, ông cụ gắt: :”Không Bầu với bí gì cả. Trong sổ là BIều thì tôi cứ Biều mà gọi!”. Quả sau này cụ… thực hiện đúng như vậy.

Kể lại chuyện này, Lê Bầu phá ra cười. Tiếng cười thật giòn giã, hào sảng.

Nhưng sự “rắc rối” chưa dừng ở đấy. Một lần, Lê Bầu được cử đi phiên dịch cho Đoàn điện thoại tự động của Tổng cục bưu điện sang làm việc tại Trung Quốc. Vì hộ chiếu là hộ chiếu tập thể nên ông không biết phía ta ghi tên ông bằng chữ Hán như thế nào. Khi đến Thượng Hải , bên bạn phát giấy bảo ông làm tờ khai. Sẵn “ngựa quen đường cũ”, ông cứ ghi “Lê văn Biều” . Phía bạn xem giấy, ngạc nhiên không chấp nhận vì trong hộ chiếu chung của cả đoàn thì tên ông lại là… Lê Văn Cử. Thì ra, một ai đó ở Bộ ngoại giao ta, không biết viết chữ Bầu như thế nào mới ghi là…Cử (tức bầu cử). Thành thử nhà văn ta phải loay hoay giải thích mãi, phía bạn mới thông.

Nhà văn Lê Bầu cho biết, phải dăm năm lại đây ông mới tìm ra chữ Bầu trong chữ Hán, đó là chữ Bầu với nghĩa là cái bầu đất (dưới rễ cây). Nhưng “tìm xong rồi thì …không dùng đến nữa. Vì từ bấy đến nay mình có dịp nào đi Trung Quốc nữa đâu”. Lê Văn Bầu nói và lại…cười ha hả.


PHẠM KHẢI

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác