Câu đối còn giấu một vế

1. Thời kỳ Nguyễn Khuyến còn làm gia sư cho Hoàng Cao Khải (thực tế là bị giám sát tại dinh họ Hoàng) tới ngày rằm tháng chạp ông xin nghỉ để về quê ăn tết.

Sau ngày Nguyễn Khuyến về quê, Hoàng Cao Khải có việc đi công cán ngang qua Hà Nam, bèn nhắn cho cụ biết là hắn sẽ đến thăm nhà.

Hôm đó đúng ngày 23 tháng chạp, Nguyễn Khuyến mới nhân dịp ngày dựng nêu và tết ông Táo bèn chơi xỏ họ Hoàng một vố đau. Cụ sai người trồng một cây nêu thật cao, treo trên một chiếc đèn lồng và một vế câu đối như sau:

“Kiết kiết can mao, tiết đáo kinh thiên phù nhật nguyệt”

(Chót vót cờ mao, tết đến chống trời phò nhật nguyệt).

Câu này nghĩa đen nói về cây nêu cao có treo đèn, nghĩa bóng là tỏ chí khí của nhà thơ - Vế đối lơ lửng này cốt là để nhử họ Hoàng vào tròng…

Quả nhiên, khi Hoàng Cao Khải tới, đọc câu đối ở cây nêu thì tấm tắc khen hay, nhưng thấy chỉ một vế thì thắc mắc lắm, cứ nài nỉ đòi Nguyễn Khuyến viết nốt vế thứ hai.

Chỉ đợi có thế, cụ Nguyễn bèn dẫn họ Hoàng vào trong nhà bếp- Cạnh mấy cổ đầu rau (ông Táo), viên Kinh Lược Sử Bắc Kỳ được thấy vế thứ hai dán ở chỗ mấy ông Táo đất mới nặn như sau:

“Mang mang khối thổ, thời lai tảo địa tác quân vương”

(Mênh mông khối đất, gặp thời quét rác cũng làm vua)

Câu này nghĩa đen là nói mấy ông đầu rau nặn bằng đất (vua bếp). Nhưng thâm ý của cụ muốn nói Hoàng Cao Khải chỉ là hạng người như đất sét, gặp thời thì lên (Kinh lược sử) đó thôi.

Hoàng Cao Khải vì tò mò muốn xem vế đối mà phải chui vào bếp. Đọc vế đối có ý nuốt hận cho qua vì biết tại mình đã trót dại, nài nỉ đòi xem nên bị rơi vào mẹo giễu cợt chua cay của Nguyễn Khuyến.


Câu đối còn giấu một vế  - ảnh 1

































2. Năm 1909, cụ Nguyễn Khuyến từ trần, cũng là năm thực dân Pháp và bọn phong kiến triều đình Huế đàn áp khốc liệt phong trào Duy Tân. Từ Nghệ An vô tới Quảng Nam, các bậc sĩ phu yêu nước, các nhà khoa bảng lãnh đạo phong trào đều bị chúng bắt bớ tra tấn tù đày rất dã man. Nhưng nếu có những bậc sĩ phu đứng trước sự khảo tra, tù ngục của kẻ thù vẫn giữ vững khí tiết của người “Sĩ quân tử”, thì ngược lại cũng có những tên có học đạo thánh hiền mà lòng dạ tiểu nhân, thấy gian nguy liền nản chí, đào ngũ về hàng giặc như bọn Nguyễn Bá Trác, Nguyễn Phong Di, Hà Văn Ngoạn, Vương Hữu Phu…

Trong khi các đồng chí, đồng môn bị bắt bớ, tù đày thì Vương Hữu Phu xa rời hàng ngũ, đầu hàng bọn thống trị, vác bút đi thi. Phu đỗ Đình nguyên Tiến sĩ khoa  Kỷ Dậu (1909)- Tú tài Phan Văn Ngôn trước kia vốn là bạn đồng môn với Vương Hữu Phu, cũng là học trò xuất sắc của cụ Phó bảng Đặng Nguyên Cẩn, sau là đồng chí với Phu trong phong trào Duy Tân ở Nghệ Tĩnh. Phạm Văn Ngôn lúc này bị giặc nhốt ở nhà tù, sắp sửa đày ra Côn Đảo, Ở nhà lao Nghệ An, ông Phạm Văn Ngôn hai tin ông Phu đậu Đình nguyên vinh quy bái tổ, liền viết câu đối gởi ra mừng bạn, nhưng chỉ đưa ra có một vế là:

“Phụ giáo ư hương, huynh ất ư hội, quan khôi ư đình, khoa hoạn nhất môn trung, quốc sủng gia khương như thử dả”

(Cha đậu đầu trường hương, anh nhì trường hội, ông lại nhất trường đình, khoa hoạn cả một dòng, ơn nước phúc nhà là thế nhỉ)

Vương Hữu Phu xem vế đối đầu rất thích chí liền cho người mang quà bánh và thuốc men vào nhà lao để xin luôn vế sau.

Phạm Văn Ngôn gửi ra phong thư dán kín. Mở ra xem Vương Hữu Phu lặng điếng nngg khi đọc vế đối thứ hai:

“Phan thê vu Nhật, Đặng hệ vu tù, Ngô lưu vu hải, công danh thiên lý ngoại, bào hoa trâm hốt vị hà tai?”

(Phan sang bên Nhật, Đặng bị giam trong tù, Ngô chịu đày ra biển, công danh ngoài ngàn dặm, bào thêu hốt chạm có ra chi?)

Vương Hữu Phu thẹn đến chín người là phải. Ông bạn cũ đã nhắc đến bậc huynh trưởng là Phan Bội Châu, người Thầy đáng kính là Đặng Nguyên Cẩn, người đồng hương Ngô Đức Kế vốn là những nhà khoa bảng lừng danh đều coi rẻ công danh, hy sinh cho dân cho nước và hiện đang bị tù đày, còn cả nhà Vương thì vênh vang áo mão thật là một chuyện đáng mỉa mai.

Hai câu đối lơ lửng nêu trên đã là cái bẫy gài kẻ bán nước, phản bội vào thế bê mặt hổ thẹn mà không bắt bẻ được người chơi xỏ mình. Nay đọc lại ta vẫn còn mến phục cái phong thái trào phúng thanh cao mà sâu sắc của các bậc nho sĩ yêu nước đầu thế kỷ XX. Một vị Tam nguyên đã cáo quan về nhà vì không muốn cộng tác với bọn thực dân, một ông Tú tài đã dũng cảm tham gia vào phong trào Cần Vương và Duy Tân đã hy sinh trong nhà tù thực dân ngoài Côn Đảo năm 1910. Các câu đối trên đã trở thành giai thoại văn chương trong kho tàng thơ văn yêu nước Việt Nam thời kỳ đấu tranh chống xâm lăng.

 

(Tạp chí Nha Trang)

 

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác