Bút danh hai anh em thi sĩ

Ở Việt Nam, hiếm có gia đình nào bố mẹ là nông dân lại sinh được hai người con - hai thi sĩ nổi tiếng: trưởng nam Trần Nhuận Minh và thứ nam Trần Đăng Khoa.

Người anh là nhà thơ được đánh giá là đã sử dụng thành công “bút pháp hiện thực” theo truyền thống thơ Đỗ Phủ, có những vần thơ da diết, đau đáu một nỗi niềm nhân thế. Báo Nhân dân ngày 12/11/1989 từng nhận định về Trần Nhuận Minh: “Anh biết chắt lắng thơ qua sự chắt lắng tâm hồn nhân dân”. Còn người em thì từ lâu đã nổi tiếng là một nhà thơ - thần đồng. Hai anh em rất yêu thương nhau và có phong cách sáng tác rất khác.

Khi tìm hiểu bút danh của hai anh em nhà họ Trần quê gốc ở làng Điền Trì, xã Quốc Tuấn, huyện Nam Sách, Hải Dương, tôi mới vỡ nhẽ: Hoá ra chi họ Trần ở Điền Trì mà Trần Nhuận Minh và Trần Đăng Khoa là hậu duệ trực tuyến, ngày xưa có các cụ đỗ đạt cao, có nhiều trước tác để lại cho nền văn hoá dân tộc.

Theo PGS. Nguyễn Đăng Na, giảng viên trường Đại học Sư phạm Hà Nội, một chuyên gia về văn học trung đại Việt Nam, thì dòng họ Trần ở làng Điền Trì vốn là hậu duệ của Thái sư Trần Quang Khải, ở phủ Thiên Trường, Nam Định. Trong họ Trần ở Điền Trì, có một nhà bốn đời nối tiếp nhau đỗ đạt cao và giỏi văn chương chữ nghĩa. Mở đầu là cụ Trần Thọ, tự là Nhuận Phủ, sinh năm 1639, đỗ Tiến sĩ năm 1670, làm quan đến chức Bồi tụng - Thượng thư (Phó tể tướng ở Phủ Chúa Trịnh, kiêm Bộ trưởng ở Triều đình vua Lê), có tác phẩm Nhuận phủ thi tập (hiện còn 3 bài thơ chép trong bộ tuyển Toàn Việt thi lục của Lê Quý Đôn); con là cụ Trần Cảnh, sinh năm 1684, đỗ Tiến sĩ năm 1718, làm quan đến chức Tham tụng- Thượng thư (Tể tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Binh rồi sau đó Bộ trưởng Bộ Lễ), có tác phẩm Minh Nông Chiêm phả (Bộ sách khoa học nông nghiệp đầu tiên của nước ta); cháu là cụ Trần Tiến, tự là Cát Xuyên, sinh năm 1709, đỗ Tiến sĩ năm 1748, làm quan đến chức Thượng thư – Phó Đô Ngự sử (Bộ trưởng), có các tác phẩm: Đăng khoa lục sưu giảng (sử), Cát Xuyên thi tập (thơ), Cát Xuyên tiệp bút (ký), Niên phả lục (ký)… trong đó bộ Niên phả lục được đánh giá là một tác phẩm văn học quý và về mặt nghệ thuật, lần đầu tiên trong văn xuôi tự sự Việt Nam có một tác phẩm kí tự thuật; và chắt là cụ Trần Quý (Trần Trợ, có sách chép là Trần Quý Nha), sinh năm 1745, làm quan đến chức Trợ giáo Quý Ngọc tử (Vì thế gọi là cụ Trợ - từng dạy con Chúa Trịnh học) sau làm Tri phủ, có tác phẩm Tục Công dư tiệp ký.

Chi họ nhà thơ Trần Nhuận Minh, đến đời cụ Trần Quý thì nguồn mạch văn chương còn dồi dào, nhưng cứ vơi cạn dần. Đến đời ông nội là cụ Trần Hoàn, nhất là đến cụ Trần Lẫm (thân phụ của anh Minh, anh Khoa) thì cái nguồn mạch kia hầu như đã cạn hẳn. Cụ Trần Lãm là một nông dân, một bần cố nông, từng đi cày thuê cuốc mướn, ít có điều kiện học hành. Nhưng thật thú vị, thật lạ kỳ, cái nguồn mạch kia bỗng dào lên mạnh mẽ, mãnh liệt ở hai anh em Trần Nhuận Minh và Trần Đăng Khoa. Nhất là Trần Đăng Khoa, một thời được cọi là hiện tượng lạ, khách thập phương nô nức tìm đến làng Điền Trì để diện kiến cậu bé làm thơ được coi là thần đồng.

Về bút danh Trần Nhuận Minh

Theo lời nhà thơ Trần Nhuận Minh, như nhiều gia đình khác ở nông thôn, hồi nhỏ bốn anh em của anh, bên cạnh những cái tên chính thức: Minh, Bình, Khoa, Giang (tên này nếu là con trai thì được ghi vào Tộc phả) đều được bố mẹ đặt cho những cái tên nôm na, mộc mạc, chủ yếu chỉ để gọi trong nhà. Vì các cụ cho rằng như thế thì thuở nhỏ sẽ dễ nuôi, lớn lên sẽ ít gặp trắc trở. Năng khiếu thơ ca của cậu ớe Minh cũng phát lộ khá sớm: 10 tuổi đã làm thơ ứng khẩu. Các già làng ở quê anh vẫn còn nhớ một vài bài thơ thuở ấy của cậu và theo Trần Đăng Khoa thì Trần Nhuận Minh rất hãi khi được nghe lại, trong đó có câu: “Hoà bình lập lại Đông Dương! Anh Chiến chị Dự kết duyên Châu Trần”, cậu đọc ứng tác trong đám cưới Đời sống mới đầu tiên ở làng cuối năm 1954. Anh Chiến chị Dự hiện vẫn còn sống ở làng. Lớn tuổi hơn một chút, cậu làm thơ tuyên truyền, viết ca dao, hò vè, phục vụ yêu cầu của địa phương… Sau này, khi đã trở thành một thầy giáo trẻ cấp 2 (năm 1962), có thơ gửi đăng báo, “nhà thơ tương lai” mới lấy bút danh là Trần Bình Minh (Ghép tên em gái là Trần Thị Thanh Bình thành tên đệm trong bút danh). Về sau, dưới nhiều bài thơ của anh người ta vẫn thấy anh ký: Trần Bình Minh. Cuối năm 1971, bỗng nhiên anh đổi thành Trần Nhuận Minh. Hoá ra là anh lấy chữ Nhuận trong tên tự Nhuận Phủ của cụ tổ chính đời Trần Thọ - một bậc đại khoa kiêm thi sĩ, từ thế kỷ 17, ghép vào cái tên Trần Minh của mình. Lại phải kể tới đã có lúc, anh từng cao hứng định đổi tên Trần Bình Minh thành Trần Minh Nhuận Phủ (ghép tên tự Nhuận Phủ của cụ tổ Trần Thọ). Nhưng nghe nói “hiền đệ” Trần Đăng Khoa phản đối quyết liệt, coi đó là một cả chỉ thất lễ với tiền nhân. Cuối cùng, cái tên tồn tại đến ngày hôm nay của anh là Trần Nhuận minh. Tên này vẫn phảng phất hơi hướng của cái tên cụ tổ chín đời, phải chăng cũng với hàm ý: Kẻ hậu sinh này mong muốn được nối tiếp truyền thống văn chương, đỗ đạt rạng rỡ của các bậc tiền nhân. Nhưng, thật bất ngờ, có lần người viết bài này trực tiếp hỏi nhà thơ Trần Nhuận Minh về bút danh của anh. Nhà thơ nói: Trần Nhuận Minh có thể hiểu theo nhiều cách. Có thể hiểu: trần là bụi, nhuận minh là ánh sáng mờ. Trần Nhuận Minh là ánh sáng mờ trong cát bụi. Một cái tên thật nhiều hàm nghĩa. Chữ nhuận, vẫn theo lời nhà thơ, còn có thể hiểu là mềm, mềm mại, thấm nhuần. Nhà thơ luôn tự nhắc mình: càng viết càng phải mềm mại, nhuần nhị, đằm thắm. Đó là cái đích, là mong muốn mà nhà thơ hướng tới. Những vần thơ đau đáu một nỗi niềm nhân thế của nhà thơ Trần Nhuận Minh được sáng tác trong các tập Nhà thơ áp tải (1989), Hoa cỏ (1992), Nhà thơ và hoa cỏ (1993, được tái bản 10 lần)… đã được viết dưới ánh sáng của điều tâm niệm ấy.

Về bút danh Trần Đăng Khoa

Năng khiếu thơ của cậu bé Trần Đăng Khoa phát lộ và nổi tiếng từ năm lên 8 tuổi. Trong bài thơ đầu tay gửi đăng báo Văn nghệ thời ấy, Khoa đã ghép tên em gái Trần Thị Thuý Giang vào tên mình thành Trần Giang Khoa (Như ông anh Trần Minh đã ghép tên em gái vào thành bút danh Trần Bình Minh). Nhưng thật thú vị, bài thơ gửi đăng báo đó, Khoa đã mắc lỗi chính tả khi viết Giang thành Dang (Trần Dang Khoa). Bài thơ được gửi đến toà báo. Bác biên tập (nghe nói là nhà thơ Phạm Hổ) đã sửa chữ Dang thành Đăng vì nghĩ rằng chắc “nhà thơ nhí” viết nhầm. Sau đó, bút danh Trần Đăng Khoa - một cái tên với ba âm tiết mang thanh bằng, rất êm tai, thanh thoát, lại rất có ý nghĩa - xuất hiện đều đặn dưới các bài thơ đăng trên báo, in trong sách. Như vậy xuất xứ bút danh của hai anh em nhà thơ Trần Nhuận Minh và Trần Đăng Khoa đều được hình thành một cách thú vị.

Chữ Trần Đăng trong Trần Đăng Khoa lại ngẫu nhiên trùng với họ và phần đệm trong tên của khá nhiều người như: nhà cách mạng Trần Đăng Ninh, nhà nghiên cứu văn học Trần Đăng Xuyên, Tổng biên tập báo Giáo dục và Thời đại Trần Đăng Thao… Nhưng hỏi thì được biết, các vị này đâu có họ hàng huyết thống gì với nhau!

Như vậy, hoá ra cái bút danh Trần Đăng Khoa nổi tiếng lại là do… Trời cho. Trời đã cho anh tài thơ, lại còn cho anh…một cái tên.


LÊ HỮU TỈNH

( Văn nghệ)

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác