Bài thơ đem lại quốc thể

Võ Huy Tấn là một nhà văn học kiêm ngoại giao nổi tiếng dưới triều vua Quang Trung.

Ông quê ở làng Mộ Trạch, huyện Đường An, nay là Bình Giang, Hải Dương: không rõ năm sinh và mất. Ông đậu hương cống đời Lê, sau ra làm quan với triều Tây Sơn, từng sang sứ nhà Thanh và được triều đình Mãn Thanh rất khâm phục về tài ứng đối.

Tương truyền khi đi sứ nhà Thanh, một hôm ngồi ở công quán tình cờ thấy trong cuốn sổ ghi những đồ cống của ta, do tên lại thuộc nhà Thanh biên chép, có viết hai chữ di quan(quan mọi) để chỉ sứ bộ Việt Nam, Võ Huy Tấn bất bình vô cùng.

“Biết làm thế nào bây giờ, chẳng nhẽ đi gây gổ với một tên lại thuộc? Tên này, chẳng qua cũng chỉ là kẻ thừa hành của vua quan nhà Thanh mà thôi”. Ông suy nghĩ lung lắm cuối cùng ông đã tìm ra một hình thức phản kháng vừa tao nhã, vừa sâu cay.

Ông đề luôn một bài thơ bốn câu ba vần vào cuốn sổ rồi trao cho tên lại thuộc xem”

“Di” bản tòng “cung” hựu đái “qua”

Ngô bang văn hiến tự Trung Hoa

Thần kinh khâm tứ An Nam quốc

Thử tự thư lai bất diệc ngoa

Dịch nghĩa:

“Di” vốn là “cung” hợp với “qua”

Nước Nam văn hiến giống Trung Hoa

Từ xưa tên nước rành rành đó

Viết bậy là “di” há chẳng ngoa?

Viên lại mục này cũng là một người hay chữ, xem xong anh ta rất phục bài thơ ở chỗ khéo léo mà cương nghị, vừa giữ được quốc thể vừa không đẩy cuộc ngoại giao tới chỗ gay go. Tài chính nhất là cách chiết tự chữ “di” của Võ Huy Tấn đã làm cho bọn sứ thần nhà Thanh phải kiêng sợ. Nó có nghĩa là: các ông đừng coi chúng tôi là man di, di đây là di có sức mạnh, gồm cung và mác(chữ di gồm chữ cung và chữ qua hợp lại) chứ không phải là nước hèn yếu đâu.

Nghe nói, sau khi bài thơ được truyền đến tai vua Thanh thì lối gọi miệt thị dân tộc từ đấy được bãi bỏ.

(Giai thoại văn học Việt Nam )

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác