Về sự ngược đời trong thơ Lưu Trọng Lư (*)

Trong những sáng tác thơ trước cách mạng (1945), không ít lần Lưu Trọng Lư bộc lộ cái ngược đời của mình. Chẳng hạn như hai câu thơ sau đây:

Ta viết dăm câu vô nghĩa lí

Người điên xem đến hiểu lòng ta

(Tình điên)

Lưu Trọng Lư

Nhà thơ sinh ngày 19/6/1911, mất ngày 10/8/1991, quê ở Hạ Trạch, Bố Trạch, Quảng Bình.

Những tác phẩm chính của ông gồm: Người sơn nhân (truyện, 1933); Tiếng thu (thơ, 1939); Chiếc cáng xanh (truyện, 1941); Khói lam chiều (truyện, 1941); Tỏa sáng đôi bờ (thơ, 1959); Người con gái Sông Gianh (thơ, 1966) Từ đất này (thơ, 1971); Cây thanh trà (kịch bản cải lương); Anh Trỗi (kịch nói); Nửa đêm sực tỉnh (hồi ký, 1989)…

Lưu Trọng Lư được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật, năm 2000.

Ai lại đi “viết dăm câu vô nghĩa lí” lại để cho “người điên” xem và hiểu bao giờ! Tất nhiên, đó chỉ là một cách nói. Người điên chính là người tri âm tri kỷ với thi sĩ. Và đối với người tri âm tri kỷ thì dù có viết dăm câu hay mười câu vô nghĩa lí đi chăng nữa họ cũng vẫn hiểu nhau. Ở hai câu kết trong bài Giang hồ, thi sĩ còn ngược đời hơn nữa:

Đêm nay hoạ có mình ta

Đốt hương trầm cũ chờ ma dạo đàn

Chờ dạo đàn với ma, quả là chỉ mỗi thi sĩ họ Lưu. Nếu Nguyễn Công Trứ: “Ngồi buồn mà trách ông xanh/ Khi vui muốn khóc, buồn tênh lại cười” (Vịnh cây thông) thì Lưu Trọng Lư cũng ngược đời không kém:

Ngày một, ngày hai cách biệt nhau

Chẳng được cùng em kê gối sầu

Khóc chuyện thế gian cười ngặt nghẽo

Cùng cười những chuyện thế gian đau

(Một mùa đông)

Bài thơ thể hiện rõ nhất cái ngược đời của Lưu Trọng Lư chính là bài Thú đau thương (đã được Phạm Duy phổ nhạc và trở thành một nhạc phẩm nổi tiếng). Ngay cái tiêu đề Thú đau thương đã là ngược đời rồi! Đau thương mà lại “thú”? Người ta thường nói thú đọc sách, thú ăn chơi… Chẳng ai cho đau thương là một cái thú như Lưu Trọng Lư cả. Không những thế, Lưu Trọng Lư còn khuyên người yêu:

Xin để gối nằm im chỗ cũ

Hãy lịm người trong thú đau thương!

Có nghĩa là hãy buông thả tất cả để đắm chìm trong đau thương, để thưởng thức mùi vị, cảm giác của đau thương. Khoa học đã chứng minh một số người có những sở thích rất khác thường. Lưu Trọng Lưu nằm trong số đó chăng?

Với Lưu Trọng Lư, không chỉ có “đau thương” mà “buồn” cũng là một cái “thú”. Trong bài Một mùa đông, thi sĩ viết: Ngày hôm tiễn biệt buồn say đắm. Chưa từng có ai nói “buồn say đắm” bao giờ. Say đắm là trạng thái say mê, đắm đuối quá mức. Lưu Trọng Lư say đắm với nỗi buồn chẳng khác gì say đắm người đẹp, say đắm tình yêu. Và cũng chính vì xem “buồn” là một cái “thú” nên mới có chuyện rất lạ đời:

Những điệu huyền bay, lạc khắp thôn

Từng nhà, đây đó hẹn nhau buồn

(Điệu huyền)

Người ta hẹn nhau đi chơi xuân, đi xem phim, tắm biển… chưa từng có ai hẹn nhau “buồn” cả. “Hẹn nhau buồn” cho dù chỉ là một cách nói nhưng nó cũng xuất phát từ quan niệm ngược đời của thi sĩ. Vì xem “buồn” là một cái “thú” nên Lưu Trọng Lư cứ muốn “say đắm” mãi với nỗi buồn:

Hãy như chiếc sao băng băng mãi

Để lòng buồn, buồn mãi không thôi

(Một mùa đông)

Có lẽ trên đời này chỉ có thi sĩ Lưu Trọng Lư mới có cái ý muốn lạ lùng như thế. Cũng vì vậy mà thi sĩ rất nhạy cảm với cái buồn. Bài Thơ sầu rụng, thi sĩ viết tặng Hoài Thanh (người bạn đầu tiên đã đưa lại cho thi sĩ cái hương vị say nồng của cuộc đời và của văn chương), thể hiện đầy đủ nhất sự nhạy cảm đó:

Vầng trăng từ độ lên ngôi

Năm năm bến cũ em ngồi quay tơ

Để tóc vướng vần thơ sầu rụng

Mái tóc buồn thơ cũng buồn theo.

Thi sĩ rất sợ nỗi buồn tan biến:

Nhẹ bàn tay, nhẹ bàn tay

Mùi hương hàng xóm bay đầy mái đông

Nghiêng nghiêng mái tóc hương nồng

Thời gian lặng rót một dòng buồn tênh…

Nhìn thấy được thời gian đã là sự lạ rồi, lại còn thấy thời gian đang “rót một dòng buồn tênh” thì càng lạ hơn nữa. Với tôi, đây là một trong những câu thơ vào loại hay nhất của Lưu Trọng Lư.

Không chỉ “buồn”, “đau thương” mà “sầu” cũng là một cái “thú” của thi sĩ họ Lưu. Nhà thơ cho rằng:

Thuyền yêu không ghé bến sầu

Như đêm thiếu phụ bên lầu không trăng

(Một mùa đông)

Tình yêu mà không có sầu thì mất đi vẻ đẹp, mất đi sự thi vị. Vì thế, cái gối mà hai người yêu nhau vẫn thường kê, thi sĩ gọi là “gối sầu”:

Ngày một, ngày hai cách biệt nhau

Chẳng được cùng em kê gối sầu.

Lưu Trọng Lư còn nhìn thấy vài chàng trai trẻ sầu biêng biếc (Mây trắng). Màu sắc của “sầu” đẹp chứ không hề u ám. Thi sĩ cũng rất nhạy cảm với cái “sầu”:

Chửa biết tên nàng, biết tuổi nàng

Mà sầu trong dạ đã mang mang

(Một chút tình)

Thi sĩ gọi người yêu là “người em sầu mộng”:

Em chỉ là người em gái thôi

Người em sầu mộng của muôn đời.

Thi sĩ tin rằng cái vẻ đẹp sầu mộng ấy sẽ tồn tại vĩnh viễn với thời gian:

Tình em như tuyết giăng đầu núi

Vằng vặc muôn thu nét tuyệt vời

(Một mùa đông)

Về sự ngược đời trong thơ Lưu Trọng Lư (*) - ảnh 1Có lẽ vì xem buồn, đau, sầu là một cái thú nên khi “phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lưu”, chúng ta thấy thi sĩ buồn mà không bi lụy, đau mà không rên xiết, sầu mà không ảo não. Nhà phê bình Hoài Thanh nhận xét rất tinh rằng: “Lư có làm thơ đâu, Lư chỉ để lòng mình tràn lan trên mặt giấy”. Thơ Lưu Trọng Lư thật thà, bộc trực như bản tính của thi sĩ, như khí chất của người miền Trung. Suy cho cùng, Lưu Trọng Lư cũng có cái lí của mình khi xem buồn, đau, sầu là một cái thú. Phải chăng nhờ những giây phút “lịm người trong thú đau thương” ấy mà thi sĩ đã viết được những vần thơ tuyệt diệu làm xúc động triệu triệu trái tim qua bao thế hệ? “Tuyệt vời là khúc thương tâm/ Biết bao tiếng nấc thành ngâm muôn đời” (Muy- xê).

Rõ ràng cái ngược đời đã góp phần quan trọng làm nên nét riêng biệt của Lưu Trọng Lư trong những bài thơ nổi tiếng được ông sáng tác trước cách mạng.

Mai Văn Hoan

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác