Đọc thơ tình Ánh Tuyết

Đọc thơ tình Ánh Tuyết - ảnh 1Bởi cũng như Chế Lan Viên, Ánh Tuyết luôn luôn coi cuộc đời này là thân thương máu thịt như chính đứa con đẻ của mình. Vẫn biết cuộc đời này còn nhiều trầm ẩn mất mát, thương đau, những oan trái lọc lừa thì chị vẫn yêu nó bằng cả tấm lòng độ lượng bao dung. Như tôi đã nói là chỉ có thể viết được đôi điều gì đó, vì thơ thì rộng dài và thăm thẳm mà thơ tình của Ánh Tuyết trong “Còn đang đàn bà” đã là rộng dài và thăm thẳm lắm.

Cầm tập “Còn đang đàn bà” của Ánh Tuyết, một tập thơ được trình bày khá công phu mà lòng tôi cứ áy náy và lưỡng lự. Bởi đã có nhiều tập thơ còn đẹp hơn thế mà rồi bên trong cũng chỉ là một sự trống rỗng đến lạnh người. Nếu không có sự giới thiệu trước của nhà thơ Trần Tâm ở Quảng Ninh thì có lẽ tôi đã đặt nó lên giá sách. Đọc ngay bài thơ đầu tiên của tập thơ “Tháng Ba thương mến” đã dội vào tôi một cảm giác mạnh mẽ. Tôi thật sự bàng hoàng trước những câu thơ được chắt lọc ra từ một trí tuệ rạng ngời. Những câu thơ sâu đã làm cho trái tim già nua của tôi phải bồi hồi:

Hoa gạo ơi! đừng kiêu hãnh đỏ bời bời như thế!

cả gan châm lửa đốt trời

Trời ở cao xa lắm

Lửa lại rơi cháy mình đấy thôi!

Là vô cùng thương mến tháng ba ơi!

Đồng làng mỡ màng non tơ quá

Lúa dậy thì bầng bầng hớn hở

ngọn thài lài mơn mởn sức xuân

Cây đơm lộc nhung chồi biếc thanh tân...

Là vô cùng thương mến ôi tháng ba

Sợi nắng non rót pha lê tràn mặt đất

Con ễnh ương phồng bụng gọi bạn tình khao khát

Én đôi rộn ràng cuống quýt giữa trời xuân...”

(Tháng ba thương mến)

Tôi coi “Người đàn bà làm thơ” là tuyên ngôn đúng hơn là sự bộc bạch về chuẩn mực của một thi sỹ đích thực. Ánh Tuyết đã đặt ra cho mình chuẩn mực đó. Có phải như vậy chăng mà thơ chị bao giờ cũng được viết ra từ “Tấm lòng đa cảm bao dung”, có phải vậy chăng mà thơ chị luôn luôn là:

Những câu thơ cháy bỏng

Dạt dào

như bão

như lũ

như thác

Dịu dàng như trăng

như lụa

Huyền ảo như đêm

như rượu

như mây

(Người đàn bà làm thơ)

Là đứa con sinh ra từ vùng Hưng Hà, vựa lúa của quê lúa Thái Bình nên thơ Ánh Tuyết thấm đẫm hồn quê, thấm đẫm hồn người. Bài thơ “Bữa cơm ngày mùa” đã là một trong rất nhiều bài thơ như thế. “Chiều ướp hương, buổi chiều cơm mới”. Hương để ướp cho một buổi chiều vùng thôn giã, không phải là hương gió, hương hoa mà hương được tỏa ra từ hạt cơm mới dẻo thơm ngày mùa vùng quê chị. Mới đọc câu thơ đó thôi đã thấy tỏa vào lòng ta sự ấm áp dịu dàng. Rồi nữa:

Bát mắm tép chưng, lát khế chua vàng

Con chạch kho tương con rô rán vội

Ngồng cải luộc nhừ thơm một nét quê hương

Bữa cơm ngày mùa chỉ có vậy thôi, không mâm cao cỗ đầy nhưng sao ta thấy khát thèm đến thế, giống như chỉ thấy người ăn ta ăn khế đã tứa nước chân răng. Đơn giản và đạm bạc thế thôi nhưng muốn có nó phải “Toan tính mùa màng quên mọi nỗi bon chen”. Ta nhớ đến một thời Ánh Tuyết đã phải sống trong lam lũ nhọc nhằn,cam go thiếu thốn đến nỗi:

Dẫu con đã lấy chồng gần

Mẹ chưa được bát canh cần nào đâu

(Gửi về nguồn)

Đến khi mẹ già yếu đau ốm mới chua xót thổn thức:

Bảy lăm, trở ngọn gió chiều

Thình lình mẹ ốm quạnh hiu một mình

Rau cần chả nấu lên canh

Ai nâng giấc mẹ mau lành bệnh đây

Xót xa nhìn mẹ hao gầy

Xót xa con nắm bàn tay héo mòn...

(Gửi về nguồn)

Hỏi có nỗi đau nào hơn thế đối với người như chị. Giờ đây, cuộc sống đã khá hơn nhưng những người phụ nữ như chị vẫn phải tảo tần phải lo toan cuộc sống và nhường nhịn “Chén rượu thuốc mời ông, con cua lột phần chồng/ Thằng cu út giành con tôm nướng đỏ...” Thế mà “Bát cơm đơm từ tay người vợ trẻ” vẫn “...Rạng rỡ môi cười, rạng rỡ niềm vui...”. Cuộc sống bình dị nhưng tràn đầy hạnh phúc. Thật lâu lắm rồi mới thấy có một bữa cơm ngon như thế trong thơ. Phải yêu quê yêu cuộc sống đến nhường nào mới viết nổi những câu thơ tài hoa như vậy. Sau bữa cơm ngày mùa là cảnh một đêm ở làng quê thật thanh bình, cái thanh bình mà ai cũng thèm có được “Đêm ngọt ngào đêm sâu lắng bâng khuâng/ nghe thoang thoảng hương cau hương lý/ Người vợ trẻ yêu chồng nồng nàn đến thế/ Nghe hạt mầm cựa đất xôn xao/ Đêm ngày mùa tiếng dế cũng nao nao.../ (Bữa cơm ngày mùa). Tuy nhiên tâm hồn nhạy cảm của chị đã chợt nhận thấy điều gì ở chốn làng quê cũng như hạnh phúc của đời người nên chị đã có hai câu kết rất gợi: “Ước gì mùa nối mùa gặt hái/ Bữa cơm nào cũng đầy ắp niềm vui...” (Bữa cơm ngày mùa). Hai câu kết là ước mơ khát vọng của chị cũng là của mỗi chúng ta là sao giữ được cảnh thanh bình yên vui trong mỗi gia đình trước thời buổi kinh tế thị trường đang làm lung lay mỗi mái ấm gia đình.

Ánh Tuyết viết rất hay về làng quê. Hàng loạt bài thơ viết về quê hương của chị bài nào cũng để lại ấn tượng tốt đẹp: Làng, Đêm ngủ ở làng, Mai về duyên Phúc, Chốn về... Chị có một lối viết riêng, cảm xúc dạt dào, trong veo đánh thức trong mỗi độc giả tình yêu với làng quê của mình. Đêm ngủ ở làng là một bài thơ được nhiều người thích:

Mẹ trải chiếu tôi nằm hiên mát lạnh

Đêm ướp hương cau hương thiên lý hương nhài

Bầy dế tấu kèn rỉ rả vườn khoai

Chú vàng ủng oẳng sủa bóng trăng sủa mãi

Lũ mèo gọi bạn tình thiết tha man dại

bầy đom đóm đốt đèn mở tiệc hoa đăng

Người mẹ ru con giọng ngái ngủ khê nồng

...

Bến nước gốc đa rì rầm đôi trẻ...

Và thật bất ngờ, thật táo bạo, Ánh Tuyết viết một câu thơ độc đáo giống như một chân lý giản dị làm ta giật mình sung sướng “Đêm ở quê đàn bà yêu chồng hơn người thành phố”. Câu thơ hay đã bầu nên một thương hiệu thi sỹ. Cũng vì nặng tình với quê như vậy nên chị rất hiểu nỗi lòng khắc khoải của người bạn phải sống xa quê “Bạn xa, ngóng về quê thắc thỏm/ Chuông đổ dồn trống ngực đập mê tơi/ Hai ngàn cây bỏng rẫy từng lời/ Thương lắm... nỗi người xa chia sẻ/ Chuyện mẹ cha! bạn bè người cũ/ Phân vân giọt lạnh ngày xuân/ Trong Nam bạn khát mưa phùn/ Tênh tênh nắng... tạnh trơ lòng... vắng” (Đồng vọng). Câu thơ của Ánh Tuyết như nhát dao cứa vào tim, không chỉ vì nó sắc nhọn được cắt nhỏ ra, những câu chữ dùng rất độc đáo, mà còn ở sự truyền cảm mạnh mẽ khi sử dụng nghệ thuật đối lập rất thành công. Nắng thì vẫn tênh tênh mà lòng lại tạnh trơ hoang vắng. Chị cũng tinh khi nhận thấy những thay đổi của làng quê thời mở cửa, những xót xa tiếc nuối và những lời cảnh báo của chị không phải không có căn cứ “Làng giờ thành phố làng rồi/ Đồng gần đã bán cho người dưới xa/ Trai làng biết cưỡi hon đa/ Gái làng nhiều đứa đã ra thị thành/ Chống chênh bến nước đầu đình/ Có người mở nhạc xập xình ru con/ Điệu chèo câu ví câu von/ Dần đi về phía... quê còn chân quê” (Làng).

Trong suốt chiều dài lịch sử văn học, Thị Màu là một điển hình nghệ thuật đã làm tốn không biết bao nhiêu giấy mực của các thi nhân. Lúc đay nghiến khắc nghiệt, khi cảm thông chia sẻ, lúc chê bai Thị Màu hư đốn lẳng lơ. Có lúc lại coi là đam mê khát vọng - Một đam mê khát vọng bi thương. Dưới ngòi bút của Ánh Tuyết, Thị Màu được phát hiện từ nhiều góc độ nhưng đầy sức sống và lấy được nhiều cảm thông của mọi người. Một Thị Màu rừng rực đam mê đầy khát vọng sống, quyết liệt, bất chấp tất cả để có được tình yêu: “Đã liều cho bõ cơn liều/ Cứ là duyên phận phải chiều mới nghe/ Lửa tình rừng rực đam mê/ Cớ sao lại chịu lại chịu ra về tay không/” Một Thị Màu thật đáng thương với những bi kịch ngang trái tuyệt vọng: “Đàn ông còn ối Màu ơi! Cớ sao chọn chốn chết người mà yêu.../ Tủi vì duyên thẹn với lòng/ Tình đem bỏ chợ còn hòng chi nhau/ Yêu chẳng được, cho thì đau/ Để ra cơ sự Thị Màu trái ngang...” Một Thị Màu đầy mạnh mẽ, táo tợn dám thách thức phản kháng xã hội, lễ giáo phong kiến để dành quyền sống, quyền yêu cho mình, dám giữa chốn công đường thẳng tay lột bộ mặt thật xấu xa của những kẻ thống trị quen thói đạo đức giả ức hiếp dân lành: “Trót rồi mang tiếng lỡ làng? Thì rung một tiếng chuông vang giữa đời/ Cửa thiền nghiêm cẩn đấy ơi! Bao nhiêu chức sắc đã phơi mặt dầy/...” Hình tượng Thị Màu với ý nghĩa tích cực, một nhân vật đa chiều đã góp phần làm nên vẻ đẹp độc đáo, sức sống vững bền của loại hình nghệ thuật dân gian chèo trong lòng nhân dân. “Ngả nghiêng sân khấu xưa nay/ Chèo còn không? Nếu một ngày vắng em Ánh Tuyết đã có một câu kết thật tài hoa. Một chân lý đã bật ra từ câu kết đó!

Thơ tình của Ánh Tuyết bao giờ cũng gắn chặt vào một khung cảnh trữ tình êm đềm và dịu ngọt. Có lẽ đây là một thủ pháp. Thủ pháp khá đắt để làm tăng nỗi mất mát, chuyển tải hết mọi cung bậc của tình yêu do cách trở chia ly. Người đàn bà này yêu mãnh liệt dào dạt, tươi trẻ vô cùng. Từng hình ảnh thơ, câu chữ, vần điệu đều sôi trào cựa quậy bứt phá như điệu hồn của người phụ nữ đang yêu: Tất cả trào lên một sức sống căng đầy. Hoa gạo thì: “Đỏ kiêu hãnh bời bời” đến cây cỏ cũng “Lúa dậy thì bầng bầng hớn hở/ Ngọn thài lài mơn mởn sức xuân” (Tháng Ba thương mến) “Cải đơm ngồng vàng sắc hoa hớn hở/ Lúa đương thì mâng mâng đợi mưa”( Hò hẹn tháng ba).

Trong cái không gian đầy chất trữ tình ấy, nhân vật người phụ nữ thật đáng yêu, đầy sức thanh xuân nồng nàn khỏe khoắn “Đêm dạt dào hương đêm ngất ngây/ Đêm con gái yêu chồng hơn hớn/ Nôn nao tháng ba mùa nhót chín...” (Hò hẹn tháng ba) và những hình ảnh “Em gái má hồng làm cỏ lúa/ Ngực căng tròn môi mọng như hoa (Tháng Ba Thương mến) “Người vợ trẻ yêu chồng nồng nàn đến thế” (Hò hẹn tháng ba) còn có niềm hạnh phúc đời thường nào sống động hơn. Cố nhà văn Hòa Vang khi còn sinh thời, đọc thơ Ánh Tuyết, ông rất tinh khi phát hiện ra chất phồn thực trong trẻo, thuần khiết trong thơ tình Ánh Tuyết. Chỉ bằng một câu thơ, Ánh Tuyết đã nói lên điệu hồn, sức mạnh tình yêu của một người đàn bà mãi mãi là người đàn bà đích thực nhất “Yêu anh... yêu anh biển rộng thế có là gì...!” Gặp người phụ nữ can trường đầy nghị lực này một lần, tôi tin những điều chị nói. Đọc Sông khát ta thấy lòng cứ nao nao một điều gì đó. Thêm hiểu tiếng lòng của Ánh Tuyết cùng những khát vọng được sống của chị, một người đàn bà biết yêu dám yêu nhưng cũng luôn đau đớn trong tình yêu. Có thể kể ra rất nhiều câu thơ đầy nỗi niềm của chị “Những bó hoa tặng em ngày tết/ Chẳng có bông nào của anh/ Gai từ hoa xưa anh tặng/ Như dằm buốt nhói trong tim” (Hoa ngày tết) “Anh cầm tù trái tim em/ Làm sao yên sống êm đềm được đây” (Cầm tù trái tim) “Trót rồi, dan díu với tình/ Tình đem bỏ chợ tôi thành lẻ tôi... (Lời rau răm) “Sao người trốn chạy tình yêu/ Bỏ nhau lại giữa bao nhiêu phũ phàng/ đã từng nguyện ước đá vàng/ Bỗng dưng người nỡ cắt ngang lời thề/... Ai làm cho bão rung rừng/ Một dòng sông khát giữa vùng nước vây” (Sông Khát) Đúng là có một dòng sông khát trong thơ tình Ánh Tuyết. Đó cũng là bi kịch đầy xót xa của người đàn bà đang ý thức đầy đủ nhất về sự còn đang đàn bà của mình.

Và thật kì lạ Người đàn bà làm thơ này yêu với một tâm hồn nhân hậu vị tha thật cao thượng: “Duyên em đổi lấy nụ cười/ Là em nhường để làm người thứ ba” (Người thứ ba) Cũng có khi chị trở nên đáo để quyết liệt để bảo vệ tình yêu của mình “Gai hồng giữ lấy hoa hồng/ Lại ngồi giặt áo cho chồng như xưa...” (Lời của Tấm) Ánh Tuyết rất coi trong sự thủy chung son sắt trong tình yêu: “Nụ yêu chỉ nở một lần/ Sẽ cho quả thơm ngọt mãi/ Những chồi mọc từ ngang trái/ Mong gì nẩy lộc đơm hoa” ( Nếu) Với chị, tình yêu không thể dễ dàng có được. Phải biết chấp nhận thử thách, phải trải qua nhưng nỗi đau, thì mới có tình yêu mới bền chặt “Những viên gạch ra lò, những chiếc bình gốm sứ xinh xinh thật đáng yêu/ Ai hiểu thấu nỗi đau của đất khi qua lửa/ Vô số những viên gạch rộp phồng,những chiếc bình cong vênh nứt vỡ/ Có thể rồi anh cũng rộp phồng, nứt vỡ, cong vênh.../ Khi anh cố tình đánh thức than hồng” (Đánh thức than hồng) Ta còn thấy một Ánh Tuyết nhân hậu dịu dàng nữ tính biết bao khi chị từ chối lời thương dành cho mình. Đấy cũng là cách yêu thương của chị: “Cho thì đầy, nhận lại vơi/ Người ơi đừng nói những lời thương em” (Đừng nói lời thương)” Cho dù “Nụ tầm xuân nở trong em/ Vẫn tươi màu ấy vẫn nguyên sắc này” thì vẫn mong anh “Nghĩ thì bấm đốt ngón tay/ Anh đừng thương tháng nhớ ngày vì em” (Tầm xuân). Có thể kể ra rất nhiều bài thơ tình của Ánh Tuyết, đọc bài nào cũng để lại ấn tượng sâu đậm trong người đọc. Viết về tình yêu, phương diện nào Ánh Tuyết cũng tài hoa, bài thơ nào của chị cũng đem đến một sức quyến rũ, một nét duyên riêng. Bởi thế,với 8 bài dự thi thơ tình, được in trang trọng trên Văn nghệ trẻ đủ cả 8 bài, độc giả rất cảm tình với chị. Giải thưởng thi thơ tình cho bài Thị Màu Sông khát là một lẽ đương nhiên.

Ánh Tuyết viết rất nhiều về thiên nhiên. Thiên nhiên trong thơ chị thật đẹp, tươi rói đầy sức sống. Nó như điệu tâm hồn của chị, sôi nổi trẻ trung yêu thương đến tận cùng bằng một trái tim đắm say dào dạt nhưng cũng thật tinh tế lắng sâu. Tôi thích nhất mảng thơ mùa thu của chị, thật nhiều cảm xúc và sắc màu. Hình như Ánh Tuyết đã tìm thấy ở mùa thu những cảm xúc tươi mới cho thơ mình, vừa xa xôi, vừa thẳm sâu, trong trẻo, nhẹ nhàng. Nó gợi cho ta cảm giác man mác, một nét buồn nhè nhẹ, một chút bâng khuâng và tiếc nuối. Những bài Lời gọi trong chiều thu, Bắt đền mùa thu, Vàng thu, Tan vào Thu, Ngẫu hứng thu, để lại cho ta nhiều rung động sâu xa. Hình ảnh của thiên nhiên thật sống động không dễ gì nói ra cho hết:

Mùa thu dấu trong sắc vàng trái bưởi

Biếc xanh trời màu nắng pha lê

Thu dấu mình hương hoa vườn quê

Trong đến ngỡ ngàng mắt người con gái

Thu dấu mình ngọn heo may chợt tới

Đồng vàng lúa chín ngọt ngào xanh cốm thơm

(Tan vào thu)

Một sắc màu đặc trưng của thu trong thơ Ánh Tuyết gợi nhớ đến bức Thu vàng của danh họa Lê Vi Tan, tuy nhiên Vàng thu của Ánh Tuyết tươi tắn, có hơi thở bộn bề sôi động của cuộc sống no ấm đời thường:

Lại một mùa heo may rồi đấy

Anh thấy không đàn chim đã trở về

Vàng trải mênh mông tít tắp đồng quê

Vàng nắng, vàng vườn nở bung hoa cải

Vàng hạt thóc rơi cho đàn chim mê mải

Vàng óng kén tơ chín vội nong tằm

Vàng vàng líu ríu lon ton bầy gà

Vàng trái thị tròn, trái bưởi thơm xa

Vàng trăng kiêu sa khoăn choàng lộng lẫy

Trái trăng dưới ao sóng vàng lóng láy

Vàng bông cúc thơm dịu dàng vườn ai

Vàng thóc hạt chanh khô nỏ sáng ngời...

(Vàng thu)

Ánh Tuyết đi nhiều nơi và bất cứ nơi đâu cũng để lại dấu ấn sâu đậm trong thơ chị. Từ Mộc Châu lành lạnh nhiều hơi sương cho hoa đào đỏ thắm, nơi “Như là trời đất phải lòng nhau? Như là ta với cao nguyên xanh/ tự ngấm vào nhau đến ngọt lành” (Mộc Châu). Từ đỉnh Pha Đin ngất ngưởng đến đêm Tây Bắc: “Đèo cao đổ dốc chân rừng/ Như câu nói dối giữa chừng bỏ quên” (Đêm Tây Bắc) Sa Pa với “Thiên nhiên như thuở hồng hoang/ Trong veo hồn núi dịu dàng hồn hoa” (Sa Pa) cả những phút: Ngẫu hứng Việt Trì, Chiều Tô Thị. Móng cái, Vũng Tàu, Giữ Nắng làm tin, Về Hà Tĩnh... thơ chị viết về những nơi chị đi qua thật lay động lòng người. Làm sao lòng không rưng rưng khi đọc nhưng câu thơ của chị. Cứ tì trên những mạch cảm xúc, cái tình dào dạt nồng hậu mà viết: “Nhà anh còn bưởi Đoan Hùng/ Có hay cơn khát tận cùng đang sôi...” (Ngẫu hứng Việt Trì); “Kì Lừa chắc chả lừa tôi/ Theo nhau lên tận xa xôi Kì Cùng” (Chiều Tô Thị).

Thơ tình của Ánh Tuyết nhiều khi chỉ là lời thủ thỉ tâm tình, nhưng nó đã đạt đến chân lý của cuộc sống. Từ chuyện đi câu “Ông đi câu để tĩnh tâm nghĩ ngợi cuộc đời/ con cá, lá rau,cuộc sống” (Đi Câu) đến những chuyện đối nhân sử thế “Người ngoan ở với người gian/ Dẫu hiền như Bụt cũng tan nát lòng” (Lời của Tấm) “Người hèn nói mấy cũng hèn/ Người ngoan chịu muộn chịu phiền vẫn ngoan” (Chuyện cùng em gái) Những câu kết với như một bài học nhẹ nhàng thấm thía “Người thì vốn sẵn đam mê/ Ngày Tình yêu... có lời thề bỏ quên” (Ngày tình yêu).

Ánh Tuyết cũng viết về chiến tranh: Giấc mơ, Ru anh, Lời ru ở ngã ba Đồng Lộc, Nén nhang tháng Bảy, Mẹ Việt Nam anh hùng làng tôi... Bài thơ nào đọc cũng rất cảm động. Có lẽ do chị được sinh ra trong chiến tranh, lại là con của một liệt sỹ, còn bởi những nhận thức đúng đắn của người cầm bút có tâm. Trong những bài thơ ấy có bài Ru anh đã được in vào nhiều tuyển tập quan trọng. Được chọn dạy ở nhà trường phổ thông, nhạc sỹ Trần Hoàn phổ nhạc, được đọc vang lên trên sóng phát thanh của Đài tiếng nói Việt Nam. Ánh Tuyết đến đọc Ru anh ngay tại nghĩa trang Trường Sơn vào đúng ngày 27/7/2005 cho các liệt sỹ nghe. Bài thơ Ru anh đã trở thành một bài thơ tâm linh để chị làm biết bao việc có ý nghĩa lớn đối với các anh hùng liệt sỹ của tổ quốc trong đó có việc chủ biên những tuyển tập thơ quan trọng về liệt sỹ Tráng Khúc Tháng Bảy, Mẹ Việt Nam anh hùng.

Chị có cách nhìn chiến tranh cũng rất mới. Khi đứng trước mộ Mười cô gái ở ngã ba Đồng Lộc chị đã viết “...Quặn lòng tức tưởi nỗi đau/ Trời xanh thì cứ xanh màu hồn nhiên... Giá khi tiếng súng vừa yên/ Mười cô thành những vợ hiền mẹ yêu…” (Lời ru ở ngã ba Đồng Lộc). Thật bất ngờ khi chị kết bài thơ “Xót niềm trẻ mãi không già Mười cô” (Lời ru ở ngã ba Đồng Lộc) quan điểm của chị có vẻ khác với quan niệm truyền thống, được trẻ mãi không già, trở thành Bà chúa linh thiêng mọi nhà đáng lẽ phải mừng chứ! Thế mà Ánh Tuyết lại thấy “tức tưởi nỗi đau” thấy “xót”. Bởi chị cho rằng, hạnh phúc nhất của con người là tuần tự đi qua kiếp người một cách tự nhiên đời thường. Những người đàn bà hạnh phúc nhất phải được sống cuộc đời bình thường của họ. Chị không muốn thi vị hóa chiến tranh, mà nhìn thẳng vào sự thật và cảnh báo đừng tự tìm lý do an ủi để quên đi sự khốc liệt tàn bạo của chiến tranh.

Nếu có thời gian ta tìm hiểu sâu mảng thơ viết về thân phận những người phụ nữ không may mắn trong thơ Ánh Tuyết, ta sẽ thấy trái tim nhân hậu của chị dành cho họ nhiều niềm đồng cảm, và chị cũng rất thành công ở mảng này: Từ những Chuyện cùng em gái, Người đàn bà trong ngõ vắng, Khai sinh, Lời của Tấm, Với Vọng Phu, Những người không có ngày mai... rất nhiều nỗi niềm trăn trở suy tư. Chị thương những người phụ nữ một mình trong ngõ vắng “Ngày thì chậm, tháng thì nhanh/ Giấc mơ nuôi mãi chưa thành giấc mơ...” (Người đàn bà trong ngõ vắng). Thương “Người đàn bà bốn mươi tuổi/ Lần đầu đến nhà hộ sinh... Mình chị đớn đau một mình/ Tay gầy bấu vào khung cửa/ Có gã đàn ông dạo phố/ Thản nhiên vô tình như không ...” (Người mẹ). Người đàn bà tội nghiệp ấy sau những “Lần lữa mãi cũng phải tới nhà hộ sinh/ Làm tờ khai sinh cho Vầng mặt trời của mẹ/ Nét chữ gầy run run trên từng dòng kẻ/ Dòng họ tên cha... điền bằng giọt nước mắt to” (Khai sinh). Đã có rất nhiều tờ giấy khai sinh cho trẻ sinh ngoài giá thú, nhưng đây là tờ giấy khai sinh đặc biệt nhất qua phát hiện rất cảm động của Ánh Tuyết.

Đọc thơ thấy số phận đã không chiều chuộng chị. Nỗi đau chồng chất nỗi đau “Cứ như cái túi đựng buồn/ Bao nhiêu oan trái đều dồn vào tôi/ Tôi mãi lở để người bồi/ Cho đầy nhận khuyết một đời đắng cay/ Bão giông bầm dập thân gày/ Muốn yên chả được một ngày yên thân/ Chợ đời mỏi gánh chồn chân/ Vẫn long đong, vẫn lênh đênh phận mình.../ (Lời rau răm) ta vẫn thấy Ánh Tuyết đầy bản lĩnh vượt qua mọi thử thách. Chị có cách hóa giải rất tích cực những nỗi đau của chính mình “Sau rất nhiều bão giông trên cấp mười ba/ Nhìn vào trong veo đôi mắt các con/ Những câu thơ trang viết/ Dẫu oằn vai gánh nặng đời thường/ Ngẩng cao đầu tôi bước những bước mềm như sóng”.

Ánh Tuyết đã để lại một lối đi riêng trên những sáng tác thơ của mình. 97 bài thơ trong tập Còn đang đàn bà là một minh chứng sinh động về những thành công của chị. Chị tỏ ra khá vững vàng khi sử dụng những thủ pháp nghệ thuật khi sáng tạo. Ngôn ngữ thơ rất sống động, giàu hình ảnh, giàu chất dân gian. Thật thú vị khi đọc những câu thơ khi chị viết về những nụ phượng đầu mùa: “Phượng thập thò châm lửa/ Đưa ta vào tháng 5/ Nắng vàng như kén tằm/ Vườn hấp him mắt lá” (Mùa phượng) hay những câu “Sông lừng chừng sóng, chiều thưng thửng buồn/” (Lại về cổ tích). Những cách ngắt câu rất ấn tượng: “Chiều./ Đổ dốc./ Nắng bợt./ Ngày vơi./ Thập thững./ Muối tiêu/ sương giăng...” (Tình rừng) Ánh Tuyết dùng đầy sáng tạo và rất giàu sức biểu cảm. Chị sử dụng nhiều thể loại, thơ 4 chữ, 5 chữ, 7 chữ, thơ tự do, thơ bậc thang, thơ văn xuôi, lục bát... thể loại nào chị cũng thành công. Nhưng hay nhất phải kể đến những bài lục bát. Lục bát của Ánh Tuyết rất nhuần nhuyễn ngọt ngào. Chẳng thế mà ở tập Lục bát tầm xuân, chị đi liền mấy chục bài lục bát, đọc vẫn không thấy nhàm chán, càng đọc càng thích thú với những sáng tạo của chị. Phải chăng đây là kiến thức dồi dào của một nhà giáo dạy ngữ văn ở nhà trường Cao Đẳng sư phạm đã giúp cho chị thành công trong sáng tạo nghệ thuật.

Người đàn bà làm thơ Ánh Tuyết đã thử sức và thành công ở rất nhiều thể loại: 6 tập thơ, 2 tập truyện kí, 2 tập truyện thiếu nhi, chủ biên 2 tuyển tập quan trọng về liệt sỹ và mẹ Việt Nam anh hùng, chủ biên công bố một cuốn Kiều cổ cho một gia tộc ở Thái Bình... Bấy nhiêu thôi đủ thấy chị đã lao động sáng tạo nghệ thuật miệt mài say sưa như thế nào. Ánh Tuyết còn rất giàu nội nực. Người đàn bà làm thơ sẽ còn đi xa hơn nữa trên con đường sáng tạo của mình.

Nguyễn Xuân Dương

Xin giới thiệu chùm thơ của Ánh Tuyết

Thị Màu

 

Đàn ông còn ối Màu ơi!

Cớ sao chọn chốn chết người mà yêu!

Đã liều! Cho bõ cơn liều

Cứ là duyên phận phải chiều mới nghe

 

Lửa tình rừng rực đam mê

Cớ sao lại chịu ra về tay không?

Tủi vì duyên thẹn với lòng

Tình đem bỏ chợ còn hòng chi nhau

 

Yêu chẳng được cho thì đau

Để ra cơ sự Thị Màu... trái ngang

Trót rồi mang tiếng lỡ làng

Thì rung một tiếng chuông vang giữa đời

 

Cửa thiền nghiêm cẩn đấy ơi!

Bao nhiêu chức sắc đã phơi mặt dày

Ngả nghiêng sân khấu xưa nay

Chèo còn không? Nếu một ngày vắng em!

 

Tháng ba thương mến

 

Hoa gạo ơi đừng kiêu hãnh đỏ bời bời như thế

Cả gan châm lửa đốt trời

Trời ở cao xa lắm

Lửa lại rơi cháy mình đấy thôi!

 

Là vô cùng thương mến tháng ba ơi

Đồng làng mỡ màng non tơ quá

Lúa dậy thì bầng bầng hớn hở

Ngọn thài lài mơn mởn sức xuân

Cây đơm lộc nhưng chồi biếc thanh tân

Gió bỡn cợt hất tung vạt áo

Em gái má hồng làm cỏ lúa

Ngực căng tròn, môi mọng như hoa

 

Thương mến vô cùng ôi! tháng ba

Sợi nắng non rót pha lê tràn mặt đất

Con ễnh ương phồng bụng gọi bạn tình khao khát

Én đôi rộn ràng cuống quýt giữa trời xuân

Nước đầu nguồn trong veo như mắt em

Lúng liếng... để anh say lừ đừ... rồi đấy!

 

Hoa gạo ơi! Thôi đừng đỏ cháy

Người hẹn em về tháng ba!

 Hoa đỏ đầy trời. Nắng choàng khăn voan khắp đồng quê

Xanh nhưng nhức nồng nàn xuân căng nhựa

Chưa thấy người về ... ngơ ngẩn lời hò hẹn tháng ba!

 

Bữa cơm ngày mùa

 

Chiều ướp hương, buổi chiều cơm mới

Bát mắm tép chưng lát khế chín vàng

Con chạch kho tương,con rô rán vội

Ngồng cải luộc nhừ thơm một nét quê hương

 

Chén rượu thuốc mời ông, con của lột phần chồng

Thằng cu út giành con tôm nướng đỏ

Bát cơm đơm từ tay người vợ trẻ

Rạng rỡ môi cười rạng rỡ niềm vui

 

Ánh trăng lên sóng sánh mắt người

Bỏ lại phía sau những muộn phiền vất vả

Cứ toan tính mùa màng

Quên mọi nỗi bon chen

 

Đêm ngọt ngào, đêm sâu lắng bâng khuâng

Nghe thoang thoảng hương cau hương lý

Người vợ trẻ yêu chồng nồng nàn đến thế...

Nghe hạt mầm cựa đất xôn xao

 

Đêm ngày mùa tiếng dế cũng nao nao

Hạt sương đọng trên cánh hoa con gái

Ước gì mùa nối mùa gặt hái

Bữa cơm nào cũng đầy ắp niềm vui

 

Còn đang đàn bà

 

Chỉ mong tìm được chốn riêng

Mình ta thôi ... với một miền tháng ba

Lẽ nào chưa hết đàn bà

Bồi hồi ngực áo... làn da phập phồng

 

Dường như sâu thẳm cõi lòng

Hòn than chỉ chực cháy bùng... hòn than

Thì bao nhiêu nỗi đa đoan

Cứ như là của trời ban riêng mình

 

Bao nhiêu là những vô tình

Rạn vai gánh nặng mưu sinh kiếp người

Tay chai dáng cứng mất rồi

Nhớ ra... đã có một thời dòn xinh

 

Ước chi trở lại là mình

Để ta lại được dòn xinh dịu dàng

Ngại ngùng... e ấp... điệu đàng

Hình như... ta vẫn còn đang đàn bà

 

Tình rừng

 

Chiều đổ dốc. Nắng bợt. Ngày vơi

Thập thững... muối tiêu... sương giăng

 Người xa hơi núi thì gần

 Ngoảnh lại đỉnh non ngất ngưởng

 Rừng xanh tươi mãi nét xuân

 

Biết lòng đang giăng mắc

Tạ lỗi với non đèo ta đổ dốc

Tình rừng vấn vít theo.

Tây Bắc 3/2005

 

Đánh thức than hồng

 

Đừng lại gần em đừng nói lời thương

Đừng cời lên từ đống tro tàn

Tìm mẩu than hồng còn thoi thóp

Sẽ có ngày mẩu than thành lửa

Lửa thiêu đốt anh... không thể dập được đâu

Những viên gạch ra lò những chiếc bình gốm sứ

Xinh xinh thật đáng yêu

Ai hiểu thấu nỗi đau của đất khi qua lửa

Vô số những viên gạch rộp phồng

Những chiếc bình cong vênh nứt vỡ

Có thể rồi anh cũng rộp phồng nứt vỡ cong vênh

Khi anh cố tình đánh thức than hồng

Lửa đã cháy lên rồi kệ anh đấy!

Mà tro tàn chưa kịp tái sinh em.

 

Cho và nhận

 

Cho là thật, nhận là chơi

Tình như nước chảy bèo trôi chân cầu

Làm gì còn có kiếp sau

Mà mong chữa được nỗi đau kiếp này

 

Chiều cổ tích

 

Chợt một chiều ta như hai đứa trẻ

chở nhau đi hết một vòng hồ

Chúng mình cùng sung sướng bất ngờ

Được bên nhau trong chiều thần tiên quá

Hoàng hôn dát ánh vàng trên thảm cỏ

Những cánh rừng những thửa ruộng tươi xanh

Những chú bò gặm cỏ thung thăng

Anh cứ reo lên như được về chốn cũ

Xe băng qua cả ngầm nước nhỏ

Nước bắn tung ôi thích thú vô cùng

Mọi ưu phiền bỏ lại phía sau lưng

Chỉ có chúng mình giữa thiên nhiên đẹp quá

Chỉ có mây trời, hồ nước trong và gió

Sóng mặt hồ xao động những lời yêu

Ta đã bên nhau cả một buổi chiều

Em nàng Giáng Hương anh chàng Từ Thức

Rũ sạch bụi trần ta vào cõi mộng

Phút thần tiên đủ hạnh phúc một đời

Dẫu một lần, chỉ một lần thôi

Được sống hết lòng bên người mình yêu mến

 



Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác