Con người đổ vỡ niềm tin trong “Cung oán ngâm khúc”

Đó là giai đoạn suy tàn của chế độ phong kiến, giai đoạn rệu rã của ý thức hệ Nho giáo. Vua chúa xa xỉ, quan lại tham tàn, nhân dân thì cực khổ, lầm than. Mọi trật tự tôn ti sụp đổ, mọi giá trị lộn nhào. Chưa bao giờ con người cảm thấy lạc lõng, bơ vơ, mất phương hướng như bây giờ. Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác xót xa:

“Tìm đường về Hán chưa xong

Sang Tần là việc đã không nên rồi

Bể hồ trôi dạt đôi nơi

Cho người tráng chí ra người cuồng ngông”

Còn Nguyễn Du thì mang nặng trong tâm hồn một nỗi uất ức, bấn loạn:

“Tráng sĩ bạch đầu bi hướng thiên

Hùng tâm sinh kế lưỡng mang nhiên”

(Người tráng sĩ đầu bạc buồn ngẩng mặt nhìn trời

Hùng tâm, sinh kế cả hai đều mờ mịt cả)

Đối mặt với một hiện thực đen tối và thối nát như vậy, con người bắt đầu hoài nghi về những giá trị mà trước đây mình tôn thờ. Họ mất dần niềm tin vào chế độ phong kiến, mất dần hy vọng vào những chuẩn mực của đạo đức nhà Nho. Từ đó trong thơ, con người cộng đồng, con người “quân quốc” dần dần mờ nhạt nhường chỗ cho con người cá nhân với sự trỗi dậy mãnh liệt về bản ngã - những con người nhiều trăn trở, suy tư, nhiều khát vọng, ham muốn và cũng rất nhiều những nỗi âu lo.

Người cung nữ trong “Cung oán ngâm khúc” của Nguyễn Gia Thiều ban đầu đặt rất nhiều niềm tin, hy vọng vào “đấng quân vương”, mơ ước được sống một cuộc sống nhung lụa vàng son theo kiểu “Một ngày tựa mạn thuyền rồng/ Còn hơn mãn kiếp ngồi trong thuyền chài”. Với nhan sắc tuyệt trần “Hương trời đắm nguyệt say hoa/ Tây Thi mất vía Hằng Nga giật mình”, với tài năng hơn người “Cờ tiên rượu thánh ai đang/ Lưu Linh, Đế Thích là hàng tri âm”, lại đang là “Đóa lê ngon mắt cửu trùng”, nàng mong muốn được sống giàu sang vinh hiển, khát vọng đạt được hạnh phúc tột đỉnh. Đối với nàng, cuộc sống đúng nghĩa phải là cuộc sống nơi lầu vàng gác tía, nàng coi thường cuộc sống thường dân:

“Lan mấy đóa lạc loài sơn dã

Uổng mùi hương vương giả lắm thay”

Lúc được sủng ái, thậm chí niềm tin, sự hy vọng ấy còn được nâng lên thành những ảo tưởng, ngộ nhận. Nàng nhầm tưởng những cuộc ái ân với nhà vua là một cuộc tình chung thủy:

“Mây mưa mấy giọt chung tình

Đình trầm hương khóa một cành mẫu đơn”

Sự say mê thoáng chốc của nhà vua khiến nàng ngộ nhận, xem đó là “duyên hương lửa”

“Phải duyên hương lửa cùng nhau

Xe dê lọ rắc lá dâu mới vào”

Nàng mơ tưởng hão huyền về một tình yêu nồng thắm, vững bền:

“Tranh tỉ dực nhìn ưa chim nọ

Đồ liên chi lần trỏ hoa kia

Chữ đồng lấy đấy mà ghi

Mượn điều thất tịch mà thề bách niên”

Có ngờ đâu tình yêu kia chỉ như mây khói, hạnh phúc kia phút chốc vụt bay. Sự sủng ái của nhà vua hóa ra không phải “duyên hương lửa”, không phải “nghĩa trăm năm” mà chỉ là sự đắm say phút chốc khi nàng đang trẻ đẹp.

“Ai ngờ bỗng một năm một nhạt

Nguồn ân kia ai tát mà vơi

Suy đi đâu biết cơ trời

Bỗng không mà hóa ra người vị vong”

Từ chỗ là “Vẻ vưu vật trăm chiều chải chuốt/ Lòng quân vương chi chút trên tay”, trong thoáng chốc bỗng biến thành “ người vị vong”. Người cung nữ bị thất sủng, phải đối mặt với một thực tại chua xót, bẽ bàng, đối mặt với bao nhiêu đau khổ, bao nhiêu uất ức. Một khối cô đơn gặm nhấm tâm hồn nàng:

“Buồn mọi nỗi lòng đà khắc khoải

Ngán trăm chiều bước lại ngẩn ngơ”

“Một mình đứng tủi ngồi sầu

Đã than với nguyệt lại rầu với hoa”

Sống trong tâm trạng ấy, người cung nữ dần dần đánh mất niềm tin vào những thứ trước đây nàng tin tưởng. Giấc mộng lầu son giờ đổ vỡ , mọi ảo tưởng, ngộ nhận tiêu tan. Nàng rơi vào bi kịch vỡ mộng. Nàng bắt đầu phản tỉnh để nhận thức được rằng hóa ra những thứ mà trước đây nàng cho là tốt đẹp, cao quý lại là những thứ đen tối, xấu xa. Vinh hoa phú quý chỉ như một thứ “mồi”, thứ “bả” lừa gạt con người: “Mồi phú quý dử làng xa mã/ bả vinh hoa lừa gã công khanh”. Đức vua mà nàng đặt tất cả mọi niềm tin, hy vọng thực ra là một tên háo sắc, vô sỉ không hơn, không kém:

“Vốn đã biết cái thân câu chõ

Cá no mồi cũng khó nhử lên”

“Đông quân sao khéo bất tình

Cành hoa tàn nguyệt bực mình hoài xuân”

Mất niềm tin vào những giá trị cũ, người cung nữ tìm đến với những giá trị mới. Nàng hiểu ra rằng hạnh phúc không phải được tạo nên từ lầu vàng điện ngọc, từ phù phiếm, xa hoa. Hạnh phúc chỉ đến từ tình yêu chân thành, chung thủy. Cuộc sống êm đẹp nhất là cuộc sống vui vẻ sum vầy, có chồng có vợ.

“Kìa điểu thú là loài vạn vật

Dẫu vô tư cũng thích đèo bòng

Có âm dương có vợ chồng

Dẫu từ thiên địa cũng vòng phu thê”

Trực tiếp trải nghiệm trong một thực tế phũ phàng, trực tiếp nếm trải bao đắng cay, chua chát, nàng mới cảm thấy thèm cái giản dị nhưng rất đỗi ngọt ngào của “cảnh sống nhà quê” đầm ấm chan hòa:

“Miếng cao lương phong lưu nhưng lợm

Mùi hoắc lê thanh đạm mà ngon

Cùng nhau một giấc hoành môn

Lau nhau ríu rít cò con chung tình”

Cái “Cảnh sống nhà quê” mà nàng khao khát ấy không gì khác hơn là cảnh sống “ngồi trong thuyền chài” mà trước đây nàng khinh rẻ. Đôi khi trong cuộc đời, con người ta phải trải qua trăm đắng nghìn cay mới có thể nhận ra chân giá trị của những thứ bên cạnh mà trước đó mình không hề biết. Người cung nữ trong khúc ngâm của Nguyễn Gia Thiều đã phải đánh đổi hạnh phúc cả đời mình để nhận ra một điều rằng hạnh phúc được vun đắp từ vinh hoa, phú quý là thứ hạnh phúc không vững bền. Hạnh phúc vững bền phải là hạnh phúc được xây đắp từ tình yêu, từ tình chồng vợ. Nàng đã phải trải qua một quá trình tự nhận thức từ chỗ ảo tưởng, ngộ nhận đến sụp đổ niềm tin với những giá trị cũ và tìm đến với những giá trị mới nhân văn, nhân bản hơn. Trong hình ảnh con người sụp đổ niềm tin ấy, dường như phảng phất bóng dáng của Nguyễn Gia Thiều, người trí thức thuộc hàng “danh gia vọng tộc”, có tài, có tâm nhưng đã phải tận mắt chứng kiến biết bao nhiêu biến động của thời thế, bao nhiêu ngang trái của cuộc đời để rồi ngay cả trong lúc được trọng dụng nhất, ông đã “chán công danh bỏ khiếm việc binh, về nhàn cư bên Tây Hồ”. Hành động ấy của ông phải chăng cũng là hành động của một con người khủng hoảng niềm tin?

Hồ Tấn Nguyên Minh

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác