"Vân Long Tác phẩm"

Nhà xuất bản Hội Nhà văn vừa phát hành 'Vân Long Tác phẩm'. Cuốn sách dầy 520 trang, bìa của Thành Chương, bắt mắt với tính biểu tượng đa nghĩa, khiến người yêu sách không khỏi bật ra câu hỏi: Tác phẩm của Vân Long, nhưng là thể loại gì?

Người đọc đã quen tên nhà thơ Vân Long, nhưng gần đây ông lại hay viết chân dung văn học, hồi ức về các bạn văn, rồi bình thơ… hay cuốn này ông tập hợp cả những thể loại khác nhau ông từng viết?

Bao gồm 269 bài thơ chọn lại trong 55 năm lao động sáng tạo (1954-2009) của tác giả, phần Phụ lục trên 100 trang, tập hợp những bài viết của các nhà phê bình, các bạn thơ viết về thơ ông, bài viết và trả lời phỏng vấn của Vân Long với các báo để giải trình những giải thưởng thơ do ông góp phần khẳng định vị trí của chúng… mà ông quy tụ trong hai phần nhỏ là Trong lòng bè bạn & Hoạt động và suy nghĩ

Cuốn sách có Đôi dòng tự bạch, có lẽ ta nên nghe tác giả tâm sự đôi lời:

Đọc những bài phần đầu tập thơ này của tôi, hẳn nhiều độc giả không khỏi mỉm cười: À! Có một thời như vậy! Có một niềm tin ở cuộc đời trong sáng đến thơ ngây!

Bằng cách nhìn hôm nay, tôi đã gỡ bỏ chúng một phần, kể cả nhiều bài  những phần sau. Nhưng tôi không thể gỡ bỏ được số phận, cũng như không thể sống lại một cuộc đời khác! Và những gì thời cuộc đã nâng bước tôi, đã ám vào tôi, tôi đều phải chịu trách nhiệm về chúng, không thể đổ thừa cho ai! Chúng là những đứa con của tôi, chúng cũng là những đứa con của cộng đồng đã chấp nhận chúng, vào những thời điểm ấy…

Có một thời, những vui buồn riêng tư của nhà thơ được cất giấu, người làm thơ xưng ta, nói thay cho cả cộng đồng mà không thấy cộng đồng ấy cũng là tập hợp những cá thể có buồn vui tâm trạng.

Không phải không có những lúc cái Ta vang lên chứa đựng rất nhiều cái tôi của bản thân. Như ở giai đoạn “Chào 61 đỉnh cao muôn trượng…/ Trông Bắc trông Nam, trông cả địa cầu” (Tố Hữu). Năm ấy, tôi còn là một nghệ sĩ vĩ cầm non trẻ. Dịp kỷ niệm Quốc Khánh năm 1961, tôi tham gia dàn nhạc giao hưởng Việt Nam và đệm nhạc cho đoàn hợp xướng vừa thành lập, xuống biểu diễn ở quảng trường Nhà hát lớn Hải Phòng. Xen giữa những bản nhạc Giao hưởng quốc tế, những bản hợp xướng Trường ca sông Lô, Điện Biên hoành tráng, nghệ sĩ ngâm thơ Tường Vi đã ngâm bài thơ trên của nhà thơ Tố Hữu. Đúng đến câu thơ vừa dẫn, tôi cảm nhận một luồng sáng kỳ lạ loáng trên biển người như là sự cộng hưởng của hàng vạn ánh mắt khán giả trên quảng trường, đặc biệt là ở khu vực ngót nghìn kiều bào ta ở Thái Lan vừa cập bến Hải Phòng, hồi hương để được sinh sống trong một đất nước độc lập mà khi họ ra đi còn lầm lũi trong hờn tủi. Lần đầu tiên tôi thấy hiệu ứng một câu thơ quảng trường được sự đồng cảm của cộng  đồng đến vậy!  Không thể phủ nhận những giờ phút thăng hoa của niềm tin đã cho ta tư thế ngẩng cao đầu mà bước tiếp! Những khó khăn tiếp đó là chuyện bên lề…

Cái Ta của tôi cũng rất chân thực khi tôi được dự lễ đổ móng lò cao số Một khu gang thépThái Nguyên, rồi thăm cô em gái lớn bồng lên ở khu công nghiệp Việt Trì… Cái tôi cũng góp phần tận hiến đôi chút hạnh phúc riêng tư cho cái Ta chuỗi ngày bom đạn: Để lại người vợ trẻ cưới chưa đầy tháng ở Hà Nội, mang theo cây đàn cùng với hồn thơ, hòa vào nhịp sống của một thành phố Cảng với những con người cần lao trong bom đạn suốt cuộc chiến chống Mỹ với bom nổ chậm khu đông dân, thuỷ lôi vây phía biển…

Rồi những năm ghé vai cùng các bạn văn Trần Lê Văn, Phượng Vũ, Bế Kiến Quốc… chăm bón một vùng văn học xứ Đoài!

Tuổi trẻ của mình như vậy là không trôi qua vô ích với cộng đồng!

Nhưng có điều mất mát không nhỏ vẫn day dứt tôi, phải chăng tôi đã  không thể hiện được cái tôi với cả những trăn trở băn khoăn khi niềm tin bị thử thách… những giây phút trĩu buồn, nỗi cô đơn cùng cực “Một đầu đường không có ai trông/ một buổi chiều không biết cất vào đâu” như câu thơ của Thi Hoàng!

Thời điểm ấy, tôi cho rằng viết những điều đó ra chẳng ích gì cho ai, khi mọi người đang bận những điều lớn lao hơn nhiều, như sự sống, cái chết, đứa trẻ khóc ngằn ngặt, thiếu sữa do bà mẹ thiếu ăn… Nhưng sao tôi phải mượn thơ bạn nói hộ lòng mình nỗi niềm chống chếnh? Những câu thơ như vậy đâu phải là không có ích! Chưa nói đến sự cô đơn con người được thăng hoa thành Thơ, có thể thách thức cả sự huỷ diệt của một thời bom đạn!

Thi hào Nguyễn Du đã tô đậm chữ Tâm bên cạnh chữ Tài. Ta vẫn hiểu phần đậm nhất ấy là tâm đức, cái tâm nhân hậu, hướng thiện. Ngày nay, tôi hiểu cần tăng nghĩa chữ Tâm cho Thơ, không chỉ tâm đức, mà cần cả tâm trạng và tâm linh (tạm nói gọn về lẽ huyền nhiệm ngôn ngữ tự tại của Thơ, nếu coi ngôn ngữ thơ như ngôn ngữ âm nhạc, ngôn ngữ hội họa, vũ điệu…).

Ngộ ra chân lý của cõi Người, của cõi Thơ như trên để có một thời gian bù đắp thiếu hụt. Có lúc tôi ngỡ đã mon men tới ngưỡng của chân lý ấy. Nhưng thời gian còn lại quá hữu hạn, dặm đường truớc mặt thì diệu vợi không cùng, nhất là khi tuổi trẻ sung sức, tham vọng “vá trời” đã ở phía sau. Tôi đành nghe lời khuyên của bậc đàn anh Chế Lan Viên:

Hễ nó cạn dòng thì anh đừng viết nữa

Kẻo lắm khi con sông chết rồi thi sĩ cứ đi bên!

(Dòng sông của những nhà thơ)

Đã ngoài vòng thất thập cõi nhân sinh, tôi tự coi như mình đã… chơi xong cuộc chơi thơ, xin đóng gói lại cả những thiếu hụt, ước mơ lẫn những gì làm được, mong độc giả có người hiểu được mình mà lượng thứ!

Ngoài 7 tập thơ được lọc lại, còn tập Đỉnh gió chưa in riêng, tôi cũng gói gọn vào đây, nhân được NXB Hội Nhà văn (nơi tôi làm việc trước khi nghỉ hưu) tài trợ cho xuất bản tập thơ này. Xin chân thành cảm tạ tình đồng nghiệp, các bạn văn đang tại chức đã ưu ái với tôi như một kỷ niệm vô giá tôi không bao giờ quên!

Cuối mùa thu 2009

V.L.
(trannhuong.com)

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác