Văn học Trung đại Việt Nam dưới góc nhìn văn hoá (*)

Qua ba mươi năm chuyên tâm với công việc giảng dạy và nghiên cứu, PGS.TS. Trần Nho Thìn đã công bố nhiều tiểu luận khảo sát chuyên sâu về văn học trung đại Việt Nam. Trên cơ sở hiểu biết chắc chắn lịch sử văn học dân tộc và khả năng tham khảo tư liệu bằng tiếng Nga - Anh - Trung, ông ngày càng xác định rõ hướng tiếp cận văn học từ điểm nhìn văn hóa.

         Văn học Trung đại Việt Nam dưới góc nhìn văn hoá (*)  - ảnh 1
Công trình tập hợp Văn học trung đại Việt Nam dưới góc nhìn văn hóa chính là sự tổng kết một chặng đường nghiên cứu công phu và nghiêm túc của ông về nền văn học truyền thống dân tộc.

 Trong khong hơn mười năm gn đây, gii nghiên cu khoa hc xã hi ngày càng coi trng và đi sâu tìm hiu các vn đề cơ s văn hóa, xác định nn tng lý thuyết văn hóa, phác tho đại cương v các nn văn hóa theo tiến trình lch s, phm vi dân tc và khu vc. Vic vn dng đúng mc nhng kiến gii văn hóa vào tng lĩnh vc khoa hc giúp cho các chuyên ngành phát trin mnh m, to nên xu hướng liên ngành và tác động tr li chính nhng hiu biết sâu rng và toàn din v văn hóa. Vi Trn Nho Thìn, trước hết ông tp trung xác định Mt s vn đề lý lun ca văn hc trung đại nhìn t góc độ văn hóa vi 8 mc bài, trong đó nhn mnh định hướng tiếp cn văn hóa hc trong nghiên cu văn hc, phác tho tính h thng và tiến trình văn hc trung đại Vit Nam như là bước tiến đồng hành vi quá trình vn động, phát trin ca nn văn hóa dân tc. Trên cơ s nhn mnh yêu cu nghiên cu nhng lĩnh vc văn hóa chuyên bit, xác định văn hóa là h thng m và vic nghiên cu giao lưu văn hóa, tác gi đã đưa ra nhiu chng dn thuyết phc và đi đến kết lun hp lý: "Xét cho cùng thì bn sc dân tc phi được xem xét trong một không gian mở, có so sánh, khu biệt. Phải xác định được những cái chung, cái phổ biến trước khi rút tỉa ra cái riêng, cái bản sắc" (tr.51). Đặt trong tương quan chung, các vấn đề sự thể hiện con người và vai trò "cái tôi" tác giả, nghệ thuật phản ánh cuộc sống xã hội trong văn chương nhà nho trên hai chiều công thức và sáng tạo tiếp tục được Trần Nho Thìn phân tích, lý giải và qui chiếu thành những đặc điểm tư duy văn hóa mang tính thời đại; - chẳng hạn, sự chiếu ứng chủ thể thi nhân và thiên nhiên, không gian viễn du và đăng cao, ngôn ngữ tác giả và tư duy phân loại nhân vật, quan hệ nhân vật và thể tài văn học v.v...

Trong mục bài Sự thể hiện con người trong văn chương thời cổ, ông sớm đặt vấn đề một cách cơ bản và hệ thống:

“Văn học là nhân học, một khoa học về con người. Bất cứ một nền văn học nào cũng lấy con người làm đối tượng chủ yếu. Chính việc quan tâm và lý giải những vấn đề có liên quan đến con người làm nên đặc trưng của văn học nghệ thuật trong mối quan hệ so sánh với các bộ môn khoa học kỹ thuật. Tìm hiểu việc văn học lý giải các vấn đề thuộc con người tự nó trở thành một nhiệm vụ quan trọng của nhà nghiên cứu văn học.

Bám sát nhiệm vụ chung, chúng tôi không tìm hiểu những vấn đề có tính chất chính trị - xã hội trong quan niệm về con người. Chẳng hạn, các câu hỏi đại loại như “bản chất con người là gì?”, “mối quan hệ giữa cái cá nhân và cái xã hội trong con người ra sao?” sẽ không phải là đối tượng trọng tâm của bài viết này mà trọng tâm sẽ là tìm hiểu nguyên tắc quan sát và thể hiện con người - con người với tư cách là một bộ phận cấu thành quan trọng của thực tại khách quan - trong văn chương nhà nho. Chúng tôi sẽ tập trung chú ý tới mối quan hệ giữa nguyên tắc này với sự hình thành của tư duy nghệ thuật của các nhà nho trong việc quan sát và thể hiện con người.

Văn chương nhà nho viết về con người có hai loại. Trước hết và đáng chú ý hơn cả là mảng sáng tác trong đó con người được thể hiện ở cấp độ nhân vật văn học. Ở đây nhà nho mô tả, xây dựng con người theo hướng khắc hoạ các nhân vật. Chúng ta có thể bắt gặp các nhân vật với chân dung ngoại hình, với ngôn ngữ, tâm lý, tính cách, số phận riêng. Tất nhiên, việc xây dựng các nhân vật văn học trong các tác phẩm khác nhau là khác nhau. Ngay trong cùng một tác phẩm thì các nhân vật cũng được miêu tả khác nhau. Nhưng trong mảng sáng tác này, con người đều có tính tạo hình ở chừng mực nào đó. Khác với mảng sáng tác kể trên, trong phần văn chương viết về con người còn lại của nhà nho, ta không thấy nhà nho miêu tả, khắc hoạ con người với chân dung hay tính cách cụ thể. Ở đây, mặc dù con người là đối tượng bình luận, đánh giá, là nguồn khơi gợi cảm hứng sáng tác nhưng lại không được thể hiện ở cấp độ nhân vật văn học. Tiêu biểu cho mảng thơ văn thứ nhất là truyện thơ và các khúc ngâm, còn đại diện cho mảng thứ hai là thơ vịnh sử. Phải nói ngay rằng sự khác nhau giữa hai mảng sáng tạo này bắt nguồn từ đặc trưng thể loại. Do dung lượng hạn chế và cách thức khai thác đề tài quy định, thơ vịnh sử trực tiếp bình luận, đánh giá nhân vật lịch sử được đề vịnh. Nhân vật lịch sử xuất hiện trong một bài thơ vịnh sử nào đó qua một hành vi, một lời nói, một nét tính cách hay một số phận nhất định mà hình như độc giả do đọc truyện, sử đều đã quen thuộc. Ta nhớ rằng thơ văn nhà nho viết hoặc cho bản thân, hoặc cho những người cùng có trình độ học vấn. Cuộc đời, tính cách nhân vật lịch sử được đề vịnh đã được sử sách nói đến nhiều. Vì thế nhà nho không quan tâm đến việc tái hiện lại những điều mà sách sử đã nói. Anh ta chủ yếu tập trung về phía bình luận, đánh giá, phán xét nhân vật, rút ra những bài học lịch sử. Trái lại, truyện thơ và các khúc ngâm phải xây dựng nhân vật với nội dung hình tượng cụ thể. Trong các thể loại này, tác giả không thể chỉ có bình luận, triết lý một cách lộ liễu tuy không loại trừ khả năng tác giả bình luận trực tiếp dưới hình thức trữ tình ngoại đề. Xu hướng chính ở truyện thơ và ngâm khúc vẫn là sự tự thực hiện của nhân vật; nhân vật được miêu tả với chân dung, ngôn ngữ hành động và các mối quan hệ xã hội khác nhau.

Cũng cần thấy rằng không có một ranh giới tuyệt đối giữa hai mảng sáng tác nói trên. Trong thực tế, không có một bảng phân loại nào có ý nghĩa tuyệt đối và loại trừ được những hiện tượng trung gian. Hoàng Lê nhất thống chí là một hiện tượng mang tính chất trung gian. Trong tác phẩm này, con người không phải là đối tượng quan tâm hàng đầu mà chính các sự kiện lịch sử được chú ý trước tiên. Song thật khó mà kết luận rằng tác phẩm không có nhân vật. Dù không thường xuyên, có khi để làm cho sự kiện lịch sử sống động, các tác giả đã khắc hoạ con người theo xu hướng xây dựng nhân vật. Sự đan xen, hoà quyện giữa hai phương thức tư duy (văn học và lịch sử) khiến cho Hoàng Lê nhất thống chí có một bộ mặt thật độc đáo mà bất cứ một khái niệm thể loại nào của văn học hiện đại nào cũng không phù hợp. Người ta đã thảo luận nhiều về bản chất thể loại của các phẩm này, xem nó là tiểu thuyết lịch sử, là ký sự hay là truyện sử? Nhưng không chú ý đến đặc điểm trên thì sẽ không tránh khỏi hiện đại hoá vấn đề.

Trong truyện thơ (truyện Nôm bác học), việc quan sát và thể hiện nhân vật chịu sự chi phối của nguyên tắc nào? Câu trả lời khách quan nhất vẫn phải là căn cứ vào thực tế sáng tác” (tr.101-103)…

Sau quá trình khảo sát, nhà nghiên cứu đi đến kết luận: “Cái nhìn phân loại cực đoan, triệt để của nhà nho cản trở khả năng phân tích, nghiên cứu con người trong sáng tác văn chương của họ. Phân loại cực đoan cũng có nghĩa là nhìn con người ở trạng thái sơ lược, tĩnh tại, là khước từ việc quan sát, phanh phui tính chất phức tạp, sống động, sự đan xen chuyển hoá của nhiều xu hướng trong tính cách con người. Ở đây, ta lại thấy mục tiêu của văn chương nhà nho là giáo huấn chứ không phải là nghiên cứu, nhận thức con người. Đạo, Tâm, Chí đưa thơ văn nhà nho vào một lược đồ, làm nên tính chất công thức, khuôn sáo, ép thực tại vào khuôn khổ của đạo chứ không lấy thế giới hiện thực làm đối tượng nhận thức. Cái cười - bằng chứng của một tư duy linh hoạt, uyển chuyển, của óc quan sát tinh tế, sắc sảo - do đó mà xa lạ với nhà nho. Không phải ngẫu nhiên ở cuối thế kỷ XIX, khi Nho giáo bị sụp đổ từng mảng lớn trước những chấn động văn hoá do sự hiện diện của nền văn hoá kỹ thuật phương Tây, cái cười đã mau chóng đi vào sáng tác văn học nhà nho. Không phải ngẫu nhiên Nguyễn Khuyến, Tú Xương lại có những dấu hiệu của nhà thơ trào phúng. Sự tan vỡ của Nho giáo sẽ kéo theo sự tan vỡ của một phương thức tư duy văn học” (tr.128)...

Khi đi vào phân tích, lý giải các tác gia, tác phẩm, hiện tượng văn học cụ thể, Trần Nho Thìn thường xây dựng các điểm tựa chắc chắn trên cơ sở một luận đề lý thuyết, một hệ thống chứng cứ, một mối quan hệ xác thực, "nói có sách, mách có chứng". Trong phần hai Tiếp cận văn hóa với một số tác giả, tác phẩm tiêu biểu gồm 11 mục bài, ông đi sâu tìm hiểu bi kịch tinh thần nhà nho với tính cách là một nhân vật văn hóa, xem xét Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi dưới ánh sáng loại hình học văn hóa trung đại, nhận diện thơ Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Khuyến từ những biến động trong nguyên tắc phản ánh thực tại của văn chương nhà nho và sự gián cách bởi tâm thế văn hóa tiếp nhận của con người hiện. Đối với kiệt tác Truyện Kiều, ông khảo sát tính luận đề để xác định vấn đề có hay không chủ nghĩa hiện thực, đặt hệ thống nhân vật như là đối tượng tiếp cận của nhân học văn hóa và nhìn nhận hiện tượng Nguyễn Du như là bước tiến từ chủ nghĩa dân bản đến nhân bản. Việc dẫn giải tác phẩm Quá Tần luận của Giả Nghị (200-168 TCN) góp phần làm rõ hơn những ảnh hưởng của tư tưởng chính trị Trung Quốc cổ đại đến văn học trung đại Việt Nam và việc đối sánh Thế thuyết tân ngữ của Lưu Nghĩa Khánh (403-444) đã cho thấy dấu vết nguồn mạch trào lưu chủ tình trong nền văn học dân tộc giai đoạn thế kỷ XVIII-XIX.

Việc nghiên cứu truyền thống văn hóa - văn học dân tộc trước sau cũng là nhằm ôn cũ để biết mới, học xưa là vì nay, hướng tới xây dựng nền văn hóa mới đậm đà bản sắc dân tộc. Việc người viết chủ ý đặt thêm nhiệm vụ khảo sát văn học đầu thế kỷ XX nhìn từ văn hóa trung đại chính là nhằm chỉ ra những bước tiếp nối và phát triển của nền văn học dân tộc, hướng mở từ quĩ đạo khu vực tới nền văn học toàn thế giới. Có thể nói công trình khảo cứu của Trần Nho Thìn đã góp phần mở rộng con đường tiếp cận văn học trung đại, nâng cấp một hướng nghiên cứu chuyên sâu và phục vụ thiết thực công tác giáo dc, đào to, nghiên cu văn hóa - văn hc dân tc.

La Sơn

---------

(*) Khảo luận của Trần Nho Thìn. NXB Giáo dục, H, 2007; 720 trang

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác