"Tuyển tập nghiên cứu, phê bình" của Trương Tửu và công việc còn ở phía trước

Giáo sư, Nhà văn, Nhà giáo Trương Tửu (1913-1999) là một nhà trí thức yêu nước đã có nhiều đóng góp cho hoạt động nghiên cứu, phê bình văn học Việt Nam hiện đại. Ngay từ khi còn ở tuổi thanh niên, từ năm 1927 ông đã nhiều lần tham gia phong trào yêu nước và bị đuổi học; sau tham gia viết sách báo lại bị cấm đoán, bị tịch thu, bị xử phạt và phải đổi bút danh vì tinh thần chống chính quyền thực dân phong kiến. Điều quan trọng hơn, qua thử thách của thời gian, các công trình nghiên cứu, phê bình của ông vẫn đứng vững và ngày càng khẳng định vị thế quan trọng trong nền văn học hiện đại.

Bộ sách Trương Tửu- Tuyển tập nghiên cứu, phê bình (Nguyễn Hữu Sơn - Trịnh Bá Đĩnh sưu tập, giới thiệu. NXB Lao động, H, 2007; 1088 trang) đã đến tay bạn đọc. Bên cạnh việc kế thừa nguồn văn bản từ các công trình biên soạn đi trước, đây là lần đầu tiên các tác phẩm quan trọng nhất của Trương Tửu được xuất hiện một cách hệ thống: Uống rượu với Tản Đà (Phê bình và định giá một thi sĩ đại biểu cuối cùng của thơ cũ Việt Nam - 1939), Kinh thi Việt Nam (1940), Tâm lý và tư tưởng nguyễn Công Trứ (1943), bộ ba Nguyễn Du và Truyện Kiều (1942) - Văn chương Truyện Kiều (1945) - Truyện Kiều và thời đại Nguyễn Du (1956), Mấy vấn đề văn học sử Việt Nam (1958)... Xin đơn cử ý kiến đánh giá của nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân về ý nghĩa của cuốn sách mở đầu: "Uống rượu với Tản Đà có lẽ là cuốn sách về Tản Đà ra mắt sớm nhất, ngay khi nhà thơ Nguyễn Khắc Hiếu còn tại thế... Cuốn sách ra đời ngay hồi đầu năm 1939... Ít nhất, bạn có thể đồng ý với tôi: đây là một văn bản hiếm và quý" (tr.54); hoặc nhận xét của chúng tôi về công trình nghiên cứu cuối cùng của họ Trương: "Mấy vấn đề văn học sử Việt Nam (1958) lại là một nỗ lực quan trọng của Trương Tửu trong việc tự ý thức về tiến trình lịch sử văn học dân tộc. Tính cho đến tận hôm nay, đây vẫn là công trình chuyên sâu duy nhất bàn về quan niệm và phương pháp văn học sử, những thành phần cấu tạo và việc phân kỳ các giai đoạn văn học sử Việt Nam" (tr.16)...

Bên cạnh hoạt động sáng tác với 12 tiểu thuyêt, truyện ngắn và nghiên cứu văn hóa - văn học dân gian, văn học trung đại, Trương Tửu ng gắn bó chặt chẽ với phê bình văn chương đương đại. Ngay từ năm 1931, khi vừa tròn 18 tuổi, ông đã thử sức viết Triết lý Truyện Kiều in trên Đông Tây tuần báo. Mấy năm sau, trên báo Loa, Trương Tửu phác vẽ chân dung nhiều tác gia nổi tiếng trên văn đàn lúc bấy giờ như Tản Đà, Hoàng Ngọc Phách, Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng... Đặc biệt ông đi sâu phân tích, xác định phong cách và so sánh ba tác phẩm Tố Tâm (Hoàng Ngọc Phách) - Nửa chừng xuân (Khái Hưng) - Đoạn tuyệt (Nhất Linh) rồi đi đến kết luận: "Tóm lại, chủ nghĩa cá nhân, với Tố Tâm, chỉ là một cảm tính. Với Nửa chừng xuân, nó thành một lý tưởng. Đến lúc Đoạn tuyệt ra đời, nó đã nghiễm nhiên là một nguyên lý sinh hoạt (un principe de vie). Dưới ngòi bút Song An, cá nhân không muốn sống với cái cũ. Ở Khái Hưng nó không chịu quay lại cái cũ. Với Nhất Linh nó không thể đứng bên cạnh cái cũ"... Vận dụng những thuật ngữ và phương pháp địa - văn hoá hiện đại, Trương Tửu đưa ra những cách hình dung và lý giải mới mẻ về nghệ thuật tả cảnh ở ba cây bút tiêu biểu: "Ông Thế lữ để cảnh sắc xúc động giác quan nhưng biết tự chủ không bị cuốn vào thiên nhiên. Trái lại, ông Lan Khai mê đắm cảnh vật như mê một tình nhân. Ở Thế Lữ cái rung động của giác quan truyền lên trí nên ông tả được bình tĩnh; ở Lan Khai nó truyền vào tâm nên ông tả mung lung hồi hộp. Lối tả cảnh của Thế Lữ có tính cách kỳ thú (pittoresque). Lối tả cảnh của Lan Khai có tính cách xúc cảm (émotionnel). Còn ở Lưu Trọng Lư cảnh vật mượn cảm giác chạy ngay vào cái nội quan trong tâm giới, tức là trí tưởng tượng. Nên ông thích vay của tạo hoá những cảnh hoang lương để sống những phút thần tiên ngây ngất. Lối tả cảnh của Lưu Trọng Lư có tính cách thần bí (mystique)... Ba cái khác nhau ấy chỉ là ba sông nhánh của một nguồn cảm giác. Mà căn do của sự chia rẽ là ảnh hưởng của hoàn cảnh. Ông Thế Lữ, quê ở Lạng Sơn, một nơi có nhiều rừng rú thâm u, núi cao chót vót, thường hàng ngày giao thiệp với những dị đoan, kỳ tích của một giống người mọi rợ. Nên ông thích tả những cảnh khủng khiếp mà tạo vật hình như chỉ bày ra để lồng khung một cái sinh hoạt hãi hùng. Ông Lan Khai lại được làm quen với một cảnh sơn dã dễ yêu đã có in dấu vết của phần nhân loại văn minh. Quê ở Tuyên Quang, ông sống chung với dân Thổ, dần dần cảm được cái thi vị của thứ sinh hoạt bình dị ấy. Rồi cầm bút viết văn, ông chỉ ca tụng cái vẻ thơ của một cảnh sơn lâm đầm ấm trong địa hạt của nó. Ông Lưu Trọng Lư được may mắn sinh ở tỉnh Quảng Bình, chốn đầy những núi non hùng vĩ. Sông Ngân uốn lượn trong bụi lá chòm gai. Trong cảnh thần tiên này, trí tưởng tượng của ông tự nhiên bầy ra những cuộc đời thoát tục. Tiểu thuyết của ông Lư thường chỉ là những mộng cảnh làm sảng khoái một thi nhân... Tóm lại, nhờ có thiên tài được hoàn cảnh rèn luyện, lại chịu ảnh hưởng của văn Pháp, ba nhà văn Thế Lữ, Lan Khai, Lưu Trọng Lư đã cách mệnh lối tả cảnh trong văn học Việt Nam hiện đại"... Xem đó thì thấy Trương Tửu đã có công trong việc chuyển từng đốm lửa phê bình phương Tây khoa học và hiện đại, góp phần làm mới nền phê bình văn chương giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám.

Từ sau năm 1945 cho đến cuối những năm 50, phê bình của Trương Tửu vẫn theo tinh thần "khách quan và "khoa học" như vậy. Nhập cuộc cùng nhân dân trong kháng chiến chống Pháp, Trương Tửu sớm băn khoăn với câu hỏi về đích đến của thơ Việt: "Chúng ta đã có nhiều bài văn vần kháng chiến. Chúng ta đã có nhiều bài ca kháng chiến. Chưa có những bài thơ kháng chiến. Ba loại ấy khác hẳn nhau, không thể gói ghém sô bồ làm một được. Khác ở quan điểm, khác ở cơ cấu, khác ở kỹ thuật, khác ở công dụng. Muốn nói chuyện thơ cho đứng đắn, trước hết phải nhận định thật rõ sự khác nhau đó"... Tuy nhiên, dường như Trương Tửu không có điều kiện triển khai sâu hơn những tham vọng học thuật theo kiểu cách riêng trước đây. Ông trở lại với công việc "kháng chiến kiến quốc" vốn là nhiệm vụ số một của toàn dân tộc, trực tiếp tham gia giảng dạy lớp Dự bị đại học và Đại học Sư phạm (1952-1955). Trong hoàn cảnh kháng chiến, ông viết Văn nghệ bình dân Việt Nam (1951), một mặt phê phán dòng văn nghệ quý tộc; mặt khác đề cao bộ phận văn chương bình dân và tập trung giới thiệu ba tác gia tiêu biểu: Hồ Xuân Hương - Nguyễn Khuyến - Tú Xương. Có điều, với quan điểm giai cấp, ông cho rằng họ thuộc lớp người "muốn nhờ khoa cử leo lên địa vị quan liêu quý tộc" nhưng do hoàn cảnh nên đã "quay lại liên minh với bình dân" và "xét chung thì họ đã tiêu biểu được một phần nào ý thức thiên tư nghệ thuật của bình dân"...

Sau hoà bình lập lại, Trương Tửu tiếp tục giảng dạy văn học và viết bài cho tập san Đại học Sư phạm, Giai phẩm mùa thu, Giai phẩm mùa đông... Theo xu thế chung, ông cho xuất bản sách Truyện Kiều và thời đại Nguyễn Du (1956), trong đó ông tỏ ý triệt để tự phê bình "đã có những nhận định sai lầm căn bản" ở hai chuyên khảo trước đây (Nguyễn Du và Truyện Kiều, Văn chương Truyện Kiều) - một tinh thần tự giác phê bình mà người đương thời vị tất có mấy ai hiểu vấn đề bằng ông. Thêm nữa, nếu như Truyện Kiều và thời đại Nguyễn Du tồn tại như một bằng chứng cho văn học sử và thực trạng một giai đoạn vận dụng máy móc các quan điểm đấu tranh giai cấp vào nghiên cứu văn học thì công trình Mấy vấn đề văn học sử Việt Nam (1958) lại là một nỗ lực quan trọng của Trương Tửu trong việc tự ý thức về tỉến trình lịch sử văn học dân tộc. Tính cho đến tận hôm nay, đây vẫn là công trình chuyên sâu duy nhất bàn về quan niệm và phương pháp văn học sử, những thành phần cấu tạo và việc phân kỳ các giai đoạn văn học sử Việt Nam...

Mặc dù có những đóng góp nhất định song chúng tôi vẫn lấy làm tiếc rằng loạt bài trong mục Văn học Việt Nam hiện đại in trên báo Loa (1935) vẫn chưa sưu tập được đầy đủ; tiếng nói cảnh báo sâu sắc trong Thơ Việt sẽ đi tới đâu? (1948) thiếu mất phần đầu; các tập tiểu luận Tương lai văn nghệ Việt Nam (1945), Phương pháp phê bình văn học, 40 năm văn học Việt Nam cận đại (1948) và bài Bệnh sùng bái cá nhân trong văn nghệ (1956) đều chưa được hiện diện trong tuyển tập lần này. Hy vọng trong những năm tới đây, đặc biệt nhân kỷ niệm 100 năm sinh Trương Tửu (1913-2013), chúng ta sẽ có được bộ sưu tập các tác phẩm của ông đầy đủ hơn,- bên cạnh phê bình văn học còn bao gồm cả các công trình nghiên cứu lịch sử - văn hóa khác nữa. Nhân đây, chúng tôi rất mong giới nghiên cứu và bạn đọc chỉ giúp cho những tư liệu còn thiếu khuyết.

PGS.TS Nguyễn Hữu Sơn

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác